Vai trò của gia đình trong việc ngăn ngừa tội phạm vị thành niên - Pdf 41

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN HÀ NỘI
------------------

NGUYỄN BÍCH HÒA

VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG VIỆC
NGĂN NGỪA TỘI PHẠM VỊ THÀNH NIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

Hà Nội - 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN HÀ NỘI
------------------

NGUYỄN BÍCH HÒA

VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG VIỆC
NGĂN NGỪA TỘI PHẠM VỊ THÀNH NIÊN

Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số
: 60 31 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Nhƣ Trang

Hà Nội - 2016

đỡ tôi trong quá trình thu thập thông tin và dữ liệu phục vụ cho đề tài nghiên
cứu.
Tôi xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo UBND, HĐND quận Đống Đa,
huyện Thanh Trì, Ban giám hiệu, các thầy cô giáo, học sinh và phụ huynh học
sinh Trường THPT Phan Huy Chú, Trường THCS Đông Mỹ đã giúp đỡ và
tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Cuối cùng, tôi xin dành lời biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè tôi đã
luôn động viên và sát cánh hỗ trợ cả về vật chất lẫn tinh thần để tôi có thể
toàn tâm, toàn ý cho công việc.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 1 năm 2016
Tác giả luận văn

Nguyễn Bích Hòa


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
1. Lý do lựa chọn đề tài ................................................................................... 1
2. Ý nghĩa nghiên cứu ..................................................................................... 2
3. Tổng quan nghiên cứu ................................................................................ 3
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................. 8
5. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu ............................................... 8
6. Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................ 8
7. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu .......................................... 9
8. Kết cấu của luận văn ................................................................................... 9
NỘI DUNG CHÍNH ...................................................................................... 11
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU............................................................................................... 11
1.1 Khái niệm công cụ của đề tài ................................................................. 11

3.2.1 Kỷ luật gia đình ..................................................................................... 71
3.2.2 Tương quan kỷ luật gia đình với khuynh hướng lệch chuẩn của vị
thành niên ....................................................................................................... 82
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ............................................................... 87
1. Kết luận ...................................................................................................... 87
2. Khuyến nghị ............................................................................................... 88
2.1 Về phía gia đình: ...................................................................................... 88
2.2 Về phía nhà trường: ................................................................................. 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 91


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT Chữ viết tắt
1
VTN
2
QHTD
3
QHTDTHN

Chữ viết đầy đủ
Vị thành niên
Quan hệ tình dục
Quan hệ tình dục trước hôn nhân


DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1.1.1: Thái độ của vị thành niên khi chứng kiến bạo lực phân theo giới
tính (%) ..................................................................................................................30
Bảng 2.1.1.2: Thái độ của vị thành niên khi chứng kiến bạo lực theo địa bàn cư

Bảng 3.1.1.1: Đánh giá của vị thành niên về mối quan hệ trong gia đình phân theo
địa bàn cư trú và học lực (%) .................................................................................60
Bảng 3.1.2.2: Mức độ gắn kết gia đình của vị thành niên phân theo giới tính (%) ......... 64
Bảng 3.1.2.1.1: Thái độ của vị thành niên với bạo lực và sự gắn kết gia đình (%) ...... 67
Bảng 3.2.1.1: Vị thành niên được hỏi ý kiến trong các quyết định công việc của
gia đình phân theo địa bàn cư trú và học lực (%) ..................................................73
Bảng 3.2.1.2: Những công việc mà vị thành niên được hỏi ý kiến phân theo giới
tính (%) ..................................................................................................................74
Bảng 3.2.1.3: Những công việc mà vị thành niên được hỏi ý kiến phân theo địa
bàn cư trú và học lực (%).......................................................................................75
Bảng 3.2.1.4: Ứng xử của cha mẹ khi vị thành niên mắc lỗi phân theo giới tính
(%) .........................................................................................................................76
Bảng 3.2.1.5: Ứng xử của cha mẹ khi vị thành niên mắc lỗi phân theo địa bàn cư
trú và học lực (%) ..................................................................................................78
Bảng 3.2.1.6: Nhận xét của vị thành niên về phương pháp giáo dục của gia đình
phân theo giới tính (%) ..........................................................................................79
Bảng 3.2.2.1.1: Sự phù hợp của phương pháp giáo dục của gia đình với thái độ
phản đối bạo lực của VTN (%) ..............................................................................82
Bảng 3.2.2.1.2: Tương quan giữa sự phù hợp của phương pháp giáo dục với thái
độ ủng hộ bạo lực của VTN (%) ............................................................................83
Bảng 3.2.2.1.3: Tương quan giữa sự phù hợp của phương pháp giáo dục với hành
vi sử dụng bạo lực của VTN (%) ...........................................................................84
Bảng 3.2.2.2.3: Tương quan giữa sự phù hợp của phương pháp giáo dục với quan
niệm về QHTDTHN của VTN (%) .......................................................................84


DANH MỤC HÌNH

Biểu 2.2.2.1. Quan hệ tình dục của vị thành niên ........................................... 48
Biểu 3.1.1.1. đánh giá của VNT về mối quan hệ trong gia đình .................... 57

Lứa tuổi VTN có đặc điểm về thể chất đặc trưng biểu hiện của con người
trưởng thành. Về mặt tâm lý - xã hội thì lứa tuổi này còn non nớt, kinh nghiệm sống
còn ít, sự định hướng về giá trị xã hội còn thấp, tính kiềm chế trong các em còn hạn
hẹp. Nhu cầu cơ bản của các em là nhu cầu ăn uống, tự vệ chiếm ưu thế, không biết
đánh giá đúng hiện tượng, có thiên hướng bắt chước nhưng muốn vươn lên tự
khẳng định mình, muốn trở thành người lớn nhưng lại chưa hiểu rằng các em muốn
làm được điều đó thì phải hành động theo một khuôn khổ nhất định, theo đúng pháp
luật, phù hợp với phong tục, tập quán của dân tộc. Điều đó có nghĩa là các em phải
tuân theo đúng chuẩn mực mà xã hội đòi hỏi. Là thành viên của xã hội, công dân
tương lai của đất nước, trẻ vị thành niên tiếp nhận và lĩnh hội các chuẩn mực này
thông qua con đường tự phát (thông qua sự tác động của xã hội) và con đường tự
giác (thông qua giáo dục của gia đình và nhà trường).

1


Chính vì vậy, môi trường chăm sóc, giáo dục và văn hóa của gia đình đối với
trẻ VTN có vai trò to lớn tới sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ vị thành
niên. Vào thời kỳ bộc phát, trẻ vị thành niên thường không có kiến thức hoặc không
đủ kiến thức để ra những quyết định chín chắn và hợp lý trong tất cả các lĩnh vực
của cuộc sống. Lúc này, cha mẹ giữ vai trò là cầu nối gắn kết quan trọng, là người
động viên, nâng đỡ khi trẻ vị thành niên tìm tòi, khám phá thế giới xã hội rộng lớn
và phức tạp. Chính vì vậy mà Đảng, Nhà nước luôn khẳng định gia đình là tế bào
của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và
giáo dục nhân cách, góp phần vào xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuyên bố của Liên
Hợp về tiến bộ xã hội trong phát triển khẳng định: “Gia đình là đơn vị cơ bản của tổ
chức xã hội và là môi trường tự nhiên cho phát triển và hạnh phúc của mỗi thành
viên, nhất là trẻ em”. Vì vậy, việc tìm hiểu “Vai trò của gia đình trong việc ngăn
ngừa tội phạm vị thành niên” có ý nghĩa quan trong nhằm làm rõ thêm vai trò của
gia đình trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Tuy nhiên, để tìm hiểu vai

3. Tổng quan nghiên cứu
- Đề tài cấp Nhà nước về “Chính sách xã hội trong việc phòng ngừa và ngăn
chặn các tệ nạn xã hội” do Tổng Cục cảnh sát nhân dân tiến hành thuộc chương
trình nghiên cứu cấp nhà nước KX-04, tiến hành năm 1993 do Tiến sĩ Lê Thế Tiệm
làm chủ nhiệm. Đây là một trong những đề tài nghiên cứu quy mô đầu tiên có liên
quan đến tội phạm trong đó có tội phạm vị thành niên. Bên cạnh việc nghiên cứu về
tệ nạn xã hội, coi tệ nạn xã hội là xuất phát từ những sai lệch trong nhận thức và
hành vi, đề tài cũng đặt ra nhiều quan điểm lý thuyết, đồng thời cũng tiến hành khảo
sát quy mô về những nhận thức và hành vi của nhóm tội phạm trong đó có tội phạm
vị thành niên. Các số liệu nghiên cứu nay đã là cũ rồi nhưng vẫn còn có giá trị phân
tích, so sánh tốt để thấy rõ những biến đổi trong vấn đề tội phạm trong nhiều năm
qua.
- Công trình nghiên cứu cấp Bộ của của Viện nghiên cứu thanh niên do GS
Đặng Cảnh Khanh chủ trì thực hiện về “Vị thành niên, chính sách vị thành niên và
công tác phòng ngừa tội phạm vị thành niên” được tiến hành năm 2004. Đề tài này
đã triển khai tương đối rộng rãi các đối tượng vị thành niên, chọn mẫu khảo sát một
cách chặt chẽ, kết hợp giữa chọn mẫu ngẫu nhiên và chọn mẫu có chủ định, tiến
hành điều tra trên 2.107 đối tượng vị thành niên thuộc nhiều nhóm xã hội khác
nhau, sinh sống tại nhiều vùng trọng điểm như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh,
Huế, một số địa bàn nông thôn thuộc đồng bằng sông Hồng và một vùng miền núi.
- Cùng tham gia vào những nghiên cứu về vị thành niên trong những năm
2000-2005 còn có công trình điều tra khá công phu có tên là “Vị thành niên ở Việt
nam - từ đặc điểm đến chính sách” của Đặng Nguyên Anh và nhóm nghiên cứu của
Viện Xã hội học. Đề tài đã tổ chức điều tra khảo sát thực tiễn rộng, xử lý kết quả
công phu và đưa ra nhiều số liệu có tính phát hiện rất đáng chú ý. Không nghiên
cứu chuyên sâu vào tội phạm vị thành niên nhưng với kết quả thu được, nhóm
nghiên cứu cũng đưa ra những lời cảnh báo rất đáng lưu tâm về những nguy cơ sẽ
có sự gia tăng đột biến về tội phạm vị thành niên nếu chúng ta không có các giải
phap pòng ngừa kịp thời.
- Trong những công trình nghiên cứu có liên quan đến tội phạm vị thành niên

tập vì môi trường và cộng đồng đã tiến hành nghiên cứu về "Tính trung thực trong
thanh niên Việt Nam”. Mặc dù không đề cập trực diện đến vấn đề tội phạm vị thành
niên nhưng nhóm tác giả do PGS.TS Đặng Ngọc Dinh chỉ đạo đã đi sâu phân tích
những sự không trung thực trong thanh thiếu niên. Đây chính là những sai lệch có
thể dẫn tới tội phạm. Nhóm tác giả được tiến hành nghiên cứu công phu, nghiêm
túc, đã phác họa được khá trung thực hình ảnh của lớp thanh thiếu niên Việt Nam
hiện nay với bề bộn những nỗ lực và lo toan từ cuộc sống hàng ngày, những khó
khăn và thách thức và nổi bật lên là những đặc điểm cá nhân mà tính trung thực là
điểm hội tụ tiêu biểu nhất. Gắn việc tìm hiểu về tính trung thực với việc giải quyết

4


những vấn đề hết sức cụ thể của cuộc sống hàng ngày, nhóm tác giả đã đưa ra được
nhiều thông tin tốt ,có giá trị tham khảo khoa học, phát hiện được nhiều điểm mới.
- Đề tài cấp nhà nước về “Thực trạng và xu hướng biến đổi lối sống của thanh
niên Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế”, thuộc Chương trình:
KX.03/06-10 “Xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam trong tiến trình
đổi mới và hội nhập quốc tế” do PGS-TS Phạm Hồng Tung, Đại học quốc gia Hà
Nội chủ trì đã tổ tiến hành các khảo sát rộng rãi nhằm thu thập dữ liệu, dữ kiện để
làm rõ thực trạng lối sống của thanh niên Việt Nam hiện nay, trong đó tập trung vào
một số nhóm thanh niên có tính đại diện cao cho thanh niên cả nước, như thanh niên
học sinh, sinh viên - trí thức, thanh niên nông thôn, thanh niên công nhân tập trung
ở các khu công nghiệp, khu chế xuất lớn, thanh niên trong các lực lượng vũ trang,
thanh niên thuộc một số dân tộc ít người ở nông thôn miền núi, thanh niên là tín đồ
của một số tôn giáo…
Đề tài đã phân tích rõ hiện trạng, những nguyên nhân và thách thức dẫn đến
lối sống của thanh thiếu niên hiện nay, đưa ra một số luận điểm khoa học quan
trọng cho việc xây dựng lối sống mới trong thanh thiếu niên phù hợp với nhu cầu
phát triển của đất nước. Nghiên cứu của đề tài cũng chỉ ra 4 đặc điểm và xu hướng

hư, những vị thành niên có tiền án, tiền sự ra kiểm điểm trước cộng đồng. Những
hoạt động trên, bước đầu đã đem lại những hiệu quả nhất định. Tuy nhiên, nó cũng
cần phải được phân tích, đánh giá và rút kinh nghiệm sâu hơn, trước khi có thể nhân
rộng ra thực tiễn.
- Năm 2007, TS Nguyễn Thị Bích Điểm cùng với nhóm nghiên cứu của Viện
nghiên cứu Thanh niên đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Khảo sát đánh giá thực
trạng công tác phòng chống ma túy trong thanh niên của Đoàn TNCS Hồ Chí
Minh”. Đề tài đã tiến hành khảo sát 2000 thanh thiếu niên, trong đó có 300 người
nghiện ma túy. Với một dung lượng mẫu nghiên cứu lớn, phương pháp vận dụng
nghiên cứu hợp lý, đề tài đã phác họa được những nét trung thực vê tình hình thanh
thiếu niên nghiện ma túy và công tác phòng chống ma túy của đoàn thanh niên
trong thời gian gần đây. Tuy nhiên do nghiêng về mảng nghiên cứu định lượng nên
một số điểm cụ thể mang tính định tính về đối tượng này chưa được phân tich kỹ.
- Năm 2009, GS.TS Đặng Cảnh Khanh và GS.TS Lê Thị Quý xuất bản cuốn
Gia đình học, NXB Chính trị hành chính quốc gia, Hà Nội, trong đó có dành một
phần, gồm 3 chương phân tích về những sai lệch văn hóa gia đình dẫn tới các sai
lệch xã hội. Các tác giả cũng nhấn mạnh tới vai trò của gia đình trong việc ngăn
chặn tội phạm ở vị thành niên. Các nghiên cứu nói trên, mặc dù chỉ đi vào một số
những nội dung của vấn đề tội phạm vị thành niên nhưng cũng có nhiều gợi ý tốt
cho việc nghiên cứu sâu hơn vào chủ đề này.
- Năm 2010, TS Đàm Hữu Đắc, Thứ trưởng Bộ Lao động và Thuơng binh xã
hội cũng chủ trì một đề tài nghiên cứu về “Thực trạng vấn đề tệ nạn xã hội và công
tác phòng chống tệ nạn xã hội trong thời kỳ đổi mới”. Mặc dù đề tài chỉ tập trung
vào hai dạng tệ nạn xã hội là ma túy và mãi dâm, nhưng nhóm nghiên cứu đã phác
họa được những nét khái quát về nguyên nhân và thực trạng vấn đề thanh niên và vị
thành niên tham gia vào các tệ nạn. Bức tranh chung có phần ảm đạm về tình hình
tệ nạn xã hội được đưa ra trong đề tài là những lời cảnh tỉnh thiết thực với các nhà
quản lý, giáo dục, phòng chống và ngăn ngừa tội phạm vị thành niên.
6


tìm hiểu cơ bản, bước đầu mang tính định hướng hoặc thăm dò, phục vụ cho những
nhiệm vụ trước mắt. Hơn nữa, do những mục tiêu, nội dung và cách tiếp cận khác
nhau mà kết quả thu được cũng khác nhau, còn có những sự tản mạn và những mặt
hạn chế. Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có được một công trình mang tính hệ
thống, liên ngành đi sâu vào lĩnh vực tội phạm vị thành niên, nhất là tổng kết một
cách hệ thống những quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề
phòng ngừa và ngăn chặn tội phạm vị thành niên. Chúng ta cũng chưa có điều kiện
đi sâu phân tích để xây dựng và đưa ra được một bộ khung về lý luận, phương
7


pháp luận và các phương pháp thống nhất nhằm tập hợp được sức mạnh tổng hợp
chung của toàn xã hội cho công tác quan trọng này. Do vậy mà hiệu quả của công
tác phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm vị thành niên trong phát triển xã hội và quản
lý phát triển xã hội còn có nhiều hạn chế.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá khuynh hướng lệch chuẩn ở VTN: bạo lực, quan hệ tình yêu - tình
dục rủi ro, tiêu cực hối lộ.
- Tìm hiểu tác động của gia đình đối với khuynh hướng lệch chuẩn của VTN.
Cụ thể, tìm hiểu tác động của sự gắn kết với gia đình của VTN và kỷ luật gia đình
với khuynh hướng lệch chuẩn của VTN.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đánh giá các hành vi lệch chuẩn của vị thành niên.
- Tìm hiểu vai trò của gia đình trong ngăn ngừa tội phạm vị thành niên như thế
nào?
+ Vai trò của sự gắn kết gia đình.
+ Vai trò của kỷ luật gia đình.
5. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu

Theo giới tính: Nam là 55.6%, Nữ là 44.4%.
Theo địa bàn: Nông thôn là 52.0%, Thành thị là 48%.
Theo học lực: Giỏi là 18.4%, Khá là 52.4%, Trung bình là 28.0%, Yếu là
1.2%.
6.2. Định tính: phỏng vấn sâu và thào luận nhóm gồm: phụ huynh học sinh: 4
phỏng vấn sâu, ban giám hiệu: 2 phỏng vấn sâu, giáo viên: 4 phỏng vấn sâu và học
sinh (vị thành niên): 6 phỏng vấn sâu và 2 thảo luận nhóm.
7. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
7.1. Câu hỏi nghiên cứu
- Các hành vi lệch chuẩn của vị thành niên có khuynh hướng như thế nào? Có
gì khác biệt về sự lệch chuẩn giữa các nhóm nhân khẩu xã hội khác nhau hay không
về thái độ? Về hành vi?
- Gia đình có vai trò gì trong việc ngăn ngừa các hành vi lệch chuẩn của vị
thành niên hay không?
7.2. Giả thuyết nghiên cứu
- Hành vi lệch chuẩn của vị thành niên hiện nay có nhưng không quá nhiều.
- Sự gắn kết gia đình và kỷ luật gia đình có ảnh hưởng nghịch chiều tới
khuynh hướng lệch chuẩn của vị thành niên.
8. Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu theo logich, ngoài phần Mở đầu; Kết luận, khuyến
nghị; Tài liệu tham khảo; Phụ lục; Bảng biểu; Nội dung chính của luận văn có kết
cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài: Chương này tổng quan một số nghiên cứu
liên quan đến đề tài, làm rõ các khái niệm công cụ và lý thuyết vận dụng trong
nghiên cứu.
Chương 2: Khuynh hướng lệch chuẩn của vị thành niên: tập trung mô tả thái
độ và hành vi của vị thành niên với bạo lực, với quan hệ tình dục và với tiêu cực.
9



tồn tại được khi hành vi sinh sản vẫn còn được duy trì. Chức nãng này được coi là
một giá trị của gia đình mà từ cổ chí kim loài người phải thừa nhận. F.Engel, một
nhà duy vật vĩ đại, cũng cho rằng theo quan điểm duy vật, nhân tố quyết định trong
lịch sử suy cho cùng là... sự tái sản xuất ra bản thân con người, là sự duy trì nòi
giống. Chức năng sinh sản của gia đình là một giá trị trường tồn.
- Chức năng giáo dục: Gia đình là “tế bào của xã hội, là yếu tố đầu tiên và cơ
bản của quá trình giáo dục”. Gia đình là nơi đại bộ phận trẻ em được người lớn
thường xuyên giáo dục: “Dạy con từ thưở còn thõ”. Trong môi trýờng gia ðình, trẻ
bắt ðầu hình thành nhân cách, lối sống và đặc biệt là nhân sinh quan. Các bậc phụ
huynh, nhất là các bà, các mẹ có ảnh hưởng rất lớn tới tương lai của đứa trẻ: con hư
tại mẹ, cháu hư tại bà.

11


Mỗi con người khi sinh ra và trưởng thành cho đến cuối đời, đó là quá trình
được giáo dục liên tục và tự giác. Người xưa có câu “nhân bất học, bất tri lý”
(người mà không được giáo dục thì không có sự hiểu biết). Vai trò của những người
thân trong gia đình có ảnh hưởng sâu sắc đến mỗi cá nhân về lối sống đạo đức, nhân
cách, gia đình là trường học đầu tiên và quan trọng nhất của mỗi cá nhân về những
ý niệm, về những cơ sở đầu tiên về cái thiện và cái ác, về đạo đức, lẽ sống, tâm
hồn… “Tử hiếu song thân lạc, gia hòa vạn sự thành” (Con hiếu thì cha, mẹ vui, gia
đình hòa thuận thì mọi việc đều thành). Có thể nói gia đình là môi trường xã hội hóa
cá nhân đầu tiên, nó khác với các thiết chế xã hội khác dựa trên mối quan hệ tình
cảm, huyết thống thiêng liêng trong quá trình của cá nhân khi đạt đến trình độ
chiếm lĩnh những chuẩn mực xã hội, những khuôn mẫu tác phong, những vốn tri
thức, kinh nghiệm, những giá trị văn hóa chung trong thực tiễn cuộc sống. Xã hội
luôn biến đổi không ngừng nên có tác động sâu sắc đến cấu trúc của từng gia đình,
trong xã hội hiện đại việc giáo dục nhân cách, lối sống, nhận thức tư duy, gia đình
cần phải tạo cho các thành viên có phương pháp độc lập trong sáng tạo, suy nghĩ,

- Chức năng chăm sóc sức khỏe: Mặc dù hiện nay các dịch vụ y tế công cộng
đã phát triển tốt, nhưng việc gia đình có trách nhiệm chăm sóc sức khoẻ cho các
thành viên trong gia đình vẫn hết sức quan trọng, nhất là với người ốm, người già.
Chăm sóc sức khỏe ở đây không chỉ đơn thuần sức khỏe về thể chất mà còn cả sức
khỏe tinh thần.
Gia đình là một thực thể xã hội. Sự tồn tại của nó được xã hội thừa nhận. Như
vậy bản thân gia đình đã mang một giá trị xã hội. Chính các chức năng của gia đình
mới đem lại cho nó một giá trị đích thực. Cho đến nay các chức năng cơ bản của gia
đình vẫn còn giữ nguyên giá trị. Sự thừa nhận các chức năng của gia đình tức là đã
thừa nhận gia đình là một giá trị trong xã hội.
Theo PGS Trần Trọng Thủy: “Gia đình là một nhóm nhỏ liên kết với nhau bởi
những mối quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nhận con nuôi, tạo thành một hệ
riêng biệt, tác động qua lại và giao tiếp lẫn nhau qua vai trò xã hội của từng người:
là chồng, là cha, là mẹ, là con trai, là con gái tạo thành một nền văn hóa chung”
(Giáo dục đời sống gia đình, NXB Giáo dục, 1990, tr.20).
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Gia đình là tập hợp những
người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng,
làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này”.
1.1.2. Khái niệm vị thành niên
- Vị thành niên là một khái niệm chưa được thống nhất. Theo Tổ chức Y tế
Thế giới (WHO), lứa tuổi 10 - 19 tuổi là độ tuổi vị thành niên. Thanh niên trẻ là lứa
tuổi 19 - 24 tuổi.
- Chương trình Sức khỏe sinh sản/Sức khỏe tình dục vị thành niên - thanh niên
của khối Liên minh châu Âu (EU) và Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) lấy độ
tuổi 15 - 24 tuổi.
- Ở Việt Nam, vị thành niên là lứa tuổi từ 10 đến 19 tuổi. Thanh niên là từ 19 24 tuổi. Trẻ em được luật pháp bảo vệ chăm sóc giáo dục là dưới 16 tuổi. Về mặt
luật pháp vị thành niên là dưới 18 tuổi.
- Hội KHHGĐVN xác định vị thành niên - thanh niên là 10 - 24 tuổi.
13


hiện ở lứa tuổi thanh niên những nhu cầu về hiểu biết thế giới, hiểu biết xã hội và
các chuẩn mực quan hệ người - người, hiểu mình và tự khẳng định mình trong xã
hội…
Bước sang tuổi VTN, các chức năng tâm lý của con người cũng có nhiều thay
đổi, đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển trí tuệ, khả năng tư duy. Các em cảm nhận
được các rung động của bản thân và hiểu rằng đó là trạng thái “cái tôi” của mình.
Song nhờ tư duy khái quát phát triển trên cơ sở tiếp thu các tri thức chung, VTN ý
14


thức được các mối quan hệ giữa tâm lý và các phẩm chất nhân cách, có khả năng
tạo được một hình ảnh “cái tôi” trọn vẹn và đầy đủ hơn để từ đó xây dựng các mối
quan hệ với người khác và với chính mình.
Ý thức về cái tôi rõ ràng và đầy đủ hơn đã làm cho VTN có khả năng lựa chọn
con đường tiếp theo, đặt ra vấn đề tự khẳng định và tìm kiếm vị trí cho riêng mình
trong cuộc sống chung.
Nảy sinh cảm nhận về “tính chất người lớn” của bản thân: Cảm nhận về “tính
người lớn” của chính bản thân mình là một trong những nét tâm lý đặc trưng xuất
hiện trong giai đoạn chuyển từ lứa tuổi thiếu nhi sang tuổi VTN. Thực tiễn cho thấy
rằng sự nảy sinh cảm nhận đó ở lứa tuổi VTN là một trong những yếu tố tâm lý góp
phần tạo nên những mối quan hệ bất bình ổn giữa cha mẹ và con cái, làm cho tần số
giao tiếp giữa cha mẹ và con cái giảm xuống và thay vào đó là nhu cầu giao tiếp của
VTN với bạn đồng lứa tăng lên.
Ở tuổi VTN, các em có cảm nhận rõ rệt rằng mình đã lớn hay sắp trở thành
người lớn. Ranh giới giữa tuổi VTN và tuổi người lớn trong con mắt của VTN
không phải bao giờ cũng hiện lên một cách rõ ràng. Các em hướng tới các giá trị và
so sánh ḿnh với người lớn , mong muốn được tự lập, tự chủ trong việc giải quyết
các vấn đề của riêng mình.Theo thói quen thông thường trong quan hệ với con cái
đã býớc vào tuổi VTN, các bậc cha mẹ vẫn thường xem chúng như những đứa trẻ
mà ít chú ý đến nhu cầu nội tâm của họ. Kiểu quan hệ mang tính sai khiến, áp đặt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status