MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM GIẢM THIỂU TỈ LỆ HỌC SINH
ĐỌC YẾU, ĐỌC KÉM Ở LỚP 2
A. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Môn Tiếng việt ở bậc Tiểu học nhằm hình thành, rèn luyện và phát triển cho
học sinh các kỷ năng: nghe, đọc, nói, viết; Trong đó khối lớp 2 chiếm nhiều thời
lượng chương trình hơn so với các khối 3,4, 5. Cụ thể: Ở lớp 2 chiếm 39,1%
(9/23 tiết/ tuần) tổng thời lượng chương trình… Điều đó nói lên tầm quan trọng
cũng như nhiệm vụ của môn Tiếng Việt đối với chương trình và đối với cuộc
sống- nhu cầu giao tiếp (Vừa là công cụ của giao tiếp, vừa là công cụ của tư duy).
Ấy vậy mà trong thực tế của những năm vừa qua tình trạng học sinh đọc
yếu, đọc kém (chưa biết đọc) ở trong các nhà trường, các đơn vị giáo dục Tiểu
học,.. lại chiếm tỉ lệ khá cao. Điều này đã làm toàn ngành đã phải đưa ra nhiều
giải pháp, nhiều hành động mà tiêu biểu có cuộc vận động “hai không” do bộ
trưởng Nguyễn Thiện Nhân phát động và đặc biệt là quyết sách của Đảng và Nhà
nước trong việc đưa chương trình CGD lớp 1 của giáo sư- tiến sĩ Hồ Ngọc Đại
vào làm một trong những lựa chọn cho nội dung chương trình hiện hành.
Để hưởng ứng tích cực cuộc vận động và thực hiện tốt nhất quyết sách của
Đảng, của Nhà nước; để góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục Tiểu học nói
chung, đối với môn Tiếng việt nói riêng tại đơn vị; tôi đã bắt tay vào các biện
pháp chỉ đạo chuyên môn, đưa ra Một số giải pháp nhằm giảm thiểu tỉ lệ học
sinh đọc yếu, đọc kém ở học sinh lớp 2 (lớp 1 hiện đang thực hiện chương trình
CGD); đây là tình trạng nóng bỏng nhất trong thực tế .
Với nhiệm vụ cụ thể là: điều tra, tìm hiểu nguyên nhân, đưa ra các giải
pháp để giúp giáo viên, học sinh trong quá trình dạy học và giáo dục; nhằm giảm
thiểu tình trạng đọc yếu, đọc kém ở phân môn tập đọc (Tiếng việt) kể từ đầu năm
học 2014- 2015 lại nay; trong phạm vị lớp 2, tại đơn vị.
1
Quá trình thực hiện kinh nghiệm này, bản thân đã sử dụng khá nhiều loại
tài liệu như: Các tạp chí về chuyên đề giáo dục Tiểu học, báo Giáo dục thời đại,
%
Ghi chú
6
4
¾ em chuyển đến là
hs diện Kém
18,2
Đối tượng và nguyên nhân
2
12,1
Sau quá trình điều tra và tìm hiểu, tôi đã phân nhóm đối tượng và tìm ra
các nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh lớp 2 đọc yếu, đọc kém nêu trên như
sau:
*, Nhóm những học sinh có hoàn cảnh đặc biệt: học sinh mồ côi cha hoặc
mẹ, học sinh có bố mẹ li hôn, học sinh có bố mẹ đi làm xa,… phải ở cùng ông bà,
chú bác, cô, gì,…
*, Nhóm những học sinh có hoàn cảnh khó khăn: thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu
sách vở, đồ dung học tập, thiếu thời gian và sức khoẻ dành cho việc học ( vì các
em phải tham gia lao động như: chăn trâu, cắt cỏ, dự em, lấy củi,…
*, Nhóm những em học sinh mất gốc từ lớp 1: nhóm này có 3 em vừa mới
mới chưa kịp thời, còn muộn màng trong việc tiếp cận các phương pháp dạy dọc
mới: Còn lơ mơ trong phương pháp việc làm, phương pháp mẫu ở Tiếng việt lớp
1; ứng dụng phương pháp nhóm, phương pháp bàn tay nặn bột còn chưa đúng
tinh thần, chưa phát huy hết tác dụng,….
- Là năm đầu tiên thực hiện Thông tư 30 về đánh gia học sinh Tiểu học nên đa số
giáo viên còn bỡ ngỡ, mất nhiều thời gian nghiên cứu, tiếp cận; chưa vận dụng
linh hoạt hiệu quả, chưa phát huy được hết tác dụng của cách đánh giá mới,…
- Về quản lý: Người quản lý còn nắm bắt chung chung, sơ bộ, thiếu tính cụ thể,
chưa có cơ chế đủ mạnh để đánh giá tích cực và đồng bộ…; hiện tại mới dừng lại
ở một số mặt như: có học sinh giỏi, đạt giáo viên giỏi,.. các gói kích hoạt chưa
theo kịp các đơn vị bạn; và do vậy, nhiều giáo viên cũng bỏ qua những nội dung
không ai ngó đến, tốn nhiều công sức: “Phụ đạo học sinh yếu kém”.
Mặt khác vấn đề đạo đức nghề nghiệp: ý thức trách nhiệm với nghề,.. còn thiếu
sự tác động đúng hướng , chưa thường xuyên và liên tục.
4
Kế hoạch chỉ đạo còn chung chung, mơ hồ, thiếu tính thực tế nên việc tổ chức
cho giáo viên và phụ huynh tiếp xúc, trao đổi, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng, phối
hợp giáo dục,.. có hiệu quả mang lại chưa cao. Việc sắp xếp giáo viên đứng lớp,
bố trí giáo viên triển khai các chuyên đề, hội thảo chưa đúng, chưa trúng và
chồng chéo nên chưa mang lại hiệu quả…
Tất cả những nguyên nhân nêu trên dẫn đến sự yếu kém của chất lượng
giáo dục nói chung và của phân môn tập đọc ở lớp 2 nói riêng.
II, Giải pháp:
Từ nghiên cứu lý luận, nhìn nhận thực tiễn và tìm hiểu các nguyên nhân nêu trên
tôi đã tìm tòi và đưa ra các giải pháp để giải quyết vấn đề nhằm giảm thiểu tỉ lệ
học sinh đọc yếu, đọc kém và chưa biết đọc như sau:
1. Lên kế hoạch:
Bước 1: Vào cuối năm học 2013- 2014 nhà trường tung mục tiêu, kế hoạch sơ
em chiếm lĩnh tri thức mới và rèn luyện kỹ năng, hình thành thái độ.
b, Nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ:
-Nâng cao công tác tự học tự bồi dưỡng: Đây là việc làm thường xuyên và liên
tục; có kế hoạch chặt chẽ và cụ thể của từng giáo viên. Chỉ có vững vàng về kiến
thức thì mới có thể chủ động trong phương pháp. Phát huy tác dụng của góc
chuyên môn: hằng ngày tổ chức cho anh em giải bài tập khó, tìm cách giải mới,
lời giải mới,… mở các chuyên đề chuyên sâu vào từng lĩnh vực cụ thể; đối với
từng học sinh, cá nhân học sinh.
Ví dụ: Chuyên đề “ giáo dục học sinh cá biệt” ; “Đánh giá học sinh theo thông tư
30”; “ cách xây dựng niềm tin cho học sinh yếu, kém, học sinh khuyết tật”; …
6
-Đổi mới phương pháp theo hướng: tập trung vào người học; Phương pháp việc
làm; học sinh cần cái gì thì dạy học sinh cái đó…
Ví dụ: - Nhóm đối tượng học sinh:
Bước 1: Chia nhóm, sắp xếp chổ ngồi của các thành viên trong nhóm (sao cho
tiện việc kiểm soát, có hiệu quả hoạt động tốt nhất)
Bước 2: Phân công nhóm trưởng ( thay phiên nhau)
Bước 3: Giao nhiệm vụ vừa sức cho cả nhóm, xác định thời gian hoạt động.
Bước4 : Học sinh hoạt động, trình bày ( đọc) trong nhóm, trước lớp. Giáo viên
lập bảng thống kê sự tiến bộ của từng em trong nhóm và lên kế hoạch uốn nắn,
sửa chữa.
+,Nhóm 2 tương đương ( khi dạy các bài tập đọc): Cứ 2 em có mức độ
đọc tương đương, tương đối đồng đều nhau thì thành lập một nhóm 2 tương
đương. Làm như vậy thì sẽ tạo ra sự ganh đua lẫn nhau: cứ em ngồi bên phải chỉ
và theo dõi thì em ngồi bên trái đọc sau đó đổi lại. cứ thế, các em thực hiện lần 1,
lần 2, …và các em ghi kết quả vào giấy nháp sau đó cộng lại để mỗi em tự thấy
được mình đã tiến bộ chưa; cùng bạn thảo luận về kết quả tự đánh giá của mình .
+,Nhóm bạn cùng tiến: Phân công bạn giỏi kèm cặp bạn yếu, ở trong các
cảnh đặc biệt (như đã nêu ở trên); Quyết tâm chấm dứt hiện tượng đọc yếu, đọc
kém ở học sinh lớp 2 khi kết thúc năm học 2014- 2015.
d, Tác động bằng các cơ chế kích thích khác:
Tăng cường nói nhỏ: Gần guỷ, lăng nghe, tạo điều kiện để họ (GV lớp 2) nói,
lắng nghe họ nói về dự định về kế hoạch và cách nghĩ của họ,… tìm cơ hội để
trao đổi riêng những vấn đề cần điều chỉnh, cần uốn nắn.
8
Nói tốt: Tìm nội dung xác đáng, chọn thời cơ thích hợp để nói tốt về từng giáo
viên lớp 2. Tích cực nói về cái tốt, say sưa nói về các hay mà các giáo viên đã làm
được trong các cuộc họp, trong các buổi sinh hoạt tập thể.
Ví dụ: Lớp 2A có em học sinh thuộc diện khuyết tật, thường chạy khắp lớp; Hôm
nay em chịu ngồi im một chổ thì BGH pải tuyên dương ngay sau đó và trong giờ
chào cờ đầu tuần; Trong các giờ giải lao, nếu có cơ hội thì BGH phải tiếp cận GV
và hỏi: “ Không biết chị đã làm cách nào mà em Tuấn chịu ngồi yên trong giờ
học- đúng là một kỳ tích.” (nên nói khi có 1 hoặc nhiều hơn 1 người khác cùng
nghe).
Qua kết quả kiểm tra GK1, em Phan Huy Khánh được 3 điểm phần đọc, so với
đầu năm em chưa biết đọc; BGH nhận xét: “ Đây là một quá trình lao tâm khổ tứ
và dày công rất lớn của GV.”…
3, Tác động trực tiếp vào học sinh:
Làm tốt công tác quản lý học sinh , nhất là các đối tượng học sinh đọc yếu, đọc
kém của lớp 2: Lập danh sách riêng treo ngay tại phòng làm việc của BGH, đính
vào trước sổ CN của GV CN lớp để theo giỏi hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng.
Làm tốt công tác thi đua: Nhận xét tỉ mỉ, khen đúng, kịp thời và cụ thể; Phát
huy tối đa tác dụng của các tổ chức trong và ngoài nhà trường như: tổ chức Đội,
Đoàn, hội Khuyến học, tổ chức Mặt trận ở các thôn xóm,… Phải làm cho các tổ
chức này nói được, động viên được cho các em, cho cha mẹ các em trong các kỳ
học , trong những lần trò chuyện; tạo tự tin cho các em.
làm. Làm như vậy, sẽ phát triển được nhiều kỷ năng cho học sinh (kỹ năng chú ý,
nói, nghe, diễn đạt, sắp xếp tư duy lô- gic.
10
5, Phối hợp các lực lượng giáo giục khác:
Song song với việc làm tốt các mối quan hệ giữa nhà trường và gia đình là việc
tạo môi trường thu hút các lực lượng xã hội tham gia vào quá trình giáo dục như:
Tặng quà cho những em có hoàn cảnh khó khăn vươn lên (từ kém lên yếu, từ yếu
lên trung bình,… Những biểu dương, ghi nhận kịp thời của gia đình, nhà trường
và của cả xã hội sẽ là dày thêm niềm tin ở học sinh.
Đáp ứng cơ sớ vật chất phụ vụ dạy và học của nhà trường theo tinh thần trường
đạt chuẩn quốc gia cũng góp phần hết sức quan trọng trong việc giảm thiểu tình
trạng học sinh đọc yếu, đọc kém. Cụ thể: Xây dựng nhà ăn bán trú để khắc phục
tình trạng đi về của những em nhà xa trường, đò giang cách trở; đảm bảo chế độ
ăn uống; tăng cường sức khoẻ; các em tập trung vào việc học. Hiện nay nhà
trường đã thực hiện được ½ kế hoạch ăn bán trú bằng cách: vận động xã hội hoá
mua sắm cơ sở vật chất ban đầu; tiến hành tu sửa nhà nội trú thành nhà ăn bán trú;
làm khuôn viên và đường đi lói lại.
III.
Kết quả:
Qua quá trình áp dụng các biện pháp nêu trên (từ đầu năm đến hết học kỳ 1
năm học 2014- 2015) tôi đã thu được kết quả khả quan, cụ thể: Qua kiểm tra trực
tiếp của đoàn kiểm tra cấp huyện, được đoàn ghi nhận và đánh giá cao; Cuối hoạc
kỳ 1 thu được kết quả cụ thể sau:
Lớp
2
IV.
Bài học kinh nghiệm:
Qua trải nghiệm thực tế, tôi nhận thấy: Muốn giảm thiểu tình trạng học sinh
đọc yếu, đọc kém ở lớp 2, người quản lý giáo dục cần.
- Có kế hoạch sớm, cụ thể, tác động đồng bộ và thường xuyên đến các lực
lượng giáo dục; trong đó kích hoạt vào giáo viên là yếu tố tiên quyết.
- Làm tốt, làm cậc nhật, làm đúng nơi, đúng lúc công tác đánh giá và nhận
xét từng đối tượng học sinh và giáo viên có học sinh ở diện trên.
- Cụ thể hoá công tác quản lý giáo dục.
- Đảm bảo cơ sở vật chất phục vụ cho dạy và học.
- Làm tốt nhất công tác xã hội hoá giáo dục, đồng bọ phối kết hợp gia đình
và nhà trường trong việc giáo dục học sinh đặc biệt( đọc yếu, đọc kém).
V.
Kiến nghị và đề xuất:
Mặc dù, phần sáng kiến kinh nghiệm này còn từng bước được hoàn thành.
Song, nếu được áp dụng linh hoạt vào thực tiễn hiện nay của huyện nhà thì
chắc chắn sẽ hoàn thành tốt hơn mục tiêu của phân môn tập đọc nói chung và
môn tập đọc ở lớp 2 nói riêng, đồng thời góp phần thúc đẩy tốt cuộc vận động
“hai không” mà ở đây là không để học sinh ngồi nhầm lớp.
Với phạm vi bài viết này, chắc chắn còn nhiều vấn đề cần bàn. Bản thân
mong nhận được nhiều ý kiến góp ý, để phần kinh nghiệm ngày càng được
hoàn thiện.
12