Bộ giáo dục và đào tạo
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
-------------------
HOÀNG THỊ THU GIANG
TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM 1945 - 1975
NHƯ MỘT TRƯỜNG DIỄN NGÔN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC
MÃ SỐ
: 62.22.01.20
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Phùng Ngọc Kiếm
Hà nội – 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả luận án xin cam đoan:
- Luận án này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi.
- Những số liệu và tài liệu được trích dẫn trong đây là trung thực.
- Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được
công bố trước đó.
Tôi chịu trách nhiệm trước lời cam đoan của mình.
Hà Nội, tháng 2 năm 2014
Tác giả luận án
Hoàng Thị Thu Giang
3.3. Thẩm quyền tiếp nhận ..................................................................................... 88
3.3.1. Lớp ngôn từ, lời văn được đại chúng hóa, quân sự - chính trị hóa .............. 88
3.3.2. Giọng điệu thể hiện lập trường kháng chiến, cách mạng ............................. 94
Chương 4. DIỄN NGÔN NGOẠI BIÊN TRONG TRUYỆN NGẮN
VIỆT NAM 1945 – 1975 ..................................................................................... 100
4.1. Thẩm quyền sáng tạo ..................................................................................... 100
4.1.1. Nguyên tắc phản tư với sáng tác tuyên truyền ........................................... 100
4.1.2. Vượt khung truyện định sẵn ....................................................................... 107
4.2. Thẩm quyền của cái được biểu đạt ................................................................ 113
4.2.1. Thế giới được đa diện hóa .......................................................................... 113
4.2.2. Bức tranh cuộc đời muôn mặt .................................................................... 116
4.2.3. Không gian cá thể và thời gian thế tục ....................................................... 127
4.3. Thẩm quyền tiếp nhận ................................................................................... 131
4.3.1. Ngôn từ, lời văn ẩn ý, đa nghĩa .................................................................. 131
4.3.2. Giọng điệu thể hiện ý thức phê phán và tinh thần nhân bản ...................... 134
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 146
CÁC BÀI BÁO ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN .................................................................................... 151
THƯ MỤC THAM KHẢO ................................................................................ 152
PHỤ LỤC ............................................................................................................ 163
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Trong những năm 1945 – 1975, cả dân tộc Việt Nam huy động mọi sức
mạnh vật chất và tinh thần có thể vào sự nghiệp chống xâm lược, bảo vệ và dựng
tạo, mô tả những nguyên nhân, điều kiện, quy tắc để tạo ra văn bản và ý nghĩa ấy.
Nghiên cứu thể loại văn học như một hình thức diễn ngôn và trong thực tiễn diễn
ngôn của nó, khảo sát lời nghệ thuật trên cùng một dãy với các thể loại lời nói
ngoài nghệ thuật, nghiên cứu đối tượng trong môi trường đa ngữ theo tinh thần lí
thuyết của M. Bakhtin, có thể đem lại cách nhìn và nhận thức mới về những vấn
đề tưởng như đã xong xuôi của đời sống văn học, đặc biệt là về thời đại văn học
và đặc trưng của thể loại trong tương tác diễn ngôn của thời đại.
1.3. Nghiên cứu truyện ngắn Việt Nam 1945 – 1975 như một trường diễn
ngôn là hướng tìm hiểu đặc trưng của thể loại truyện ngắn dưới góc nhìn mới, có
thể mang lại sự nhìn nhận và đánh giá toàn diện, khách quan hơn về truyện ngắn
dân tộc giai đoạn này. Cùng với điều đó, luận án góp phần làm sáng rõ hơn bản
chất của diễn ngôn và diễn ngôn văn học – những vấn đề ngày càng được quan
tâm thảo luận, vận dụng trong nghiên cứu văn học tại Việt Nam. Với những ý
nghĩa ấy, nghiên cứu đề tài có thể góp thêm một tài liệu tham khảo thiết thực với
những người quan tâm đến lý luận, phê bình văn học, những người dạy – học văn
học trong nhà trường các cấp.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là trường diễn ngôn truyện ngắn 1945 – 1975
với các bộ phận tâm và biên của nó, từ đó xác lập quan niệm và nhận thức về diễn
ngôn, trường diễn ngôn văn học, trường diễn ngôn thể loại gắn với lịch sử xã hội.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
Với đối tượng nghiên cứu được xác định như trên, phạm vi nghiên cứu của
luận án bao gồm: cơ sở lí thuyết diễn ngôn đối với nghiên cứu văn học nói chung,
truyện ngắn nói riêng; trường diễn ngôn truyện ngắn 1945 – 1975 với các bộ phận
cấu thành của nó; các thẩm quyền và chiến lược thực thi thẩm quyền của diễn ngôn
trung tâm và diễn ngôn ngoại biên trong truyện ngắn 1945 – 1975.
Trong hoàn cảnh lịch sử đặc thù của dân tộc, văn học Việt Nam giai đoạn
1945 – 1975 gồm nhiều bộ phận. Làm nên diện mạo chính yếu của văn học dân tộc
giai đoạn này là bộ phận văn học cách mạng (văn học kháng chiến chống Pháp,
ngôn truyện ngắn 1945 – 1975 với nhau và với các diễn ngôn văn học khác cùng thời
đại để có cái nhìn sáng rõ về đặc thù lịch sử của truyện ngắn Việt Nam 1945 – 1975.
4. Nhiệm vụ và ý nghĩa của luận án
4.1. Từ thực tế nghiên cứu truyện ngắn Việt Nam 1945 – 1975 như một
trường diễn ngôn, luận án xác lập và làm rõ khái niệm trường diễn ngôn văn học,
cụ thể ở đây là một trường diễn ngôn thể loại.
4
4.2. Chỉ ra tính chất phức tạp trong cấu trúc chỉnh thể của hiện thực truyện
ngắn giai đoạn 1945 – 1975, những tác động của trường tri thức và quyền lực tới
sự hình thành các thành phần tạo nên cấu trúc đó cũng như tác động trở lại của các
thành phần đó tới đời sống văn hóa, xã hội, chính trị giai đoạn này.
4.3. Phân tích tổng thể các thẩm quyền, chiến lược thực thi các thẩm quyền
của diễn ngôn khu vực trung tâm và khu vực ngoại biên trong trường diễn ngôn
truyện ngắn Việt Nam 1945 – 1975, từ đó có cái nhìn toàn diện về truyện ngắn
Việt Nam 1945 – 1975.
5. Bố cục của luận án
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các công trình nghiên cứu liên
quan đến đề tài luận án, Thư mục tham khảo và Phụ lục, phần Nội dung chính của
luận án được triển khai thành 4 chương:
Chương 1. Tổng quan
Chương 2. Truyện ngắn như một trường diễn ngôn
Chương 3. Diễn ngôn trung tâm trong truyện ngắn Việt Nam 1945 – 1975
Chương 4. Diễn ngôn ngoại biên trong truyện ngắn Việt Nam 1945 – 1975
5
6
người sử thi cùng với những thức nhận về con người cá nhân trong nhiều tác phẩm
đã chứng tỏ khát vọng, khả năng nắm bắt, những nỗ lực sáng tạo của nhà văn để
miêu tả cuộc sống ngày càng phong phú và sâu sắc, để tạo ra những màu sắc thẩm
mĩ ngày càng đa dạng, hấp dẫn” [57;179]. Người viết công trình này nhấn mạnh
những thành công chủ yếu trong nghệ thuật truyện ngắn 1945 – 1975: nghệ thuật
miêu tả nhân vật tập thể, xây dựng chân dung cá nhân điển hình của kiểu con người
sử thi; nghệ thuật tạo tình huống xung đột, dựng bối cảnh (không gian – thời gian)
và sắc vẻ đặc trưng trong giọng điệu, ngôn từ của truyện ngắn giai đoạn này. Những
thành công ấy chứng tỏ: “thành tựu nghệ thuật của truyện ngắn 1945 – 1975 là
phong phú và không thể phủ nhận” [57; 301].
Cũng lấy đối tượng nghiên cứu là truyện ngắn 30 năm sau Cách mạng Tháng
Tám, Nguyễn Khắc Sính trong công trình Phong cách thời đại – nhìn từ một thể
loại văn học đã phân tích các biểu hiện của phong cách thời đại trong thể loại ngắn
gọn, năng động này. Theo tác giả, truyện ngắn là thể loại có thành tựu nổi bật của
văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975, đã thể hiện độc đáo nổi bật phong cách
thời đại, phân biệt với văn học sau 1975. Nhưng vấn đề này lại hầu như chưa được
quan tâm xem xét thật sự. Từ nhận định đó, tác giả đã tập trung xem xét truyện
ngắn 1945 – 1975 và kết luận: phong cách thời đại trong truyện ngắn giai đoạn này
là sự kết hợp của bốn yếu tố hiện thực, sử thi, lãng mạn, trữ tình. Bốn yếu tố đặc
trưng đó “làm thành diện mạo của văn học một thời với màu sắc riêng của nó mà
giai đoạn trước đó chưa có và ở giai đoạn sau không lặp lại nữa” [133;362]. Không
dừng lại ở việc nêu, trình bày những yếu tố làm nên phong cách thời đại của truyện
ngắn 1945 – 1975, Nguyễn Khắc Sính còn chỉ ra sự vận động của nó: ở thời kì 1945
– 1954, yếu tố hiện thực chiếm ưu thế, sang thời kì 1955 – 1964, yếu tố trữ tình
chiếm vị trí chủ đạo, đến thời kì 1965 – 1975, yếu tố sử thi trở thành nét trội. Theo
tác giả: chính các tiền đề lịch sử, chính trị, đạo đức … đã tác động, chi phối tới sự
Và đúng như Hỏa Thị Thúy đã nêu trong Truyện ngắn Việt Nam – diện mạo
lịch sử của thể loại, “một đối tượng nghệ thuật chân chính sẽ tham gia vào những
cuộc đối thoại không bao giờ kết thúc” [121;207], sau những công trình dài hơi
lấy truyện ngắn 1945 - 1975 làm đối tượng nghiên cứu, tiếp tục có luận án Truyện
ngắn Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 (nhìn từ góc độ thi pháp thể loại) của
Nguyễn Thị Bích Thu. Ở công trình này, tác giả đã xác định và làm rõ hai loại
hình cơ bản của truyện ngắn 1945 – 1975: truyện ngắn trữ tình và truyện ngắn
hiện thực. Về loại hình nhân vật, tác giả xác định có hai kiểu người cơ bản trong
truyện ngắn 1945 – 1975: con người chính trị - con người công dân - con người
sử thi (kiểu 1) và con người cá nhân (kiểu 2). Về con người cá nhân, tác giả xác
8
định đây là kiểu nhân vật xuất hiện nhiều nhất trong một số truyện ngắn ra đời vào
những năm sau 1954. “Kiểu người này đã phải chịu sự phê phán của dư luận vì đã
đi chệch ra khỏi quỹ đạo của một nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa.Tuy
nhiên, từ chỗ đứng của ngày hôm nay, chúng tôi nhận thấy sự xuất hiện của con
người cá nhân là hợp quy luật, là sự tiếp nối của con người cá nhân trước Cách
mạng. Sau 1975, không còn chịu sự chi phối của chiến tranh, con người cá nhân sẽ
trở lại và giữ vị trí quan trọng trên văn đàn” [119;181]. Đồng thời với những ghi
nhận về đóng góp của truyện ngắn 1945 – 1975, Nguyễn Thị Bích Thu cũng chỉ ra
những hạn chế của truyện ngắn 1945 – 1975: kiểu nhân vật loại hình xuất hiện
nhiều trong truyện ngắn 1945 – 1975 và chưa có những điển hình sắc nét, chứng
tỏ các tác giả chưa nắm được bản chất của hiện thực, mới chỉ chú ý đến minh họa
đơn thuần những chủ trương chính sách. Nhân vật loại hình kết hợp với tính cách
đã xuất hiện nhưng chưa nhiều. Về giọng điệu, theo tác giả, tính chất đơn giọng là
đặc điểm riêng của truyện ngắn thời kì này. “Do chú trọng đến chức năng tuyên
truyền, cổ vũ công cuộc giữ nước mà truyện thường đi sâu khai thác mặt thuận
chiều, khiến cho hiện thực được phản ánh rơi vào sơ lược, giản đơn. Cũng do yêu
9
phẩm”. Qua những dẫn chứng cụ thể, nhà nghiên cứu chỉ ra những chủ đề được lặp
đi lặp lại ở từng chặng và cách triển khai thể hiện chủ đề đó. Ở những năm đầu cách
mạng (khoảng 1945-1948), truyện ngắn tập trung thể hiện chủ đề “dứt bỏ” - được
hiểu là “vượt lên trên chết chóc, nhưng có khi đơn giản chỉ là vượt lên trên cuộc
sống phù hoa và cả những thói quen cũ, cách đánh giá cũ”. Theo Vương Trí Nhàn,
“chỉ trong hoàn cảnh có những thay đổi đột biến như cách mạng, chủ đề dứt bỏ mới
được thực hiện”. Từ nửa sau cuộc kháng chiến chống Pháp, “thức tỉnh”, “giác ngộ”
trở thành chủ đề thường gặp trong các truyện ngắn cách mạng. Để thể hiện chủ đề
đó, có hai cách dựng truyện phổ biến: cách đi vào một vài phút giây đột biến; và
cách nói tới những thay đổi dần dà chậm rãi, cho đến khi con người hoàn toàn
“khác trước”. Mở rộng phạm vi khảo sát, tác giả kết luận: chủ đề “nhận thức” và
chủ đề “ân nghĩa ân tình” là những chủ đề “có ý nghĩa bao trùm”, “làm nên hai
mạch truyện chính của nền văn học sau Cách mạng”. “Hai mạch truyện này lại phát
triển chồng chéo lên nhau ở nhiều mô-típ cốt truyện chung mà chúng ta thấy lặp đi
lặp lại nhiều lần đến mức không thể coi là ngẫu nhiên”. Về chủ đề “nhận thức”, theo
tác giả: “Những ngày đầu Cách mạng, để dứt bỏ với quá khứ, người ta phải nhận
thức; trong những năm tháng chiến đấu, để giữ vững ý chí, người ta phải nhận thức;
mà những khi đất nước có hoà bình, để bắt tay xây dựng và bảo vệ một cuộc sống
mới, người ta càng phải nhận thức”. “Như là một điều mặc nhiên, đối với tác giả mà
cũng là đối với nhân vật, muốn giải quyết việc gì, trước tiên phải dò lại con người
của mình, phải sòng phẳng với mình đã. Trước khi bắt tay vào hành động, cả tác giả
và nhân vật đều thấy cần thiết phải bước vào một cuộc “chỉnh huấn”, tự xác định, để
rồi cứ thế mà làm. Còn mối quan hệ giữa tư tưởng và hành động không bao giờ
được đặt ra, bởi bao giờ cũng được quan niệm là nhất trí”. Với chủ đề “ân nghĩa ân
tình”, Vương Trí Nhàn xác định có hai cách dựng truyện phổ biến: cốt truyện “gặp
gỡ” hoặc “đi vào cuộc sống thường ngày”. Và dù mạch truyện được triển khai theo
nhất; mô-típ thức tỉnh, giác ngộ − một mô-típ chủ đề khác khá tiêu biểu ở văn học
thời kỳ đầu; mô-típ vươn mình, đổi đời hết sức phổ biến trong nền văn học mới;
mô-típ nén tình riêng vì nghĩa lớn của cách mạng − mô-típ phổ biến trong nhiều
sáng tác thơ và văn xuôi 1945 – 1975. Mô-típ "nén tình riêng…" lại là một trường
hợp của một mô-típ chung hơn: mô-típ quyết tâm chiến đấu. Ở văn học cách mạng
thời kì 1955 – 1964, mô-típ ân tình cách mạng - một trong những cách để cụ thể
hóa mô-típ "niềm vui cách mạng" thể hiện đặc biệt rõ; mô-típ xả thân vì nghĩa lớn
là mô-típ chủ đề phổ biến nhất trong văn học từ giữa những năm 1960 đến giữa
những năm 1970. Cũng ở khoảng thời gian những năm 1960-1970, trình bày nội
11
dung ngày thường của đời sống cách mạng là một mô-típ nghệ thuật có phạm vi
thể hiện khá rộng rãi trong sáng tác, nhất là ở văn xuôi. Mô-típ này được thể hiện
ở hai dạng thường gặp nhất: truyện chiến đấu và truyện sản xuất, tương ứng với
hai phạm vi được coi là hiện thực cách mạng quan trọng nhất trong đời sống chính
trị đất nước đương thời. Trên cơ sở mô tả những mô-típ chủ đề chính đã được tạo
ra trong nền văn học mới Việt Nam từ sau cách mạng (“nền văn học mới” được
khảo sát ở đây kéo dài từ 1945 tới 1985), Lại Nguyên Ân đi tới kết luận: “Có thể
thấy rõ là trong nền văn học mới của bốn chục năm qua, chủ yếu là văn học thời
gian 1945-1975, những nhóm thể tài thế sự và đời tư tương đối ít phát triển.
Chiếm vị trí chủ đạo là nhóm thể tài lịch sử dân tộc. Do vậy tính chất sử thi là đặc
điểm nổi bật, quyết định của nền văn học này”. Tác giả chỉ ra: thể tài đời tư với tư
cách là một thể tài độc lập rất ít phát triển trong nền văn học mới. Nó chỉ là một
yếu tố chức năng để triển khai những chủ đề văn học bao quát hơn − những chủ đề
gắn chặt với lợi ích dân tộc, với lịch sử dân tộc đương đại, với nội dung chính trị
của thời đại. Thể tài thế sự trong nền văn học mới tương đối phát triển hơn so với
thể tài đời tư. Tuy nhiên, về cơ bản, yếu tố thế sự vẫn ít phát triển và chủ yếu tồn
tại trong quan hệ phối thuộc (trực tiếp hoặc gián tiếp) với thể tài lịch sử-dân tộc
rất lớn. Các vấn đề được nêu ra về truyện ngắn 1945 – 1975 “phong phú và đa
dạng như chính đối tượng mà nó hướng tới” [121;4] (mà ở đây, chúng tôi chỉ điểm
qua các công trình được xem là tiêu biểu cho những hướng nghiên cứu đã có về
đối tượng này). Tuy nhiên, có thể thấy, cho đến nay, các công trình, bài báo về
truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 hầu như mới chỉ tập trung nói về
những tác phẩm thể hiện đường lối tư tưởng của Đảng, những sáng tác “được thừa
nhận” của nền văn học này. Những truyện ngắn chưa quán triệt đường lối, từng bị
phê phán thì rất ít được nhắc đến. Khoan chưa bàn vấn đề đúng sai về tư tưởng
của các tác phẩm từng bị phê phán đó, chúng tôi chỉ muốn nói rằng nếu chúng ta
dành sự chú ý cho cả những tác phẩm từng bị xem là “lệch chuẩn” của truyện
ngắn 1945 - 1975, chắc chắn cái nhìn, đánh giá về diện mạo, đặc điểm thể loại
truyện ngắn giai đoạn này sẽ toàn diện và chính xác hơn. Bên cạnh đó, truyện
ngắn 1945 – 1975, trong hầu hết các công trình đã có đều mới chủ yếu được xem
xét trong phạm vi lời nói nghệ thuật. Nói cách khác, truyện ngắn 1945 – 1975
(cũng như văn học nói chung) hầu như mới được nghiên cứu như một đơn vị nghệ
thuật chứ chưa được nghiên cứu như một đơn vị của giao tiếp – một loại diễn
ngôn, một thể loại lời nói. Trong bài viết Vấn đề thể loại lời nói, M. Bakhtin nhận
định: “Vấn đề thể loại lời nói chưa bao giờ được đặt ra một cách chính thức. Mới
chỉ có các thể loại văn học được nghiên cứu nhiều nhất. Nhưng từ thời cổ đại tới
13
bây giờ, chúng chỉ được nghiên cứu trong phạm vi đặc trưng văn học – nghệ thuật,
trong sự khác biệt giữa chúng với nhau (trong phạm vi văn học), chứ không được
nghiên cứu như những loại hình phát ngôn cụ thể” [94;10]. Nhận định đó đúng với
tình hình nghiên cứu văn học nói chung ở thời điểm mà M. Bakhtin viết tiểu luận
Vấn đề thể loại lời nói (những năm 1952, 1953), và về cơ bản vẫn đúng với tình
hình nghiên cứu văn học nói chung, nghiên cứu truyện ngắn Việt Nam 1945 –
1975 nói riêng tới nay. Vấn đề là tại sao cần nghiên cứu văn học như một diễn
gọi là ngôn từ, là lời nói, là văn bản hay phát ngôn, về thực chất M.Bakhtin đã nói
về diễn ngôn (discourse). Theo sự diễn giải của J.Kristeva trong Một nền thi pháp
học sụp đổ thì “Nghĩa trực tiếp thứ nhất và thông dụng của từ này là “lời” (mot –
tiếng Pháp). Tuy nhiên, từ này còn có một nghĩa thứ hai, với một sự mở rộng
nghĩa cổ và có tính ẩn dụ, đó là “diễn ngôn” (discourse). Và với nghĩa thứ hai,
slovo – discourse là khái niệm chỉ ngôn ngữ được phát ra bởi một chủ thể và/hoặc
cái mà một chủ thể thực hiện trong ngôn ngữ” [94;75].
Từ giữa thế kỉ XX trở đi, khái niệm diễn ngôn (discourse) với tư cách là
một thuật ngữ xuất hiện và trở thành khái niệm trung tâm, được lưu hành rộng rãi
trong khoa học xã hội nhân văn. Bằng chứng là từ thời điểm này, đã ra đời hàng
loạt công trình nghiên cứu về diễn ngôn, trước hết dưới góc độ ngôn ngữ học và
triết học ngôn ngữ, sau đó dưới góc độ ngữ văn học và triết học xã hội, tiêu biểu
như: Nghiên cứu triết học (L.Wittgenstein, 1953), Vấn đề các thể loại lời nói
(M.Bakhtin, 1953), Độ không của lối viết (1953), Những huyền thoại (1957) của
R.Barthes, Trên đường đến với ngôn ngữ (M.Heidegger, 1959), Chân lý và
phương pháp (G.Gadamer, 1960), Từ ngữ và các vật (M.Foucault, 1966), Ngữ
pháp truyện Mười ngày (1969), Khảo cổ học tri thức (M.Foucault, 1969), S/Z
(R.Barthes, 1970), Dẫn luận văn chương kì ảo (1970), Thi pháp văn xuôi (1971)
của T.Todorov, Trật tự diễn ngôn (M.Foucault, 1971) Mĩ học sáng tạo ngôn từ
(M.Bakhtin, 1979), Cẩm nang về diễn ngôn – phân tích của T.A.Van Dijk (1985),
Diễn ngôn tự sự (G.Genette, 1988), Dẫn nhập phân tích diễn ngôn (D.Nunan,
1990) .v.v, Thi pháp học: từ điển các thuật ngữ và khái niệm bức
thiết (N.D.Tamarchenko chủ biên, 2008) v.v…
Đến nay, nghiên cứu diễn ngôn đã có một lịch sử tương đối dài và vấn đề
diễn ngôn ngày càng trở nên phức tạp, là cơ sở dẫn tới sự xuất hiện ngày càng
nhiều những công trình giới thuyết, tổng thuật về nghiên cứu diễn ngôn, trong đó,
Từ điển bách khoa thư về lí luận văn học hiện đại - mục từ Diễn ngôn của M.
Christine (1993), Diễn ngôn của S.Mills (1997), Các lí thuyết diễn ngôn hiện đại:
kinh nghiệm phân loại của O.F.Rusakova (2006) v.v... là những công trình giới
nghiên cứu diễn ngôn – từ ngôn ngữ học đến triết học xã hội học đã được nhắc
đến. Tuy nhiên, qua tổng thuật của Rusakova, có thể thấy, ở cả ba hướng phân loại
lí thuyết diễn ngôn của T.A.Van Dijk, J.Torfing, M.Jorgensen và L.Phillips đều
chưa thấy nhắc tới tên tuổi M.Bakhtin và các học giả Nga như Tamachenko và
16
Chiupa cùng quan niệm đáng chú ý của họ về các thể loại lời nói – diễn ngôn, diễn
ngôn văn học. Theo chúng tôi, khi tổng quan về lịch sử nghiên cứu lí thuyết diễn
ngôn trên thế giới, không thể không nhắc tới nhánh nghiên cứu diễn ngôn theo
hướng “siêu ngôn ngữ học” mà M.Bakhtin là người khởi đầu, được J.Kristeva,
N.D.Tamachenko, V.I.Chiupa … vận dụng, phát triển. Thành tựu và quan niệm
của các tác giả thuộc hướng nghiên cứu này sẽ được chúng tôi nhắc tới khi điểm
lại một số công trình tổng thuật, lược thuật của các nhà nghiên cứu Việt Nam về
sự phát triển của lí thuyết diễn ngôn cũng như khi vận dụng để xác lập cơ sở lý
thuyết cho đề tài này.
1.2.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề diễn ngôn được giới thiệu sớm nhất trong lĩnh vực ngôn
ngữ học. Có thể kể tên các công trình như: Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt của
Trần Ngọc Thêm (1985), Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Giao tiếp diễn ngôn
và cấu tạo văn bản của Diệp Quang Ban (1998, 2009), Dụng học Việt ngữ của
Nguyễn Thiện Giáp (2000), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2 của Đỗ Hữu Châu
(2001), Phân tích diễn ngôn – một số vấn đề lí luận và phương pháp của Nguyễn
Hoà (2003), Từ điển tu từ – phong cách – thi pháp học của Nguyễn Thái Hoà
(2005).v.v.
Khi xem xét lịch sử sử dụng thuật ngữ diễn ngôn ở ta, không thể không nhắc
tới một số công trình nghiên cứu về diễn ngôn của nước ngoài được dịch sang tiếng
Việt, xuất hiện gần như đồng thời với những công trình biên soạn và nghiên cứu về
diễn ngôn của các nhà ngôn ngữ học trong nước, như: Dụng học, một số dẫn luận
“discourse” (Trần Đình Sử dịch là ngôn từ, nhưng nội hàm khái niệm được xác
định ở đây tương đương khái niệm diễn ngôn), tác giả đã nêu những luận điểm được
coi là cốt lõi nhất trong lí thuyết diễn ngôn của M.Foucault như: “ngôn từ là hoạt
động thực tiễn chủ yếu của con người, là hình thức biểu hiện ngôn ngữ của một
quần thể người trong một điều kiện xã hội, lịch sử nhất định”, “cơ chế thầm kín chi
phối quá trình biểu đạt ý nghĩa của ngôn từ đó là hình thái xã hội, trạng thái tri thức
của con người và cơ chế quyền lực trong xã hội”. Từ hiểu biết này, chúng ta nhận ra
rằng, khi coi mỗi tác phẩm văn học là một diễn ngôn, thì để hiểu diễn ngôn ấy, một
trong những việc chúng ta cần thực hiện là phải tìm hiểu những yếu tố đã chi phối
sự biểu đạt của tác phẩm. Cũng trong bài viết vừa nêu, trên cơ sở giới thiệu, phân
tích quan niệm của M.Bakhtin và M.Foucault về diễn ngôn, Trần Đình Sử chỉ ra
con đường hợp lí để tìm hiểu ngôn từ văn học là phải xuất phát từ sự thống nhất
giữa ngôn từ và ý thức. Và chỉ dẫn này giúp chúng ta hiểu rõ hơn thao tác cần thực
hiện khi nghiên cứu văn học từ góc độ diễn ngôn.
18
Năm 2008, trong bài viết Những bậc tiên phong của tư duy hậu hiện đại
nhà nghiên cứu Phương Lựu đã giới thiệu và chỉ ra “một số vấn đề trọng điểm”
trong quan niệm về diễn ngôn của M.Foucault: tri thức, quyền lực, trách nhiệm.
Tri thức – hệ hình tri thức là “nhận thức chung của cộng đồng” trong một thời đại
nhất định. “Hệ hình tri thức là cái gì gần như vô thức bao trùm lên từng thời đại,
khiến cho cùng một hiện tượng lại được nhận biết rất khác nhau qua từng thời
đại”. Tri thức luôn gắn bó chặt chẽ với quyền lực - “Cái gọi là chân lý tuyệt đối
chẳng qua là được quyết định bởi địa vị quyền uy cùng hình thái ý thức đại diện
cho nó”.“Cùng với tri thức và quyền lực, trách nhiệm cũng là một trọng điểm
nghiền ngẫm và suy tư của M.Foucault”. “Nếu tri thức là hư cấu của từ ngữ, quyền
lực là hư cấu của sự vật, thì trách nhiệm là hư cấu của chủ thể”. Và “mặc dù trong
từng lúc có thể đột xuất lên một khía cạnh nào đó, nhưng xét trong cả quá trình
ngôn và tư duy của cá nhân. Nó vừa bị lệ thuộc vào cấu trúc nội tại của các tương
quan quyền lực, vừa hoạt động giống như một kiểu “diễn ngôn toàn trị”, một sức
mạnh áp đặt hợp thức. Cho nên, “trường tri thức thời đại” không thể mang tính
khách quan, trung tính. Những diễn giải như vậy tiếp tục bồi đắp cho chúng ta hiểu
biết về diễn ngôn, đồng thời gợi ý cho việc xác lập vấn đề nghiên cứu khi tìm hiểu
diễn ngôn văn học.
Năm 2013, trong bài viết Khái niệm diễn ngôn trong nghiên cứu văn học
hôm nay, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã trình bày ngắn gọn, khái quát các vấn đề
cơ bản của nghiên cứu diễn ngôn: nội hàm khái niệm và nguyên nhân nảy sinh vấn
đề diễn ngôn. Theo tác giả, “Một thuật ngữ mới chỉ xuất hiện khi nào phát hiện chỗ
khiếm khuyết trong hệ hình tiếp cận cũ” [144].Việc F. de Sausure đối lập ngôn ngữ
với lời nói, chỉ nghiên cứu ngôn ngữ - hệ thống các nguyên tắc chi phối việc sử
dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng, cú pháp đã bỏ ngỏ phạm vi lời
nói và đây là cơ sở để các nhà ngữ học sau F. de Sausure mở ra lĩnh vực nghiên cứu
mới có tên gọi phân tích diễn ngôn. Theo tác giả Khái niệm diễn ngôn trong nghiên
cứu văn học hôm nay, về cơ bản, có ba hướng nghiên cứu diễn ngôn trên thế giới:
hướng nghiên cứu diễn ngôn trong ngôn ngữ học, nghiên cứu diễn ngôn trong văn
học và nghiên cứu diễn ngôn theo hướng xã hội học, lịch sử tư tưởng. Ở mỗi hướng
nghiên cứu, tác giả đã xác định những đại diện tiêu biểu và chỉ ra những luận điểm
cơ bản về lí thuyết diễn ngôn của từng hướng. Theo chúng tôi, đây là một công trình
tổng thuật có giá trị về nghiên cứu diễn ngôn, giúp người đọc có ý niệm cơ bản về
tình hình nghiên cứu diễn ngôn trên thế giới.
20
Cũng năm 2013, trong “Diễn ngôn”: Xung quanh chuyện từ dùng và thuật
ngữ đối ứng, Lê Thời Tân đã cho ta ý niệm rõ hơn về thuật ngữ diễn ngôn. Tác giả
bài viết này chỉ ra sự tương đồng và khác biệt trong nghiên cứu diễn ngôn của các
nhà tự sự học như R.Barthes, Tz.Todorov, G.Genette với các nhà ngôn ngữ học.
nào đó cần tạo ra một cấu trúc nhất định. Ông nêu ví dụ: bất cứ ai, khi viết một
bức thư nào đó (kể cả thư cho đối tác trong kinh doanh) cũng đều phải cân nhắc
nên thể hiện bức thư theo hình thức như thế nào. Tác giả của tác phẩm nghệ thuật
cũng hành xử như vậy (phải cân nhắc cách thể hiện từ ngữ, cú pháp). Và độc giả người tiếp nhận, để hiểu nghĩa tác phẩm, cần phân tích cấu trúc tác phẩm, nói một
cách rõ ràng hơn, cần phân tích cách kiến tạo bức tranh thế giới của người sáng
tạo để xác định được điều tác giả muốn nói. Có thể nói, với người nghiên cứu diễn
ngôn văn học, những luận điểm như trên của N. D. Tamarchenko và V. I. Chiupa
là những điểm tựa lí thuyết quan trọng.
Bên cạnh những công trình lược thuật, tổng thuật, dịch thuật về diễn ngôn
như trên, còn phải kể tới các công trình biên soạn của các nhà nghiên cứu khác ít
nhiều đề cập tới vấn đề diễn ngôn, như: Chủ nghĩa cấu trúc và văn học của Trịnh
Bá Đĩnh (2002), Sự đỏng đảnh của phương pháp do Đỗ Lai Thúy biên soạn và
giới thiệu (2004), Tác phẩm như là quá trình của Trương Đăng Dung (2007), Lí
luận – phê bình văn học thế giới thế kỉ XX, tập 1, 2 do Lộc Phương Thủy chủ
biên (2007) .v.v…
Cùng với những công trình giới thiệu quan niệm của các học giả trên thế
giới về diễn ngôn, nhất là của M. Bakhtin và M. Foucault, trong những năm gần
đây xuất hiện một số bài viết, chuyên luận vận dụng quan điểm diễn ngôn của các
học giả này để phân tích các hiện tượng văn học. Dưới đây, chúng tôi điểm qua
một vài công trình đáng chú ý.
Diễn ngôn về tính dục trong văn xuôi hư cấu Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến
1945 của Trần Văn Toàn là một chuyên luận hữu ích với người nghiên cứu diễn
ngôn. Trong công trình này, tác giả đã giới thiệu khái quát quan niệm về tính dục
của M.Foucault: Theo M.Foucault: “Không nên nghĩ về tính dục như một cái gì đó
tồn tại khách quan mà quyền lực cố gắng kiềm chế hoặc như một lĩnh vực mờ tối
mà tri thức cố gắng từng bước khám phá ra. Tính dục là một tạo tác mang tính lịch
sử (historical construct)”. Một cách khái quát, tính dục có nguồn gốc từ những
thiết chế văn hóa hơn là từ những cơ chế sinh học. Vận dụng quan niệm này của
M.Foucault, Trần Văn Toàn đã đi vào phân tích diễn ngôn về tính dục trong văn