Chuyên Đề Chủ Trương, Chính Sách Của Đảng Và Nhà Nước Về Xây Dựng Nông Thôn Mới - Pdf 41

1
Chuyên đề 1
CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC
VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
I. TỔNG QUAN VỀ NÔNG THÔN MỚI

1. Khái niệm nông thôn
Đến nay, khái niêm nông thôn được thống nhất với quy định tại Theo
Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn, cụ thể: "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội
thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính
cơ sở là ủy ban nhân dân xã".
2. Khái niệm nông thôn mới
Nông thôn mới là nông thôn có kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh
thần của cư dân nông thôn được nâng cao; nông thôn phát triển theo quy hoạch,
có kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ; dân
trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy; an ninh tốt,
quản lý dân chủ; chất lương hệ thống chính trị được nâng cao, theo định hướng xã
hội chủ nghĩa.
3. Xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng
đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang
trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ);
có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập,
đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao.
Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân,
của cả hệ thống chính trị. Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà
là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp.
Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực,
chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ,
văn minh.

Từ ngày thành lập đến nay, Đảng Công sản Việt Nam luôn khẳng định
tầm quan trọng của vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Trong quá
trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng ta tiếp tục khẳng định công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một trong những nội dung
cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đại hội lần thứ III của Đảng khẳng định: ra sức phát triển nông nghiệp, vì
muốn phát triển công nghiệp, muốn tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa
phải có những điều kiện tiên quyết như lương thực, thực phẩm, lao động, v..v mà


4
những điều kiện đó phụ thuộc vào sự phát triển của nông nghiệp. Hội nghị Trung
ương lần thứ năm (khóa III) năm 1961 đã ra nghị quyết về vấn đề phát triển
nông nghiệp, trong đó nêu lên phương hướng cải tiến công cụ và cơ giới hóa
nông nghiệp trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965).
Đến Đại hội lần thứ IV, Đảng xác định lấy phát triển nông nghiệp và
công nghiệp nhẹ làm cơ sở để ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách
hợp lý, nêu ra vấn đề kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước
thành một cơ cấu công - nông nghiệp. Như vậy, đến Đại hội IV, vai trò của
nông nghiệp được xác định là cơ sở để phát triển công nghiệp. Tuy nhiên
đường, lối công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa do Đại hội IV đề ra vẫn thiên về
xây dựng công nghiệp nặng, chưa tập trung sức phát triển nông nghiệp và
công nghiệp nhẹ một cách đúng mức.
Đại hội V của Đảng khẳng định nông nghiệp là mặt trận hàng đầu và chỉ
rõ quan điểm xây dựng và phát triển công nghiệp nặng phải nhằm phục vụ
thiết thực và có hiệu quả cho nông nghiệp và công nghiệp hàng tiêu dùng.
Đại hội VI là bước ngoặt trong đổi mới tư duy của Đảng về chủ nghĩa xã hội
nói chung, về nông nghiệp, nông thôn nói riêng. Đại hội chỉ rõ, trong những năm
còn lại của chặng đường đầu tiên, trước mắt là trong kế hoạch 5 năm 1986-1990,
phải thật sự tập trung sức người, sức của vào việc thực hiện cho được ba chương

mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ
2001-2010” đã làm rõ hơn những nội dung tổng quát và quan điểm của
Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Đó là quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng
hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường, thực hiện cơ khí hóa,
điện khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ,
trước hết là công nghệ sinh học, đưa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện
đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất
lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nông sản hàng hóa trên thị trường. Đó
là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh
tỷ trọng giá trị sản phẩm và lao động các ngành công nghiệp và dịch vụ;
giảm dần tỷ trọng sản phẩm và lao động nông nghiệp; xây dựng kết cấu hạ
tầng kinh tế-xã hội, quy hoạch phát triển nông thôn, bảo vệ môi trường
sinh thái; tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp, xây


6
dựng nông thôn dân chủ, công bằng, văn minh, không ngừng nâng cao đời
sống vật chất và văn hóa của nhân dân ở nông thôn.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã tiếp tục khẳng định vai
trò, vị trí của nông dân, nông nghiệp, nông thôn, đồng thời chỉ rõ định hướng
phát triển về kinh tế: Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp,
kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nhân dân. Hiện nay và trong nhiều năm
tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt
quan trọng. Phải coi trọng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa lớn, đa
dạng, phát triển nhanh và bền vững, có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh
tranh cao, tạo điều kiện từng bước hình thành nền nông nghiệp sạch. Gắn phát
triển kinh tế với xây dựng nông thôn mới, giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa
nông thôn và thành thị, giữa các vùng miền, góp phần giữ vững ổn định chính

vững chắc an ninh lương thực quốc gia; một số mặt hàng xuất khẩu chiếm vị
thế cao trên thị trường thế giới. Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng tăng
công nghiệp, dịch vụ, ngành nghề; các hình thức tổ chức sản xuất tiếp tục đổi
mới. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường; bộ mặt nhiều vùng nông
thôn thay đổi. Đời sống vật chất và tinh thần của dân cư ở hầu hết các vùng
nông thôn ngày càng được cải thiện. Xóa đói, giảm nghèo đạt kết quả to lớn.
Hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố và tăng cường. Dân chủ cơ sở
được phát huy. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Vị thế
chính trị của giai cấp nông dân ngày càng được nâng cao.
Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi
thế và chưa đồng đều giữa các vùng. Nông nghiệp phát triển còn kém bền
vững, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần, sức cạnh tranh thấp, chưa phát
huy tốt nguồn lực cho phát triển sản xuất; nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế. Việc chuyển dịch cơ cấu
kinh tế và đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm, phổ biến
vẫn là sản xuất nhỏ phân tán; năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng nhiều mặt
hàng thấp. Công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề phát triển chậm, chưa thúc đẩy
mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động ở nông thôn. Các hình thức tổ
chức sản xuất chậm đổi mới, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mạnh sản xuất


8
hàng hoá. Nông nghiệp và nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm; năng lực
thích ứng, đối phó với thiên tai còn nhiều hạn chế. Đời sống vật chất và tinh
thần của người dân nông thôn còn thấp, tỉ lệ hộ nghèo cao, nhất là vùng đồng
bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa; chênh lệch giàu, nghèo giữa nông thôn và
thành thị, giữa các vùng còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc.
Trước thực trạng nêu trên, Nghị quyết số 26 - NQ/TW (khóa X) đã đặt
ra yêu cầu cần phải tiếp tục xây dựng và phát triển nông nghiệp, nông dân và
nông thôn nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân

- Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của
cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.
Về mục tiêu:
Mục tiêu tổng quát: Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần
của dân cư nông thôn… Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo
hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng,
hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao… Xây dựng nông thôn mới có kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản
xuất hợp lý...; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí
được nâng cao; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được
tăng cường. Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân
- trí thức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc cho sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa.
Mục tiêu đến năm 2020: Tốc độ tăng trưởng nông, lâm, thuỷ sản đạt 3,5
- 4%/năm; sử dựng đất nông nghiệp tiết kiệm và hiệu quả; duy trì diện tích đất
lúa đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia trước mắt và lâu dài. Phát
triển nông nghiệp kết hợp với phát triển công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề
nông thôn, giải quyết cơ bản việc làm, nâng cao thu nhập của dân cư nông
thôn gấp trên 2,5 lần so với hiện nay; Lao động nông nghiệp còn khoảng 30%
lao động xã hội, tỉ lệ lao động nông thôn qua đào tạo đạt trên 50%; số xã đạt
tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50%; Phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội nông thôn; Nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư nông
thôn; Nâng cao năng lực phòng chống, giảm nhẹ thiên tai…Ngăn chặn, xử lý
tình trạng ô nhiễm môi trường, từng bước nâng cao chất lượng môi trường
nông thôn.


10
c. Một số nhiệm vụ giải pháp xây dựng và phát triển nông nghiệp, nông



11
bệnh viện đa khoa tuyến huyện, các trung tâm y tế vùng, các cơ sở y tế
chuyên sâu; hoàn thành chương trình kiên cố hóa trường học; xây dựng các
trung tâm, nhà văn hoá - thể thao tại thôn, xã.
Quy hoạch bố trí lại dân cư nông thôn gắn với việc quy hoạch xây dựng
công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị ở các vùng. Thực hiện chương trình
xây dựng nông thôn mới với các tiêu chí cụ thể, phù hợp với đặc điểm từng
vùng, chú ý các xã còn nhiều khó khăn ở miền núi, biên giới, bãi ngang, hải
đảo. Phát triển mạng lưới thị trấn, thị tứ theo quy hoạch; tiếp tục thực hiện
phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, khuyến khích các thành
phần kinh tế tham gia đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn. Thực hiện
tốt các chương trình hỗ trợ nhà ở cho người nghèo và các đối tượng chính
sách, xoá nhà tạm ở nông thôn, thực hiện chương trình nhả ở cho đồng bào
vùng bão, lũ; bố trí lại dân cư ra khỏi vùng bão, lũ, vùng sạt lở núi, ven sông,
ven biển.
Thứ ba: Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn,
nhất là vùng khó khăn.
Giải quyết việc làm cho nông dân là nhiệm vụ ưu tiên xuyên suốt trong
mọi chương trình phát triển kinh tế - xã hội của cả nước; bảo đảm hài hoà
giữa các vùng, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, giữa nông thôn
và thành thị; Tập trung nguồn lực và tăng cường chỉ đạo thực hiện đồng bộ
chiến lược về tăng trưởng và xoá đói, giảm nghèo; Nâng cao chất lượng chăm
sóc sức khỏe ban đầu và khám chữa bệnh; Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục
và đào tạo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc; Nâng cao chất lượng
cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, xây dựng các
hương ước, phát huy truyền thống tốt đẹp, tương thân tương ái, tình làng
nghĩa xóm, bài trừ các hủ tục, thực hiện nếp sống mới ở nông thôn; Xây dựng
hệ thống an sinh xã hội; Đấu tranh, ngăn chặn các hành vi tiêu cực, giữ vững

năm đào tạo khoảng 1 triệu lao động nông thôn. Thực hiện tốt việc xã hội hoá
công tác đào tạo nghề.
Thứ sáu: Đổi mới mạnh mẽ cơ chế, chính sách để huy động cao các
nguồn lực, phát triển nhanh kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần của nông dân.
Sửa đổi Luật Đất đai theo hướng: Tiếp tục khẳng định đất đai là sở hữu
toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý theo quy hoạch, kế hoạch để sử dụng


13
có hiệu quả; giao đất cho hộ gia đình sử dụng lâu dài; mở rộng hạn mức sử
dụng đất, thúc đẩy quá trình tích tụ đất đai; công nhận quyền sử dụng đất
được vận động theo cơ chế thị trường, trở thành một nguồn vốn trong sản
xuất, kinh doanh.
Rà soát, điều chỉnh cơ cấu đầu tư ngân sách, giảm bớt đầu tư cho các
công trình có thể thu hồi vốn để tạo nguồn, tăng đầu tư phát triển cho khu vực
nông nghiệp, nông thôn; Tăng cường phân cấp thu chi ngân sách cho các địa
phương, bao gồm cả cấp huyện và xã; Tiếp tục thực hiện các cam kết hội nhập
kinh tế quốc tế; có biện pháp bảo vệ thị trường nội địa, phát triển thị trường
xuất khẩu nông sản phù hợp với luật pháp quốc tế; Tăng cường hệ thống dự trữ
quốc gia, nhất là lương thực.
Thứ bảy: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước,
phát huy sức mạnh của các đoàn thể chính trị - xã hội ở nông thôn, nhất là
hội nông dân.
Đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của đảng bộ, chi bộ cơ sở
để thực sự là hạt nhân lãnh đạo toàn diện trên địa bàn nông thôn; củng cố và
nâng cao năng lực bộ máy quản lý nông nghiệp từ Trung ương đến địa
phương, nhất là cấp huyện, xã và các lĩnh vực khác ở nông thôn. Tiếp tục cải
cách hành chính, tăng cường đào tạo nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, công
chức xã. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ

quyết Trung ương để xây dựng các chương trình kinh tế - xã hội, các đề án
chuyên ngành, cụ thể hóa thành các văn bản quy phạm pháp luật. Trên cơ sở
Nghị quyết và Chương trình hành động của Chính phủ, các Bộ, ngành, Ủy
ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng kế hoạch cụ
thể để chỉ đạo triển khai thực hiện.
Những nhiệm vụ chủ yếu: Căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý
nhà nước được giao, các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban
nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung chỉ đạo, tổ chức
triển khai những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
Thứ nhất: Thống nhất nhận thức, hành động về nông nghiệp, nông dân,
nông thôn. Các cơ quan chức năng ở các cấp tổ chức quán triệt và thực hiện
tuyên truyền, giáo dục, vận động sâu rộng trong toàn xã hội về vị trí, vai trò
và tầm quan trọng của nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; cụ thể hóa những chủ trương và giải pháp


15
lớn, huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị để triển khai các nội dung
của Nghị quyết này, cũng như các Nghị quyết khác của Đảng và Nhà nước
liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Thứ hai: Xây dựng các chương trình mục tiêu quốc gia đến năm 2020. Tiếp
tục triển khai đồng bộ, có hiệu quả ở địa bàn nông thôn các Chương trình mục tiêu
Quốc gia đã được phê duyệt. Triển khai xây dựng mới Chương trình mục tiêu
Quốc gia sau đây: Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới;
Chương trình mục tiêu Quốc gia về thích ứng với sự biến đổi khí hậu; Chương
trình mục tiêu Quốc gia về đào tạo nguồn nhân lực nông thôn.
Thứ ba: Nâng cao chất lượng quy hoạch và quản lý quy hoạch. Trên cơ sở
điều kiện cụ thể và lợi thế của từng vùng, nghiên cứu, dự báo thị trường, tiến bộ
kỹ thuật công nghệ, các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương xây dựng các quy hoạch tổng thể, rà soát bổ sung các quy hoạch hiện

giai đoạn 2009-2015 và định hướng đến năm 2020:
- Yêu cầu của việc xây dựng và phát triển nông nghiệp, nông dân và nông
thôn Hà Tĩnh trong tình hình mới
Sau ngày tái lập tỉnh, nhất là từ năm 2001 đến nay, dưới sự lãnh đạo, chỉ
đạo, quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện của cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận Tổ
quốc, đoàn thể các cấp và sự nổ lực phấn đấu của bà con nông dân, nông nghiệp,
nông dân, nông thôn tỉnh ta đã đạt được những thành tựu khá toàn diện. Tốc độ
tăng trưởng bình quân của ngành nông nghiệp đạt 2,56%/năm; cơ cấu giá trị sản
xuất trong nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tích cực, sản lượng lương thực từ
42 vạn tấn lên 51 vạn tấn, tăng 21%; giá trị sản xuất nông nghiệp từ 16,6 triệu
đồng tăng lên gần 40 triệu đồng/ha; giá trị xuất khẩu nông, lâm, hải sản từ 9,7
triệu USD lên 32,4 triệu USD. Tỷ trọng giá trị sản xuất chăn nuôi tăng từ 29,7%
lên 36%; khai thác, đánh bắt, nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu thuỷ sản tiếp tục
phát triển. Các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh ở nông thôn bước đầu được
hình thành và phát triển; xuất hiện nhiều mô hình, điển hình về phát triển kinh tế
hàng hoá. Các làng nghề truyền thống được khôi phục và phát triển, gắn với xây
dựng các khu, cụm công nghiệp, ngành nghề nông thôn; một số nghề mới được du
nhập bước đầu phát huy hiệu quả. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông nghiệp,
nông thôn được tập trung xây dựng, nâng cấp như: giao thông, thuỷ lợi, điện, trạm


17
xá, trường học… Công tác xoá đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm, xoá nhà
tranh tre dột nát đạt kết quả rõ nét. Các chính sách đối với vùng sâu, vùng bị thiên
tai, các gia đình có công với cách mạng, gia đình có hoàn cảnh khó khăn được
thực hiện kịp thời. Hệ thống chính trị được tăng cường; dân chủ cơ sở ngày càng
được phát huy; an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được đảm bảo. đời sống
vật chất, tinh thần của người dân nông thôn được cải thiện. Bộ mặt nông thôn nhìn
chung có nhiều thay đổi, phong trào xây dựng nông thôn mới được triển khai trên
diện rộng, một số xã đã đạt các tiêu chí nông thôn mới.

chỉnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và các hình thức tổ chức sản xuất hợp
lý. Xây dựng nông thôn mới theo hướng truyền thống, văn minh, hiện đại, có
kết cấu hạ tầng phù hợp với quy hoạch không gian làng, xã, quy hoạch kinh
tế - xã hội của ngành và địa phương; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá
dân tộc; đảm bảo môi trường sinh thái… Nhanh chóng nâng cao đời sống vật
chất và tinh thần của người dân, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo giữa
thành thị và nông thôn, giữa các vùng, miền, đặc biệt quan tâm vùng miền
núi, vùng sâu, vùng tái định cư; nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực,
xây dựng giai cấp nông dân mới theo ý thức tự vươn lên, có khả năng làm
chủ nông thôn mới. Đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội”.
Nghị quyết đề ra các chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2010, 2015 và mục tiêu định
hướng chủ yếu đến năm 2020, trong đó nhấn mạnh các chỉ tiêu về tốc độ tăng
trưởng nông, lâm, thủy sản, giá trị sản xuất trên 1 ha diện tích, thu nhập bình quân,
tỉ lệ hộ nghèo, các tiêu chí nông thôn mới…
Để thực hiện được các mục tiêu nêu trên, Nghị quyết đã xác định 11
nhiệm vụ giải pháp sau đây:
1. Tập trung rà soát, điều chỉnh, bổ sung và xây dựng mới các quy hoạch,
chương trình, đề án phát triển nông nghiệp, nông thôn
2. Phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, đống thời
phát triển mạnh công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn
3. Huy động các nguồn lực phát triển nhanh, đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh
tế - xã hội nông thôn, tăng cường năng lực dự báo, phòng, chống giảm nhẹ thiên
tai, bảo vệ môi trường
4. Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn; tập trung
giải quyết các vấn đề phát sinh, vướng mắc, góp phần giữ vững ổn định chính trị xã hội và xây dựng nông thôn mới


19
5. Đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và tăng cường hợp tác
quốc tế về khoa học – công nghệ


20
Những nội dung chủ yếu:
Thứ nhất: Tổ chức học tập, quán triệt, tuyên truyền nhằm thống nhất về
nhận thức và hành động: Các cơ quan chức năng ở các cấp tổ chức học tập, quán
triệt, tuyên truyền sâu rộng trong toàn xã hội về Nghị quyết số 08-NQ/TU; đặc
biệt là vị trí, vai trò và tầm quan trọng của nông nghiệp, nông dân, nông thôn
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; huy động sức mạnh của cả hệ thống
chính trị với sự tập trung cao nhất.
Thứ hai: Xây dựng các chương trình: Chương trình xây dựng nông thôn
mới; Chương trình xóa đói, giảm nghèo và kiên cố hóa nhà ở cho hộ chính
sách, hộ nghèo; Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn;
Chương trình đào tạo nguồn nhân lực nông thôn; Chương trình về thích ứng
với sự biến đổi khí hậu.
Thứ ba: Xây dựng các đề án chuyên ngành: Đề án phát triển ngành trồng
trọt; Đề án phát triển ngành chăn nuôi; Đề án bảo vệ phát triển rừng; Đề án nuôi
trồng, khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản; Đề án phát triển ngành Muối; Đề án
áp dụng cơ giới hóa trong nông nghiệp; Đề án phát triển ngành nghề nông thôn;
Đề án bảo quản, chế biến sau thu hoạch; Đề án phát triển kết cấu hạ tầng nông
nghiệp, nông thôn; Đề án đổi mới loại hình tổ chức sản xuất ngành nông nghiệp,
phát triển nông thôn; thành lập Ban nông nghiệp xã và thu hút sinh viên tốt nghiệp
đại học về xã hội công tác; Đề án nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao KHCN,
khuyến nông - khuyến ngư phục vụ nông nghiệp, nông thôn.
Thứ tư: Rà soát, điều chỉnh, bổ sung và xây dựng mới các quy hoạch. Tiến
hành rà soát, điều chỉnh bổ sung các quy hoạch đã có cho phù hợp với tình hình
thực tiễn của tỉnh, các quy hoạch của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn;
các quy hoạch của các ngành khác có liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông
thôn như quy hoạch hệ thống giao thông, thủy lợi, điện nông thôn... Đồng thời xây
dựng các quy hoạch mới đáp ứng cho nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa lớn,
hiện đại, thân thiện môi trường, đáp ứng được nhu cầu của một xã hội văn minh,


+ Nhóm 2: Hạ tầng kinh tế - xã hội

- 8 tiêu chí

+ Nhóm 3: Kinh tế và tổ chức sản xuất

- 4 tiêu chí

+ Nhóm 4: Văn hoá – Xã hội – Môi trường

- 4 tiêu chí

+ Nhóm 5: Hệ thống chính trị

- 2 tiêu chí

Một xã đạt đủ 19 tiêu chí là đạt tiêu chuẩn NTM
- Căn cứ vào Bộ tiêu chí Quốc gia, các Bộ ngành liên quan đều xây dựng
quy chuẩn của ngành, chủ yếu là các tiêu chuẩn kỹ thuật cho các công trình hạ
tầng, để áp dụng khi xây dựng Nông thôn mới.
* Gần đây, ngày 20/2/2013 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định
342/QĐ-TTg sửa đổi 5 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới ban


22
hành tại Quyết định số 491/QĐ-TTg. Theo đó, 5 tiêu chí trong Bộ tiêu chí quốc
gia về nông thôn mới, gồm: tiêu chí số 7 về chợ nông thôn, tiêu chí số 10 về thu
nhập, tiêu chí số 12 về về cơ cấu lao động, tiêu chí số 14 về giáo dục và tiêu chí số
15 về y tế. Cụ thể:

23
*Nội dung sửa đổi 05 tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới
(Ban hành kèm theo Quyết định số 342/QĐ-TTg ngày 20 tháng 02 năm 2013
của Thủ tướng Chính phủ)
A. XÃ NÔNG THÔN MỚI
TT Tên tiêu Nội dung tiêu chí

7

Chỉ

chí

tiêu

Chợ

Chợ theo quy hoạch, Đạt

nông

đạt chuẩn theo quy

thôn

định
Thu nhập Năm 2012
bình quân Đến năm
đầu người 2015
Đến năm

phía
Trung Nam
Nam
sông
Nguyên
Cửu
Bắc
bộ
TB
bộ
Hồng
Long
Đạt

Đạt

Đạt

Đạt

Đạt

Đạt

Đạt

18
26

13

40

58

49

≥90%

Đạt

Đạt

Đạt

Đạt

Đạt

Đạt

Đạt

Đạt

Đạt

Đạt

Đạt



Y tế

14.1. Phổ cập giáo
dục trung học cơ sở
15.1 Tỷ lệ người dân
tham gia Bảo
hiểm ytế

2. Quyết định số 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt
“Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2010 – 2020”
Thực hiện chủ trương của Đảng và các Nghị quyết của Chính phủ, ngày 4
tháng 6 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 800/QĐ-TTg về
việc phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai
đoạn 2010 - 2020.
1. Mục tiêu chung: Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý,


24
gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông
thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc
văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững;
đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định
hướng xã hội chủ nghĩa.
2. Mục tiêu cụ thể: Đến năm 2015 có 20% và đến năm 2020 có 50% số xã
đạt tiêu chuẩn Nông thôn mới (theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới).
3. Thời gian, phạm vi thực hiện chương trình:
- Thời gian thực hiện: từ năm 2010 đến năm 2020.

Giáo dục, Bộ Nội vụ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Ủy ban nhân
dân các cấp chủ trì phối hợp, hướng dẫn thực hiện.
4.3. Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập
Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí 10, 12 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông
thôn mới. Đến năm 2015 có 20% số xã đạt, đến 2020 có 50% số xã đạt.
Nội dung: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo
hướng phát triển sản xuất hàng hóa, có hiệu quả kinh tế cao; Tăng cường công
tác khuyến nông; đẩy nhanh nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật
vào sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp; Cơ giới hóa nông nghiệp, giảm tổn thất
sau thu hoạch trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp; Bảo tồn và phát triển
làng nghề truyền thống theo phương châm “mỗi làng một sản phẩm”, phát
triển ngành nghề theo thế mạnh của địa phương; Đẩy mạnh đào tạo nghề cho
lao động nông thôn, thúc đẩy đưa công nghiệp vào nông thôn, giải quyết việc
làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn.
Phân công quản lý, thực hiện: Các Bộ, ngành có liên quan như: Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
và Ủy ban nhân dân các cấp chủ trì phối hợp, hướng dẫn thực hiện.
4.4. Giảm nghèo và an sinh xã hội
Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí 11 của Bộ tiêu chí quốc gia nông
thôn mới;
Nội dung: Thực hiện có hiệu quả Chương trình giảm nghèo nhanh và
bền vững cho 62 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao (Nghị quyết 30a của Chính phủ)
theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; Tiếp tục triển khai Chương trình
mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo; Thực hiện các chương trình an sinh xã hội.
Phân công quản lý, thực hiện: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và
Ủy ban nhân dân các cấp chủ trì, hướng dẫn tổ chức chỉ đạo thực hiện.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status