Áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án
về Hôn nhân và gia đình trên địa bàn Hà Nội
Nguyễn Thị Tâm
Khoa Luật
Luận văn ThS Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật
Mã số 60 38 01 01
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Ngọc Khánh
Năm bảo vệ: 2014
Keywords. Luật hôn nhân và gia đình; Vụ án hôn nhân; Pháp luật Việt Nam.
Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc đổi mới của đất nước ta hiện nay, một trong những nhiệm vụ trọng
tâm là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Muốn xây
dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta cần phải có con người xã hội chủ nghĩa, đó là đòi
hỏi tất yếu khách quan. Nhưng muốn có con người xã hội chủ nghĩa thì phải có một gia đình
mẫu mực, bởi gia đình quyết định một phần rất lớn tới bản chất con người. Gia đình hiện nay
còn được xem là tế bào của xã hội, do vậy muốn có xã hội phát triển và lành mạnh thì cần
phải có các gia đình tốt – gia đình văn hoá mới. Gia đình là cái nôi sản sinh ra con người, nuôi
dưỡng và giáo dục con người cho xã hội, vì vậy Đảng và Nhà nước ta trong những năm qua
luôn luôn quan tâm tới vần đề gia đình. Luật hôn nhân và gia đình có vai trò góp phần xây
dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ Hôn nhân và gia đình tiến bộ, nhằm xây dựng gia đình ấm
no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về gia đình được
ghi nhận tại Hiến pháp năm 1992:
Gia đình là tế bào của xã hội. Nhà nước bảo hộ Hôn nhân và gia đình
theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.
Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những người công dân tốt, con
Hôn nhân và gia đình sẽ phát hiện ra những thiếu sót trong pháp luật để có những đề xuất sửa
đổi các điều khoản của pháp luật cho phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn trong từng giai đoạn
cụ thể.
Bên cạnh những mặt đã đạt được, qua quá trình kiểm tra giám đốc án và xét xử phúc
thẩm của TAND thành phố Hà Nội đã phát hiện có những thiếu sót của việc ADPL trong quá
trình giải quyết, nên dẫn đến một số vụ án bị sửa, huỷ; một số ít vụ án còn bị dây dưa kéo dài,
làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự. Trong hoạt động xét xử, ngành Toà án thành
phố Hà Nội cũng đã bộc lộ một số tồn tại, như án tồn đọng còn nhiều, vi phạm thời hạn tố tụng.
Đặc biệt, một số vụ án do ADPL không chuẩn xác, nên còn bị sửa, huỷ nhiều lần, kéo dài nhiều
năm gây ảnh hưởng đến đời sống, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Đây là một trong
những nguyên nhân dẫn đến việc nhân dân khiếu kiện vượt cấp đến các cơ quan Trung ương.
Tồn tại trên là những lực cản trở trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền tại Việt Nam.
Xuất phát từ lý do trên tôi chọn đề tài “Áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án
về Hôn nhân và gia đình trên địa bàn Hà Nội” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Lý luận
lịch sử nhà nước và pháp luật.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong việc giải quyết các vụ án nói chung và ADPL trong giải quyết án Hôn nhân và
gia đình nói riêng đã được giới khoa học pháp lý và nhất là những người trực tiếp làm công
tác xét xử của ngành Toà án quan tâm nghiên cứu. Đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều
bài viết đề cập đến một số khía cạnh về những vấn đề liên quan đến đề tài như:
- Trương Kim Oanh ( 1996), Hòa giải trong tố tụng dân sự, Luận văn thạc sy Luật học;
- Đặng Quang Phương (1999), Thực trạng của các bản án hiện nay và một số kiến
nghị nhằm hoàn thiện các bản án, Tạp chí TAND số 7, 8;
- Nguyễn Văn Cừ, (2000), Quyền sở hữu của vợ chồng theo luật hôn nhân và gia đình
năm 2000, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 11;
- Nguyễn Văn Cừ - Ngô Thị Hường, (2002), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
Luạn Hôn nhân và gia đình năm 2000, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội;
- Bùi Văn Thuấn (2002), Phụ nữ và pháp luật, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với
ADPL trong giải quyết án Hôn nhân và gia đình của TAND ở thành phố Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Là việc ADPL trong hoạt động giải quyết án Hôn nhân và gia
đình của Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội.
* Phạm vi nghiên cứu: Luận văn xem xét nghiên cứu tình hình ADPL để giải quyết án
Hôn nhân và gia đình của các Toà án nhân dân ở thành phố Hà Nội trong khoảng thời gian từ
năm 2009 đến năm 2012.
5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận: Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê
Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp
luật, trong đó có vấn đề ADPL giải quyết án Hôn nhân và gia đình.
* Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của Triết học
Mác – Lênin về duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp lịch sử và logic, phương
pháp kết hợp lý luận và thực tiễn; phương pháp phân tích tổng hợp thống kê, so sánh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động ADPL trong giải quyết
án Hôn nhân và gia đình, làm sáng tỏ đặc thù của loại án này ở thành phố Hà Nội.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập trong hoạt động ADPL giải quyết
án Hôn nhân và gia đình ở thành phố Hà Nội và đề ra các giải pháp có tính khả thi nhằm đảm
bảo ADPL trong hoạt động giải quyết án Hôn nhân và gia đình có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu
của công cuộc cải cách tư pháp.
Kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần cung cấp cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
cho những người trực tiếp làm công tác ADPL trong giải quyết án Hôn nhân và gia đình, nhằm
thực hiện và chấp hành nghiêm chỉnh Luật Hôn nhân và gia đình. Luận văn có thể sử dụng làm
tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu giảng dạy, học tập trong các trường Đại học chuyên
luật, hệ thống các trường chính trị của Đảng, cho những người trực tiếp đang làm công tác xét
xử tại TAND nói chung và Toà án nhân dân ở Hà Nội nói riêng.
7. Kết cấu của luận văn
Chính phủ (2001), Nghị định số 77/2001/NĐ-CP ngày 22/10/2001, quy định chi tiết về
đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội về việc thi hành Luật
hôn nhân và gia đình, Hà Nội.
5.
Chính phủ (2002), Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27/03/2002 Quy định về việc áp
dụng Luật hôn nhân và gia đình đối với các dân tộc thiểu số, Hà Nội.
6.
Phạm Thị Dần (2000), Điều tra trong tố tụng dân sự, Luận văn thạc sỹ Luật học, Viện
nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật.
7.
Ngô Anh Dũng (2002), “Sự cần thiết phải quy định thủ tục rút gọn trong pháp luật tố
tụng dân sự”, Tạp chí Toà án nhân dân, (4).
8.
Đảng Cộng sản VIệt Nam (1996), Văn kiện đại biểu đại hội toàn quốc lần thứ VIII,
NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội.
9.
Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Nghị quyết Trung Ương III khoá VIII, NXB Chính trị
Quốc gia Hà Nội.
trẻ em, Hà Nội.
22. Ph.Ăngghen (1962), “Nguồn gốc gia đình, của chế độ tư hữu và Nhà nước” NXB Sự
thật, Hà Nội.
23. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1946), Hiến pháp, Hà Nội.
24. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1959), Hiến pháp, Hà Nội.
25. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1980), Hiến pháp, Hà Nội.
26. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1986), Luật Hôn nhân và gia
đình, Hà Nội.
27. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992), Hiến pháp, Hà Nội.
28. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1995), Bộ Luật dân sự, Hà Nội.
29. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2000), Nghị quyết số
35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình, Hà Nội.
30. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2000), Luật Hôn nhân và gia
đình, Hà Nội.
31. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2002), Luật Tổ chức Toà án nhân
dân, Hà Nội.
32. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Hiến pháp, Hà Nội.
33. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2004) Bộ Luật tố tụng dân sự, Hà
Nội.
34.
Tòa án nhân dân tối cao (1965), Công văn số 196/NCPL ngày 24/02/1965, hướng dẫn về
một số thủ tục tố tụng, Hà Nội.
35. TAND Tối cao, VKSND Tối cao, Bộ Tư pháp (2001), Thông tư Liên tịch số 01/TTLT
ngày 03/01/2001 Hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QH10 về việc thi hành
Luật Hôn nhân và gia đình, Hà Nội.
36. TAND quận Hoàn Kiếm (2010), Bản án ly hôn sơ thẩm số 31/2010/LHST ngày 27/12/2010
tòa án quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
37. TAND thành phố Hà Nội (2011), Bản án số 46/HNGĐ- PT Ngày 11 tháng 05 năm 2011
về Hôn nhân và gia đình trên địa bàn Hà Nội
Nguyễn Thị Tâm
Khoa Luật
Luận văn ThS Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật
Mã số 60 38 01 01
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Ngọc Khánh
Năm bảo vệ: 2014
Keywords. Luật hôn nhân và gia đình; Vụ án hôn nhân; Pháp luật Việt Nam.
Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc đổi mới của đất nước ta hiện nay, một trong những nhiệm vụ trọng
tâm là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Muốn xây
dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta cần phải có con người xã hội chủ nghĩa, đó là đòi
hỏi tất yếu khách quan. Nhưng muốn có con người xã hội chủ nghĩa thì phải có một gia đình
mẫu mực, bởi gia đình quyết định một phần rất lớn tới bản chất con người. Gia đình hiện nay
còn được xem là tế bào của xã hội, do vậy muốn có xã hội phát triển và lành mạnh thì cần
phải có các gia đình tốt – gia đình văn hoá mới. Gia đình là cái nôi sản sinh ra con người, nuôi
dưỡng và giáo dục con người cho xã hội, vì vậy Đảng và Nhà nước ta trong những năm qua
luôn luôn quan tâm tới vần đề gia đình. Luật hôn nhân và gia đình có vai trò góp phần xây
dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ Hôn nhân và gia đình tiến bộ, nhằm xây dựng gia đình ấm
no, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về gia đình được
ghi nhận tại Hiến pháp năm 1992:
Gia đình là tế bào của xã hội. Nhà nước bảo hộ Hôn nhân và gia đình
theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.
Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những người công dân tốt, con
Hôn nhân và gia đình sẽ phát hiện ra những thiếu sót trong pháp luật để có những đề xuất sửa
đổi các điều khoản của pháp luật cho phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn trong từng giai đoạn
cụ thể.
Bên cạnh những mặt đã đạt được, qua quá trình kiểm tra giám đốc án và xét xử phúc
thẩm của TAND thành phố Hà Nội đã phát hiện có những thiếu sót của việc ADPL trong quá
trình giải quyết, nên dẫn đến một số vụ án bị sửa, huỷ; một số ít vụ án còn bị dây dưa kéo dài,
làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự. Trong hoạt động xét xử, ngành Toà án thành
phố Hà Nội cũng đã bộc lộ một số tồn tại, như án tồn đọng còn nhiều, vi phạm thời hạn tố tụng.
Đặc biệt, một số vụ án do ADPL không chuẩn xác, nên còn bị sửa, huỷ nhiều lần, kéo dài nhiều
năm gây ảnh hưởng đến đời sống, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Đây là một trong
những nguyên nhân dẫn đến việc nhân dân khiếu kiện vượt cấp đến các cơ quan Trung ương.
Tồn tại trên là những lực cản trở trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền tại Việt Nam.
Xuất phát từ lý do trên tôi chọn đề tài “Áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án
về Hôn nhân và gia đình trên địa bàn Hà Nội” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Lý luận
lịch sử nhà nước và pháp luật.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong việc giải quyết các vụ án nói chung và ADPL trong giải quyết án Hôn nhân và
gia đình nói riêng đã được giới khoa học pháp lý và nhất là những người trực tiếp làm công
tác xét xử của ngành Toà án quan tâm nghiên cứu. Đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều
bài viết đề cập đến một số khía cạnh về những vấn đề liên quan đến đề tài như:
- Trương Kim Oanh ( 1996), Hòa giải trong tố tụng dân sự, Luận văn thạc sy Luật học;
- Đặng Quang Phương (1999), Thực trạng của các bản án hiện nay và một số kiến
nghị nhằm hoàn thiện các bản án, Tạp chí TAND số 7, 8;
- Nguyễn Văn Cừ, (2000), Quyền sở hữu của vợ chồng theo luật hôn nhân và gia đình
năm 2000, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 11;
- Nguyễn Văn Cừ - Ngô Thị Hường, (2002), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
Luạn Hôn nhân và gia đình năm 2000, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội;
- Bùi Văn Thuấn (2002), Phụ nữ và pháp luật, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với
ADPL trong giải quyết án Hôn nhân và gia đình của TAND ở thành phố Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Là việc ADPL trong hoạt động giải quyết án Hôn nhân và gia
đình của Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội.
* Phạm vi nghiên cứu: Luận văn xem xét nghiên cứu tình hình ADPL để giải quyết án
Hôn nhân và gia đình của các Toà án nhân dân ở thành phố Hà Nội trong khoảng thời gian từ
năm 2009 đến năm 2012.
5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận: Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê
Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp
luật, trong đó có vấn đề ADPL giải quyết án Hôn nhân và gia đình.
* Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của Triết học
Mác – Lênin về duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp lịch sử và logic, phương
pháp kết hợp lý luận và thực tiễn; phương pháp phân tích tổng hợp thống kê, so sánh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động ADPL trong giải quyết
án Hôn nhân và gia đình, làm sáng tỏ đặc thù của loại án này ở thành phố Hà Nội.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập trong hoạt động ADPL giải quyết
án Hôn nhân và gia đình ở thành phố Hà Nội và đề ra các giải pháp có tính khả thi nhằm đảm
bảo ADPL trong hoạt động giải quyết án Hôn nhân và gia đình có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu
của công cuộc cải cách tư pháp.
Kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần cung cấp cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn
cho những người trực tiếp làm công tác ADPL trong giải quyết án Hôn nhân và gia đình, nhằm
thực hiện và chấp hành nghiêm chỉnh Luật Hôn nhân và gia đình. Luận văn có thể sử dụng làm
tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu giảng dạy, học tập trong các trường Đại học chuyên
luật, hệ thống các trường chính trị của Đảng, cho những người trực tiếp đang làm công tác xét
xử tại TAND nói chung và Toà án nhân dân ở Hà Nội nói riêng.
7. Kết cấu của luận văn
Chính phủ (2001), Nghị định số 77/2001/NĐ-CP ngày 22/10/2001, quy định chi tiết về
đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội về việc thi hành Luật
hôn nhân và gia đình, Hà Nội.
5.
Chính phủ (2002), Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27/03/2002 Quy định về việc áp
dụng Luật hôn nhân và gia đình đối với các dân tộc thiểu số, Hà Nội.
6.
Phạm Thị Dần (2000), Điều tra trong tố tụng dân sự, Luận văn thạc sỹ Luật học, Viện
nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật.
7.
Ngô Anh Dũng (2002), “Sự cần thiết phải quy định thủ tục rút gọn trong pháp luật tố
tụng dân sự”, Tạp chí Toà án nhân dân, (4).
8.
Đảng Cộng sản VIệt Nam (1996), Văn kiện đại biểu đại hội toàn quốc lần thứ VIII,
NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội.
9.
Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Nghị quyết Trung Ương III khoá VIII, NXB Chính trị
Quốc gia Hà Nội.
trẻ em, Hà Nội.
22. Ph.Ăngghen (1962), “Nguồn gốc gia đình, của chế độ tư hữu và Nhà nước” NXB Sự
thật, Hà Nội.
23. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1946), Hiến pháp, Hà Nội.
24. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1959), Hiến pháp, Hà Nội.
25. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1980), Hiến pháp, Hà Nội.
26. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1986), Luật Hôn nhân và gia
đình, Hà Nội.
27. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992), Hiến pháp, Hà Nội.
28. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1995), Bộ Luật dân sự, Hà Nội.
29. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2000), Nghị quyết số
35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình, Hà Nội.
30. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2000), Luật Hôn nhân và gia
đình, Hà Nội.
31. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2002), Luật Tổ chức Toà án nhân
dân, Hà Nội.
32. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Hiến pháp, Hà Nội.
33. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2004) Bộ Luật tố tụng dân sự, Hà
Nội.
34.
Tòa án nhân dân tối cao (1965), Công văn số 196/NCPL ngày 24/02/1965, hướng dẫn về
một số thủ tục tố tụng, Hà Nội.
35. TAND Tối cao, VKSND Tối cao, Bộ Tư pháp (2001), Thông tư Liên tịch số 01/TTLT
ngày 03/01/2001 Hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QH10 về việc thi hành
Luật Hôn nhân và gia đình, Hà Nội.
36. TAND quận Hoàn Kiếm (2010), Bản án ly hôn sơ thẩm số 31/2010/LHST ngày 27/12/2010
tòa án quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
37. TAND thành phố Hà Nội (2011), Bản án số 46/HNGĐ- PT Ngày 11 tháng 05 năm 2011