MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục viết tắt
v
Danh mục bảng
vi
Danh mục hình, biểu đồ
vii
Mở đầu
1
Chương 1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
1.3.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
10
1.4. Thực trạng khai thác, sử dụng trà hoa vàng ở Việt Nam và trên thế giới.
15
1.4.1. Thực trạng khai thác, sử dụng Trà hoa vàng ở Việt Nam.
15
1.4.2. Thực trạng khai thác, sử dụng Trà hoa vàng trên Thế giới.
15
Chương II Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
17
2.1. Đối tượng nghiên cứu
17
2.2. Phạm vi nghiên cứu
17
2.3. Nội dung nghiên cứu
22
Chương III Kết quả và thảo luận
26
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
26
3.1.1. Điều kiện tự nhiên
26
3.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội
32
3.2. Xác định phạm vi phân bố của loài trà hoa vàng Hakoda (Camelia
hakodae ninh)
34
3.3. Đánh giá tình hình sinh trưởng, tái sinh tự nhiên của loài trà hoa vàng
hakoda (Camelia Hakodae ninh) tại vườn quốc gia tam đảo
35
3.3.1. Tình hình sinh trưởng
52
3.6. Công tác quản lý bảo tồn đa dạng sinh học nói chung ở VQG Tam Đảo
55
3.7. Thử nghiệm nhân giống bằng hom loài trà hoa vàng Hakoda (Camelia
Hakodae ninh)
58
3.8. Đề xuất giải pháp bảo tồn, phát triển loài trà hoa vàng Hakoda (Camelia
Hakodae ninh)
63
3.8.1. Giải pháp kỹ thuật
63
3.8.2. Giải pháp quản lý
63
Kết luận – kiến nghị
65
Tài liệu tham khảo
Quản lý bảo vệ rừng
VQG
Vườn Quốc Gia
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
DANH MỤC BẢNG
STT
Tên bảng
Trang
3.1
Số liệu khí tượng của các trạm trong vùng
30
3.2
Thống kê thành phần các dân tộc
32
45
3.7
Điều kiện sinh khí hậu
46
3.8
Mô tả các phẫu diện đất
49
3.9
Kết quả phân tích lý – hóa tính của đất
50
3.10
Độ tàn che, che phủ của thảm tươi cây bụi và thảm khô
51
3.11
Mức độ khai thác hoa, lá Trà hoa vàng phục vụ sinh hoạt và đem
Page vi
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
STT
Tên hình
Trang
3.1
Bản đồ Vườn quốc gia Tam Đảo
26
3.2
Địa hình, địa mạo
27
3.3
Trạng thái rừng có Trà hoa vàng Hakoda phân bố
35
3.5
Mức độ khai thác hoa, lá Trà hoa vàng phục vụ cho sinh hoạt và đem
án theo kinh tế hộ của các hộ điều tra
54
3.6
Ảnh hưởng của thuốc NAA và các nồng độ
61
3.7
Ảnh hưởng của thuốc IBA và các nồng độ
62
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đánh giá hiện trạng phân bố của các loài cây rừng, đặc biệt là các loài cây
bản địa để làm cơ sở khoa học cho việc quản lý rừng bền vững, phát triển và kinh
doanh rừng. Không chỉ các loài cây lấy gỗ mà còn tập trung nghiên cứu sử dụng và
quả. Sở dĩ Trà hoa vàng có nhiều công dụng như vậy là vì trong thành phần của
nó có chứa các nguyên tố như Se, Ge, Mo, Mn, V, Zn và một số nguyên tố khác
có tác dụng trong việc bảo vệ sức khỏe, ngăn ngừa ung thư, củng cố tính đàn hồi
của thành mạch, điều hoà các enzyme hoạt hoá cholesterol…
Để góp phần nâng cao nhận thức, hiểu biết đúng cho người dân bản địa.
Cũng như tìm hiểu những giá trị của những loài cây quý bản địa phục vụ công tác
nghiên cứu bảo tồn, ứng dụng và phát triển nguồn gen quý, được sự hướng dẫn
khoa học của PGS.TS Đoàn Văn Điếm, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Đánh giá hiện trạng phân bố và đề xuất giải pháp bảo tồn, phát triển loài Trà
Hoa vàng Hakoda (Camellia hakodae Ninh)”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu hiện trạng phân bố, đặc điểm sinh thái, sinh trưởng và khả
năng nhân giống bằng hom loài Trà hoa vàng Hakoda (Camellia hakodae Ninh).
Từ đó đề xuất biện pháp bảo tồn và phát triển bền vững loài Trà hoa vàng.
3. Yêu cầu của đề tài
Từ các nội dung nghiên cứu cần phân tích được sự ảnh hưởng của các
nhân tố ngoại cảnh đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây Trà hoa vàng
Hakoda ở khu vực nghiên cứu từ đó đưa ra các giải pháp nhằm bảo tồn và phát
triển bền vững loài Trà hoa vàng Hakoda này.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
Rất đáng mừng trong nhiều thập kỷ gần đây các vấn đề liên quan đến đa
dạng sinh học được nhiều cơ quan và các nhà nghiên cứu sinh học chú ý. Nhiều
công trình nghiên cứu liên quan đến đa dạng sinh học tại Tam Đảo được công bố.
Các kết quả liên quan đến nhiều đối tượng thuộc các ngành sinh học khác nhau
và được công bố trong nhiều công trình khác nhau. Theo ước tính của nhiều nhà
thực vật khu hệ thực vật VQG Tam Đảo gồm khoảng 1200 loài thực vật bậc cao
thuộc 478 chi của 176 họ. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu thực vật ở VQG
Tam Đảo chỉ dùng ở mức thống kê các loài, phân bố của một số loài có giá trị
chứ chưa có một công trình nào đề cập chi tiết của một đơn vị phân loại cụ thể
nào. Từ năm 1997 đến nay có đề tài đã tiến hành nghiên cứu các loài Trà hoang
dại của Việt Nam nói chung và Vườn quốc gia Tam Đảo nói riêng, phát hiện
nhiều loài Trà mới cho khoa học chỉ gặp ở VQG Tam Đảo. Hơn thế nữa trong số
các loài Trà mới gặp ở Tam Đảo lại có nhiều loài Trà hoa vàng, một nguồn gen
vô cùng quý hiếm chỉ gặp ở các tỉnh Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam. Tuy
nhiên hầu hết chưa được nghiên cứu về các đặc điểm sinh thái, sinh trưởng và
khả năng tái sinh của chúng. Vì thế việc khai thác, kinh doanh lợi dụng rừng còn
gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt là việc nghiên cứu sử dụng và bảo tồn bền vững
các loài cây đặc hữu, quý hiếm và sự phong phú về đa dạng sinh học trong khu
hệ thực vật Tam đảo, điển hình trong đó là loài Trà hoa vàng Hakoda(Camellia
hakodae Ninh). (Trần Ninh, 2000).
Ngày nay khi điều kiện kinh tế ngày càng phát triển, cuộc sống của con
người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu về giải trí, thẩm mỹ, thưởng thức về
cái đẹp cũng được con người và xã hội chú trọng hơn và ngày càng trở nên cần
thiết vì nó làm cho cuộc sống của con người trở nên tươi đẹp hơn và thỏa mãn nhu
cầu thư giãn.
mm, do độ che phủ của thảm thực bì và tầng thảm mục rất dày nên lượng nước
dư thừa tồn đọng lại trong đất, lớp thảm thực bì và tầng thảm mục nhiều có tác
dụng rất quan trọng trong việc giữ nước, chống xói mòn, bảo vệ đất, tạo điều
kiện thuận lợi cho cây rừng sinh trưởng, phát triển trong đó có cá thể Trà hoa
vàng đặc hữu của Tam Đảo và của Việt Nam (Camellia hakodae Ninh). Hiện nay
mới chỉ phát hiện loài này ở Vườn quốc gia Tam Đảo và là loài đặc hữu của Việt
Nam. (Trần Ninh, 2000)
1.2.2. Giá trị của đối tượng nghiên cứu
* Giá trị thẩm mỹ
Trà hoa có nhiều nét đẹp đoan trang, sắc sảo lại thanh khiết, tao nhã. Người
Trung Quốc xem Trà hoa là một trong 10 loại hoa có tiếng (Thập đại danh hoa).
Ở Việt Nam, từ xưa đã coi Trà là loại cây quý phái. Hoa Trà to đẹp, nhiều
màu sắc, mùa hoa dài và đặc biệt thường nở vào mùa đông cho đến mùa xuân.
Nhiều người quan niệm nếu có Trà nở vào dịp Tết âm lịch thì năm đó có nhiều
may mắn. Hoa đã đẹp lại nở vào mùa đông nên càng sáng giá.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
Trà hoa vàng Hakoda là loài thuộc chi Chè, là loài cây có hình thái thân,
lá, hoa đẹp, lâu tàn lại nở đúng dịp xuân về nên người dân đã khai thác về trồng ở
nhà làm cây cảnh, là những loài cây rất được ưa chuộng ở Trung Quốc, Việt Nam
và cho đến bây giờ là cả thế giới. (Chu Tương Hồng, 1993)
* Giá trị kinh tế
Tài liệu nghiên cứu của nước ngoài đã xác định trong lá, hoa, quả của Trà
hoa vàng có chứa rất nhiều nguyên tố vi lượng như Germannium (Ge), Selenium
(Se), Mangan (Mn), Molypden (Mo), Kẽm (Zn), … đặc biệt là Germannium (Ge)
và Selenium (Se) có hàm lượng tương đối cao. Ge có hoạt tính sinh lý cao, có thể
loài, nhiều tầng trong các đai rừng phòng hộ đầu nguồn đang có yêu cầu hiện
nay. Cây này lá nhiều, dễ phân giải, có tác dụng giữ nước và cải tạo đất tốt. (Chu
Tương Hồng, 1993)
1.2.3. Vấn đề bảo tồn loài Trà hoa vàng trong nước và trên thế giới
* Trong nước
PGS - TS Trần Ninh (giảng viên Đại học Quốc gia Hà Nội) đã cùng các
cộng sự phát hiện một loài trà hoa sắc vàng tươi trong khu rừng của TP. Đà Lạt
(hiện chưa thể tiết lộ vị trí cụ thể).
Cây hoa trà (Camellia) với sắc hoa màu vàng là loài quý hiếm (hiện mới
chỉ phát hiện được tại Việt Nam và Trung Quốc), có giá trị kinh tế và y dược rất
cao. Trà hoa vàng có nguy cơ tuyệt chủng nên việc phát hiện thêm những quần
thể mới là tín hiệu vui không chỉ với giới nghiên cứu. Sau khi chụp ảnh, thu mẫu
để giám định cho thấy loài trà hoa này có những đặc điểm khác biệt với các loài
đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới phát hiện, mô tả và công bố trước đây.
Loài trà hoa vàng quý hiếm ở xứ sở ngàn hoa này sẽ được đặt tên, công bố trong
thời gian tới.
Theo TS Ninh, tại thị trấn Mađagui (Đạ Huoai) có người đã sưu tầm được
cây trà hòa vàng thuộc loài Camellia Dormoyana – loài trà hoa vàng đầu tiên
được phát hiện trên thế giới vào thập kỷ XX. Điều thú vị là Camellia Dormoyana
được người pháp phát hiện ngay tại Việt Nam (tỉnh Đồng Nai) và đã được công
bố trên Thực vật chí Đông Dương (Trần Ninh, 2000).
Đến năm 2003, ông Nguyễn Thiện Tịch (ĐH KHTN ĐHQG TPHCM)
cũng đã tìm thấy một loài trà có hoa màu vàng đậm rất đẹp tại Lâm Đồng. Mới
đấy giới nghiên cứu cũng đã ghi nhận sự xuất hiện của Camellia Dormoyana tại
Vườn quốc gia Nam Cát Tiên (Tran Ninh, Hakoda Naotoshi Kirino Shuho, 2009).
Ở Việt Nam đã phát hiện Trà hoa vàng gần một thế kỷ nhưng công tác bảo
tồn chưa được chú ý, việc nghiên cứu ứng dụng hầu như còn bỏ ngỏ - TS Ninh
khuyến cáo không chỉ 2 loài Trà hoa vàng có tên trong Sách đỏ Việt Nam mà hàng
chục loài trà hoa vàng khác đều trong tình trạng nguy cấp. Do đó nơi nào phát hiện
được thì bảo tồn. Không để xảy ra tình trạng khi những cây Trà hoa vàng quý hiếm
giống và hỗ trợ kỹ thuật chăm sóc cây Trà hoa vàng cho các hộ dân ở Tam Đảo
nhằm nhân rộng nguồn gen quý hiếm này, đưa Trà hoa vàng trở thành loài cây làm
giàu cho các hộ dân ở đây. (Việt Hưng, 2014)
* Trên thế giới
Hiện tại mới chỉ có Trung Quốc đã xây dựng Vườn Camellia Quốc tế;
trồng nhân tạo vùng trà hoa vàng nguyên liệu rộng hàng chục hécta; nghiên cứu
thành công các chế phẩm và sản xuất, xuất khẩu hàng loạt dược liệu và thực
phẩm chức năng làm từ trà hoa vàng như Superior tea, Golden Camellia. (Trần
Ninh,2000)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
1.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÂY TRÀ HOA VÀNG
1.3.1. Tình hình nghiên cứu trên Thế giới
Theo sử liệu, thì vào thế kỷ XVIII, khi Anh chiếm Hồng Kông và nhiều
thành phố lớn khác tại Trung Hoa như Thiên Tân, Thượng Hải, Quảng Châu,...đã
du nhập tập tính uống Trà của người Tàu về bản quốc. Hàng tháng để kịp có Trà,
nhiều cuộc đua gọi là Đua Trà, bằng thuyền buồm chở các loại Trà quý từ Trung
Hoa sang London rất hào hứng.
Trong những thập niên đầu của thế kỷ XX nhà sưu tập G.Forest của vườn
thực vật Hoàng gia Anh vào Vân Nam đã thu thập hạt các loài Trà Camellia
Resculata, Camellia Saluenensis, …về trồng (Chu Tương Hồng, 1993).
Tình hình nghiên cứu ở Châu Á:
Trung Quốc là nước đi đầu trong nghiên cứu ứng dụng cây Trà vào nghệ
thuật cây cảnh, làm thuốc và đồ uống.
Trong một công trình nghiên cứu về Trà hoa vàng, hai nhà khoa học khác
của Trung Quốc là Chen Jihui và Wu Shurong đã đưa ra các kết luận và bằng
Trà vào Nhật Bản thế kỷ thứ VI, Hòa Thượng Huimeng (638-713) truyền
Phật Giáo từ Trung Hoa sang Đại Hàn vào Nhật Bản và phát triển mạnh trong
thời Nara Zeit (710-794). Trà du nhập vào cùng giai đoạn trên, nhưng đến thời
Hoàng đế Shômu thế kỷ thứ VIII trà dùng phổ thông hơn. Kế tiếp qua nhiều triều
đại văn hóa phát triển. Thượng phụ Murato Shuko (1422-1502) biến chế trà xanh
(Matcha) thường dùng trong các Chùa và các Hiệp sĩ đạo (Samurai). Đến đời sư
phụ Sen-No Rikyu (1522-1591) được nâng lên một nghệ thuật, trở thành nghi
thức uống trà (Tea ceremony/ Chanoyu) khởi đầu tại Daitoku-Ji-Tempel (Trần
Ninh, 1998).
1.3.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Theo thư tịch cổ Việt Nam, cây chè đã có từ xa xưa dưới 2 dạng: cây chè
vườn hộ gia đình vùng châu thổ Sông Hồng và cây chè rừng ở miền núi phía bắc:
cây chè Suối Giàng.
Lê Quý Đôn trong sách “ Vân Đài loại ngữ ” (1773) có ghi trong mục IX,
Phẩm vật như sau: “…Cây chè đã có ở mấy ngọn núi Am Thiên, Am Giới và Am
Các, huyện Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hoá, mọc xanh um đầy rừng, thổ nhân hái lá
chè đem về giã nát ra, phơi trong râm, khi khô đem nấu nước uống, tính hơi hàn,
uống vào mát tim phổi, giải khát, ngủ ngon. Hoa và nhị chè càng tốt, có hương
thơm tự nhiên…”.
Năm 1882, các nhà thám hiểm Pháp đã khảo sát về sản xuất và buôn bán chè
giữa sông Đà và sông Mê Kông ở miền núi phía Bắc Việt Nam, từ Hà Nội ngược
lên cao nguyên Mộc Châu, qua Lai Châu; đến tận Ipang, vùng Xípxoongpảnnả (Vân
Nam), nơi có những cây chè đại cổ thụ (Lê Mộng Chân, 1992).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
Sau những chuyến khảo sát rừng chè cổ ở tỉnh Hà Giang Việt Nam (1923),
một số loài Trà hoa tại Vườn quốc gia Ba Vì – Hà Tây (nay là Hà Nội) đã cho
thấy ở Vườn quốc gia Ba Vì có hai loài Camellia có triển vọng thuần hóa làm
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
cây cảnh. Phần lớn những loài này đều phân bố ở độ cao trên 600m, nơi có tầng
đất dày, xốp ẩm, hơi chua dưới tán rừng, là các loài sinh trưởng chậm, chịu bóng
nhạy cảm với điều kiện ngoại cảnh nên cần có kỹ thuật tốt. Tuy nhiên GS.TS
Ngô Quang Đê đã di thực thuần hóa thành công 2 loài: Trà hoa thơm Ba Vì
(Camellia vietnamensis) và Trà hoa vàng Ba Vì (Camellia tonkinensis (Pitard)
Cohen Stuart) tại vườn ở Xuân Mai – Chương Mỹ - Hà Nội, hiện 2 loài này sinh
trưởng phát triển tốt đồng thời cho hoa đẹp vào dịp xuân về. Hiện nay đó cũng là
một trong số rất nhiều loài Trà hoa mà GS.TS Ngô Quang Đê đã thuần hóa trồng
thành công tại vườn Trà của mình.
Ngô Quang Đê, Ngô Quang Hưng và Lê Sỹ Doanh với nghiên cứu khảo sát
điều kiện sống của Trà hoa vàng tại Ba Vì – Hà Tây và Sơn Động – Bắc Giang
đã đánh giá được điều kiện sống cũng như các đặc điểm hình thái sinh thái đặc
trưng của hai loài Trà hoa vàng Ba Vì (Camellia tonkinensis (Pitard) Cohen
Stuart) và Trà hoa vàng Sơn Động (Camellia euphlebia Merret Sealy var.
microphylla) (Ngô Quang Đê, 1996).
Hoàng Minh Chúc và Bùi Văn Khánh đã nghiên cứu hình thái, sinh thái,
sinh trưởng của 2 loài Camellia hoa trắng và Camellia hoa vàng tại Vườn quốc
gia Ba vì – Hà Tây. Tuy nhiên 2 tác giả mới chỉ dừng lại ở việc điều tra tổ thành
loài cây, xác định quan hệ của loài với môi trường sống thông qua yếu tố khí hậu
tại khu vực phân bố của loài nghiên cứu (Hoàng Minh Chúc, 1996).
Năm 1997, nghiên cứu của Lê Xuân Trường về đặc điểm hình thái, sinh
thái, sinh trưởng của loài Camellia hoa vàng tại Sơn Động – Bắc Giang. Nghiên
Ninh và Camellia tamdaoensis Ninh et Hakodae.
Năm 2008 PGS.TS Trần Ninh và đồng nghiệp đã thu thập được ở Tam Đảo
3 loài Trà trong đó có 2 loài Camellia hirsute Hakodaet Ninh; Camellia phanii
Hakodaet Ninh lần đầu tiên ghi nhận có ở VQG Tam Đảo cùng với 1 loài Trà
mới cho khoa học. Tính đến nay 17 loài Trà được ghi nhận có ở VQG Tam Đảo.
(Tran Ninh, Hakoda Naotoshi Kirino Shuho, 2009)
Nghiên cứu và tìm hiểu về Trà hoa vàng và chi Camellia ở Việt Nam còn
chưa được toàn diện và đồng bộ, chưa có một hệ thống phân loại đầy đủ và chi
tiết. đặc biệt với việc tìm hiểu về các đặc điểm, đặc tính sinh vật học của loài thì
mới chỉ tiến hành được ở một số loài ở trên một số địa điểm nhất định. Các
nghiên cứu còn chưa sâu và đồng bộ, chưa đề cập đến biện pháp chọn giống,
nhân giống để bảo vệ, bảo tồn ngồn gen của các loài có giá trị kinh tế và giá trị
thẩm mỹ cao. Do đó việc nghiên cứu bổ sung về các đặc điểm sinh thái, phân
loại, chọn giống và nhân giống để từng bước góp phần đáp ứng nhu cầu sử dụng
ngày càng tăng về các giá trị của Trà hoa vàng cũng như chi Camellia, bên cạnh
đó xác định biện pháp cụ thể trong việc khai thác, sử dụng một cách hợp lý và
phát triển bền vững. Đặc biệt là đối với loài Trà hoa vàng đặc hữu quý hiếm của
Tam Đảo (Camellia hakodae Ninh) (Trần Thị Phương Anh, 1995).
Ở Việt Nam, Trà hoa vàng có thể tìm thấy tại các tỉnh trung du và miền núi
phía Bắc nước ta như Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Yên Bái, Lào Cai…, chúng thường
mọc ở độ cao 300 - 800m so với mặt biển, phần lớn là trong rừng thứ sinh, xen
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
giữa các nương rẫy, ở một số địa hình quá dốc hoặc nhiều đá lộ đầu, ven khe suối
cạn (Sơn Tùng, 2008).
Mặc dù đã phát hiện Trà hoa vàng gần một thế kỷ nhưng đến nay công tác
Page 14
1.4. THỰC TRẠNG KHAI THÁC, SỬ DỤNG TRÀ HOA VÀNG Ở VIỆT
NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI.
1.4.1. Thực trạng khai thác, sử dụng Trà hoa vàng ở Việt Nam.
Trước đây người ta chỉ biết trà hoa vàng nấu lấy nước uống ngon, người
khoẻ mạnh ăn được nhiều cơm, đêm ngủ ngon giấc. Ngày nay, trà hoa vàng được
các nhà khoa học chứng minh có khả năng kiềm chế được sự sinh trưởng của
khối u, giảm cholesterol trong máu, chữa xơ cứng động mạch do lượng mỡ trong
máu cao, giúp hạ đường trong huyết áp. Bởi vậy giá hoa trà rất cao, hiện bán trên
thị trường là 15 triệu đồng/kg hoa khô.
Có một thời người dân các xã vùng cao ở Tam Đảo đổ xô vào rừng để tìm
trà hoa vàng, họ đào rễ bán cả cây cho thương lái thu gom mang sang bên kia
biên giới. Để tránh người dân khai thác mang tính huỷ diệt, một số hộ ở các xã đã
đứng ra bao tiêu thu mua cây trà để tránh thất thoát ra nước ngoài, mất giống trà
quý ở Việt Nam.
Chi Trà ở VQG Tam Đảo có 16 loài và 01 thứ chiếm 28,0% tổng số loài
Trà hoa vàng của Việt Nam. Trong đó có hai loài: Trà hoa vàng tam đảo
(Camellia tamdaoensis) và Trà hoa vàng pêtêlô (Camellia petelotii) là đặc hữu
của VQG Tam Đảo, đây là các loài có hoa to, màu vàng đậm, óng, rất đẹp. Tuy
nhiên, trong những năm qua, tư thương đã thu gom từ rừng tự nhiên rất nhiều hoa
của hai loài Trà trên để buôn bán, với giá khoảng trên 1.500.000/1kg hoa tươi,
thậm chí buôn bán cả cây tươi với giá 20.000đ/kg,... Sau đó sẽ được xuất khẩu
sang Trung Quốc theo đường tiểu ngạch. Cùng một số nguyên nhân khác, hai
loài Trà hoa vàng này đang có nguy cơ bị tuyệt chủng trong tự nhiên.
1.4.2. Thực trạng khai thác, sử dụng Trà hoa vàng trên Thế giới.
Năm 1610 người Hòa Lan (Hà Lan) mang trà từ Trung Hoa về Âu Châu. Vua
Ludwig XIV, Marquise de pompadour, và Goethe là những người uống trà xanh. Nữ
hoàng Kathrina von Bragaza (1638-1705) con vua Johanns IV Bồ Ðào Nha
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là loài Trà hoa vàng Hakoda (Camellia
hakodae Ninh) tại vườn quốc gia Tam Đảo cùng với các yếu tố sinh thái tại vị trí
có phân bố tự nhiên của loài Trà hoa vàng này.
2.2. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Không gian: Trên toàn bộ Vườn quốc gia Tam Đảo.
- Thời gian: Từ tháng 2/2014 đến tháng 4/2015.
- Giới hạn nghiên cứu: vì thời gian có hạn, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu
các đặc điểm về sinh thái, sinh trưởng và phân bố của loài Trà hoa vàng Hakoda
ở khu vực quản lý của Vườn quốc gia Tam Đảo.
2.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Nhằm đạt được các mục tiêu đặt ra, đề tài tập trung tiến hành nghiên cứu
với các nội dung sau:
- Đánh giá điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu chi phối
tới sự phân bố của cây Trà hoa vàng.
- Thực trạng phân bố của loài trà hoa vàng Hakoda ở vườn Quốc gia Tam
Đảo, Vĩnh Phúc.
- Đánh giá tình hình sinh trưởng, tái sinh tự nhiên của loài Trà hoa vàng
Hakoda (Cameliia hakodae Ninh) tại Vườn quốc gia Tam Đảo.
- Khảo sát môi trường sinh thái phù hợp với loài Trà hoa vàng Hakoda
(Cameliia hakodae Ninh). Công tác quản lý bảo vệ đa dạng sinh học đối với nguồn
tài nguyên thực vật quý hiếm này.
- Thử nghiệm nhân giống bằng hom loài Trà hoa vàng Hakoda (Camellia
hakodae Ninh). So sánh kết quả giữa các công thức thí nghiệm, đánh giá về khả
năng nhân giống bằng hom loài Trà hoa vàng Hakoda.
- Đề xuất các giải pháp quản lý, bảo vệ và phát triển loài Trà hoa vàng
Hakoda tại Vườn quốc gia Tam Đảo, Vĩnh Phúc.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 17
nghiên cứu trên nhiều cá thể ở các giai đoạn tuổi khác nhau trong cùng một hoàn
cảnh sinh thái. Đây là phương pháp thường dùng trong lâm nghiệp để nghiên cứu
rừng tự nhiên, phương pháp này cho kết quả nhanh chóng nhưng độ chính xác
còn chưa cao phụ thuộc vào hoàn cảnh tự nhiên và quá trình thực hiện.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 18
Hiện nay trên thế giới vẫn trong lĩnh vực nghiên cứu đặc điểm sinh vật
học các nhà khoa học vẫn dựa trên các quan điểm sau để nghiên cứu.
− Quan điểm cá thể:
Đại diện cho trường phái này là các nhà khoa học như Ramenski (Nga),
Fournier và Lenoble (Pháp), Whittaker và Brow (Anh), Negri (Ý), Curtis và
Gleason (Mỹ),…cho “loài là thực thể duy nhất trong tự nhiên”, nên những nghiên
cứu thường chỉ tập trung hướng vào cá thể loài, thậm chí là các cá thể trong loài.
Những đặc điểm chung của quần xã, hệ sinh thái được hình thành từ các đặc
điểm cá thể loài dù chúng có tác động, ảnh hưởng hỗ trợ hoặc kìm hãm lẫn nhau
nhưng trong quan điểm này nó không được đề cao.
− Quan điểm quần thể:
Điển hình cho quan điểm này là các nhà khoa học như Sukasop (Nga), Walter
(Đức), Braun và Blanquet (Pháp), Clement (Anh), Pavlovxki (Ba Lan),… Trong
trường phái này lại nhấn mạnh tầm quan trọng của đặc điểm quần thể loài và hệ
sinh thái, hướng nghiên cứu tập trung vào đặc trưng của quần thể loài tạo nên,
không nhấn mạnh vào các đặc trưng cá thể.
− Quan điểm trung lập:
Những nhà khoa học nghiên cứu trong trường phái này lại có tính dung
hòa hai quan điểm cá thể và quan điểm quần thể, không nghiêng về quan điểm
nào mà các nghiên cứu có sự kết hợp của cả 2 quan điểm. đại diện cho quan điểm
Hakoda (Cammellia hakodae Ninh) để thấy được sự sinh trưởng, phát triển của
loài Trà, từ đó có những biện pháp nghiên cứu bảo vệ tạo điều kiện thuận lợi nhất
cho việc bảo tồn, phát triển nguồn gen của loài.
* Điều tra tình hình sinh trưởng tự nhiên
Qua điều tra thực địa chúng tôi thấy cây Trà hoa vàng Hakoda phân bố
nhiều ở các độ cao từ 200-400m vì vậy chúng tôi tiến hành lập 9 ô tiêu chuẩn đại
diện cho khu vực nghiên cứu ở các độ cao khác nhau để đánh giá được khả năng
sinh trưởng và phát triển của chúng, mỗi ô có diện tích 1000 m2 (kích thước 25m
x 40m) tiến hành điều tra, đo đếm hết các cây.
* Mô tả tình hình chung của ô tiêu chuẩn như số thứ tự ô tiêu chuẩn, loại
rừng, đơn vị quản lý, độ dốc, độ cao, diện tích ÔTC.( Xem phụ lục 01)
* Điều tra cây trà hoa vàng Hakoda (Camellia hakodae Ninh) có trong ô tiêu
chuẩn: tiến hành đo đếm tất cả những cây Trà hoa vàng Hakoda có chiều cao lớn
hơn chiều cao cây tái sinh ( Hvn >300cm) có mặt trên ô tiêu chuẩn. Kết quả thu
được ghi vào biểu.
* Để đánh giá được khả năng sinh trưởng phát triển của loài Trà hoa vàng
Hakoda (Camellia hakodae Ninh) bên cạnh những cây bản địa xung quanh nó,
tôi tiến hành điều tra ô tiểu chuẩn 6 cây trong ô tiêu chuẩn nghiên cứu; chọn ra 3
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 20