TÀI LIỆU THAM KHẢO sứ MỆNH LỊCH sử CỦA GIAI cấp CÔNG NHÂN TRONG bối CẢNH TOÀN cầu HÓA HIỆN NAY - Pdf 41

Trong những thập kỷ gần đây với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng
sản xuất, phân công lao động quốc tế, thương mại thế giới và đặc biệt là cuộc
cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, sự ra đời các công ty xuyên quốc
gia, các thể chế kinh tế toàn cầu đã nảy sinh và thúc đẩy quá trình toàn cầu
hóa. sự gia tăng mạnh mẽ của toàn cầu hoá đặt ra yêu cầu khách quan đòi hỏi
các quốc gia phải có chiến lược hội nhập phù hợp vào nền kinh tế thế giới và
khu vực. Trong bối cảnh này các quốc gia muốn phát triển phải nhanh chóng
mở cửa tham gia hội nhập. Tuy nhiên, hội nhập một mặt sẽ đón nhận được
những cơ hội cho phát triển, song mặt khác cũng phải đối mặt với hàng loạt
thách thức do chính xu thế toàn cầu hoá đặt ra.
Đối với Việt Nam, toàn cầu hoá đã và đang tác động sâu sắc đến mọi
mặt của đời sống xã hội, vừa đem lại những cơ hội lớn, đồng thời cũng đặt ra
những thách thức lớn trong quá trình đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hoá
đất nước. Trước tác động của toàn cầu hoá, giai cấp công nhân thế giới nói
chung, giai cấp công nhân Việt Nam nói riêng cũng có những biến đổi lớn
trên nhiều khía cạnh. Do vậy, nghiên cứu Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay là một vấn đề mang tính cấp thiết
cả về mặt lý luận và thực tiễn.
1. Toàn cầu hóa là một xu thế khách quan trong giai đoạn hiện
nay.
Xu hướng toàn cầu hoá, thực chất là do sự phát triển cao của lực lượng
sản xuất. Chúng ta biết rằng trong xã hội phong kiến do lực lượng sản xuất và
giao thông kém phát triển cho nên sản xuất và trao đổi chỉ được thực hiện
trong một phạm vi quy mô nhỏ. Tính tự cung, tự cấp của sản xuất là đặc trưng
chủ yếu của phương thức sản xuất phong kiến. Song trong xã hội phong kiến
cũng đã xuất hiện có thông thương vượt biên giới quốc gia nhưng chưa tạo ra
những quan hệ phụ thuộc trong phát triển, chưa có thị trường thế giới theo
nghĩa hiện đại.
Nhưng khi C.Mác và Ph.Ăngghen nghiên cứu chủ nghĩa tư bản đã cho
rằng, do sự phát triển của lực lượng sản xuất đã dẫn đến sự phân công lao



. C.Mác và Ph.Ăngghen, Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, Nxb Sự thật, H. 1986, tr.47.

2


các nước phát triển và kém phát triển từ đặc trưng phụ thuộc một chiều
chuyển dần sang quan hệ tương hỗ phụ thuộc lẫn nhau.
Đặc biệt từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, gắn liền với sự phát triển của
phong trào giải phóng dân tộc là lúc cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển
mạnh mẽ và ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Các phát kiến
về khoa học nhanh chóng được áp dụng vào sản xuất đã thúc đẩy phân công
lao động phát triển lên một bước mới. Trên thực tế quan hệ giữa khoa học công nghệ và sản xuất ngày càng gắn bó chặt chẽ với nhau. Trong thế kỷ XIX
thời gian đưa phát minh khoa học vào ứng dụng trong sản xuất mất từ 60-70
năm, đến đầu thế kỷ XX chỉ còn đến vài chục năm và trong thập niên 90
khoảng 3-5 năm, còn trong giai đoạn hiện nay chỉ còn dưới một năm, thậm
chí chỉ một hai tháng. Do sự tác động của các thành tựu khoa học và sự xoá
bỏ của hệ thống thuộc địa và phụ thuộc, sản xuất có sự phát triển mạnh mẽ
dựa trên sự phân công lao động quốc tế mới đã làm tăng đáng kể các hoạt
động kinh tế quốc tế, thúc đẩy gia tăng đáng kể các hoạt động kinh tế quốc tế,
thúc đẩy gia tăng xu thế quốc tế hoá.
Bước sang thế kỷ XX mặc dù khoa học trí tuệ của loài người đã có sự phát
triển đáng kể song về cơ bản con người vẫn chỉ là nhận thức vận dụng những
quy luật của giới tự nhiên mà mình được quan sát áp dụng vào hoạt động lao
động sản xuất. Nhưng đến giữa thế kỷ XX mà đặc biệt là đầu thế kỷ XXI con
người không chỉ dừng lại ở những hoạt động khám phá tự nhiên trong tầm
quan sát mà đã có khám phá mới trong thế giới vi mô và vĩ mô bằng những
thiết bị khoa học hiện đại. Đáng chú ý nhất trong những thành tựu của khoa
học công nghệ là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, công nghệ vật
liệu và năng lượng mới, công nghệ hàng không vũ trụ. Sự phát triển của

tức là phải hội nhập quốc tế.
Hiện nay, các lực lượng tham gia toàn cầu hóa bao gồm hàng trăm quốc
gia, dân tộc; với nhiều trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội khác nhau,

4


chế độ chính trị không giống nhau. Các nước tư bản phát triển và các nước tư
bản đang phát triển; các nước xã hội chủ nghĩa, các nước đang phát triển theo
định hướng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, đối với các nước việc tham gia toàn
cầu hóa đều có những mục đích khác nhau. Với các nước đang phát triển
tham gia toàn cầu hóa để có cơ hội phát triển thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu;
các nước xã hội chủ nghĩa và định hướng xó hội chủ nghĩa chủ động tham gia
toàn cầu hóa để tranh thủ những mặt có lợi trên thị trường thế giới, phục vụ
mục tiêu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa, thu
hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế so với các nước phát triển;
các nước tư bản lợi dụng toàn cầu hóa để tiếp tục phát triển đồng hóa và áp
đặt kinh tế, văn hóa, xã hội với phần còn lại của thế giới. Do vậy, xu thế toàn
cầu hóa đang tác động sâu sắc đến tất cả các nước theo hai chiều tích cực, tiêu
cực và luôn tồn tại hai chiều hướng hợp tác và đấu tranh.
Mặt tích cực của toàn cầu hóa là giúp các nước mở rộng thị trường thông
qua các hiệp định kinh tế song phương, đa phương, tạo điều kiện cho kinh tế
phát triển, xuất khẩu lao động, lưu thông hàng hóa, xóa bỏ dần hành rào thuế
quan để lưu thông hàng hóa giữa các vùng, quốc gia và toàn cầu. Tăng khả
năng thu hút các nguồn vốn ODA, FDI,.. để phát triển kinh tế, văn hóa, xã
hội. Bên cạnh đó việc mở rộng thị trường bên ngoài và thị trường nội địa là
một trong những yếu tố hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, thu hút đầu tư nước
ngoài và nguồn vốn đầu tư nước ngoài sẽ thúc đẩy nguồn vốn trong nước, vận
động và có hiệu quả hơn. Mặt khác, toàn cầu hóa cũng giúp cho các nước có
điều kiện để tiếp nhận khoa học công nghệ mới, tiên tiến, hiện đại của thế


với công nghiệp và hoạt động theo lối công nghiệp vẫn là công nhân xét cả về
hai tiêu chí cơ bản đã nói ở trên.
Cùng với sự tiến bộ của khoa học công nghệ, giai cấp công nhân có xu
hướng "Trí thức hóa" ngày càng tăng và cũng ngày càng tiếp thu đông đảo
thêm những người thuộc tầng lớp trí thức vào hàng ngũ của mình. Do sự phát
triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, đời sống công nhân ở các nước tư bản
phát triển có những thay đổi quan trọng; một số có cổ phiếu, cổ phần, trở
thành cổ đông trong các xí nghiệp. Nhưng tất cả điều đó không làm thay đổi
một sự thật là toàn bộ tư liệu sản xuất cơ bản nhất, quyết định nhất đối với
nền sản xuất tư bản chủ nghĩa vẫn nằm trong tay giai cấp tư sản; giai cấp công
nhân vẫn là giai cấp cơ bản không có tư liệu sản xuất, cho nên phải bán sức
lao động cho giai cấp tư sản cả sức lao động trí óc và chân tay để kiếm sống.
Do đó, họ vẫn bị bóc lột giá trị thặng dư một cách tinh vi hơn, khó thấy hơn.
Ở các nước xó hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân đã trở thành giai cấp cầm
quyền, địa vị kinh tế - xã hội đã thay đổi, trở thành giai cấp thống trị, giai cấp
lãnh đạo cuộc đấu tranh cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, đại biểu lợi
ích cho toàn thể nhân dân lao động, làm chủ tư liệu sản xuất cơ bản đã được
công hữu hóa. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xó hội, giai cấp công nhân
được đặc trưng chủ yếu bằng tiêu chí thứ nhất; còn tiêu chí thứ hai, nếu xét
toàn bộ giai cấp thì giai cấp công nhân đã là người làm chủ, nhưng trong điều
kiện tồn tại nhiều thành phần kinh tế thì còn một bộ phận công nhân làm thuê
trong các doanh nghiệp tư nhân. Những người này về danh nghĩa làm chủ
cùng toàn bộ giai cấp công nhân là nhân dân lao động, nhưng xét về mặt cá
nhân, họ vẫn là người làm thuê, bị bóc lột giá trị thặng dư. Song, đã có sự
điều chỉnh bằng luật pháp và luật đầu tư nước ngoài của nhà nước xó hội chủ
nghĩa bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ.
Với cách tiếp cận nghiên cứu giai cấp công nhân như trên, hiện nay
chúng ta có thể hiểu: giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định, hình
thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện

nghiệp, như bưu chính, viễn thông, vận tải, thương nghiệp... Ở các nước đang
phát triển chiếm 3/4 dân số thế giới, giai cấp công nhân vẫn chủ yếu là những
công nhân công nghiệp truyền thống, công nhân thủ công và một số ít là công
nhân làm việc trong nhà máy công nghệ hiện đại. Do đó, số lượng giai cấp
công nhân xét trên phạm vi toàn thế giới vẫn có xu hướng tăng lên, chứ không
phải "teo đi" như các học giả tư sản tuyên truyền.
Về chất lượng, cùng với sự biến đổi về số lượng, chất lượng của giai
cấp công nhân cũng không ngừng phát triển do yêu cầu khách quan của toàn
cầu hóa, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp, hóa hiện đại hóa đòi hỏi. Chất
lượng của giai cấp công nhân phát triển cả về học vấn, ngoại ngữ, trình độ
chuyên môn và ý thức nghề nghiệp giai cấp của họ. Ở các nước tư bản phát
triển, trình độ giai cấp công nhân có bằng đại học và sau đại học chiếm 60-

9


70% dân số, công nhân lành nghề và bậc cao chiếm 30 - 40% dân số, công
nhân nhiều đời gắn bó với nghề nghiệp cũng không ngừng tăng lên.
Về cơ cấu ngành nghề của giai cấp công nhân hiện nay cũng có những
thay đổi to lớn, với cơ cấu rất phức tạp, Tại các nước đang phát triển, nếu
trước đây công nhân chỉ tập trung trong các ngành truyền thống như luyện
kim, khai khoáng, dệt may... thỡ ngày nay đó phỏt triển sang một số ngành
cụngnghiệp mới, cỏc lĩnh vực kinh tế mũi nhọn như điện tử, tin học, dầu khí.
dịch vụ…Theo số liệu của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) về tỷ trọng lao
động trong các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ những năm cuối
thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI có thể thấy cơ cấu lao động ở các nước đang phát
triển có xu hướng tăng trong các ngành công nghiệp và dịch vụ, lao động
nông nghiệp có chiều hướng giảm.
Về đời sống vật chất tinh thần của giai cấp công nhân trong xu thế toàn
cầu hoá ngày càng cao, được cải thiện cùng với sự phát triển của sản xuất và

rộng hội nhập và giao lưu khu vực, quốc tế là một xu thế tất yếu khách quan
hiện nay. Do vậy, để đáp ứng nhu cầu tất yếu khách quan đó, không thể ai
khác là giai cấp công nhân, thông qua đường lối đúng đắn của đảng cầm
quyền; liên minh chặt chẽ giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí
thức để chủ động hội nhập, hợp tác quốc tế; tranh thủ thời cơ, tận dụng vốn,
khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý của các nước tư bản chủ nghĩa với
phương châm " đi tắt đón đầu", để hòa nhập với sự phát triển của thế giới. Do
đó, vị trí, vai trò của giai cấp công nhân có ý nghĩa quyết định trong sự tồn tại
và phát triển của các quốc gia đang phát triển trong xu thế toàn cầu hóa.
Về quan hệ của giai cấp công nhân với tư liệu sản xuất trong bối cảnh
toàn cầu hóa. Ở các nước tư bản chủ nghĩa, cơ bản giai cấp công nhân vẫn
không có tư liệu sản xuất. Các tư liệu sản xuất chủ yếu vẫn nằm trong các tập
đoàn tư bản quốc gia, xuyên quốc gia; giai cấp công nhân vẫn phải làm thuê,
bán sức lao động chân tay, trí óc và quản lý thay cho giai cấp tư sản. Ở các
nước xó hội chủ nghĩa, giai cấp công nhân từng bước làm chủ tư liệu sản xuất
chủ yếu. Tuy nhiên, trong nền kinh tế nhiều thành phần, tư liệu sản xuất chủ
yếu cũng bị chi phối bởi các thành phần kinh tế, nhất là trong bối cảnh toàn
cầu hóa những tư liệu sản xuất còn được sử dụng góp vốn với nước ngoài để
liên doanh, liên kết. Vì vậy, quan hệ của giai cấp công nhân với tư liệu sản
xuất cũng đang trong quá trình biến đổi phức tạp. Ở các nước đang phát triển,
trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế tư bản chủ nghĩa, số lượng của giai cấp công
nhân tăng lên nhanh chóng, nhưng quan hệ của họ với tư liệu sản xuất diễn
biến hết sức phức tạp trong các thành phần kinh tế khác nhau, quan hệ của
giai cấp công nhân với tư liệu sản xuất cũng khác nhau. Nhìn chung, ở các
nước đang phát triển về cơ bản giai cấp công nhân không có tư liệu sản xuất,
bị bóc lột giá trị thặng dưới những hình thức tinh vi, với sự cấu kết giữa tư
sản dân tộc và tư sản mại bản.

11


mạng xó hội chủ nghĩa thủ tiêu chủ nghĩa tư bản, xây dựng thành công chủ
nghĩa xó hội và chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới. Tuy nhiên, việc thực
hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện
nay có những thuận lợi và khó khăn như sau:

12


Thuận lợi: Chủ nghĩa xã hội hiện thực sau sự khủng hoảng, sụp đổ ở
Đông Âu và Liên Xô. Các nước xó hội chủ nghĩa còn lại đã nhanh chóng rút
ra được những bài học quí báu, tiếp tục đổi mới, cải cách nên đã giành được
nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử; đưa chủ nghĩa xó hội hiện thực vượt
qua khủng hoảng, đứng vững, phục hồi, phát triển, vẫn là xu hướng phát triển
tất yếu trong sự phát triển của xã hội loài người. Phong trào cách mạng thế
giới lấy lại được sức lực và có bước phát triển mới, nhất là phong trào cánh tả
Mỹ La tinh. í thức độc lập dân tộc, tự lực, tự cường; tính tích cực đấu tranh
từng bước giành độc lập và bình đẳng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn
hóa và giải quyết các mối quan hệ trên trường quốc tế của các dân tộc ngày
một nâng cao. Xu thế hòa bình, hợp tác ngày càng phát triển cũng tạo ra môi
trường thuận lợi để giai cấp công nhân các nước xích lại gần nhau, hiểu biết,
tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau trong lao động sản xuất, chuyển giao công
nghệ, giao lưu văn hóa và tăng cường tình đoàn kết quốc tế.
Khó khăn: Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, việc thực hiện sứ mệnh
lịch sử của giai cấp công nhân trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay cũng gặp
không ít những khó khăn thách thức: Trong xu thế tương quan so sánh lực
lượng đang bất lợi cho phong trào cách mạng; Chủ nghĩa đế quốc đang nắm
ưu thế vốn, khoa học công nghệ, thị trường chúng đang tích cực điều chỉnh
thích nghi và điên cuồng chống phá cách mạng bằng chiến lược " Diễn biến
hòa bình" kết hợp bạo loạn lật đổ, làm suy yếu, tan giã phong trào cách mạng
với dã tâm " Chiến thắng không cần chiến tranh" "Thua trên chiến trường,

cấp công nhân nước ta là cơ sở chính trị - xã hội vững chắc cho Đảng và Nhà
nước. Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, việc làm và đời
sống của giai cấp công nhân ngày càng được cải thiện.
Tuy nhiên, sự phát triển của giai cấp công nhân chưa đáp ứng được yêu
cầu về số lượng, cơ cấu và trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề
nghiệp của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc
tế; thiếu nghiêm trọng các chuyên gia kỹ thuật, cán bộ quản lý giỏi, công nhân
lành nghề; tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động còn nhiều hạn chế; đa
phần công nhân đều xuất thân từ nông dân, chưa được đào tạo cơ bản và có hệ
thống. Một bộ phận công nhân chậm thích nghi với cơ chế thị trường. Địa vị
chính trị của giai cấp công nhân chưa thể hiện đầy đủ. Giai cấp công nhân còn
hạn chế về phát huy vai trò nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với
giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị của công nhân không đồng đều; sự
hiểu biết về chính sách, pháp luật còn nhiều hạn chế. Tỉ lệ đảng viên và cán
bộ lãnh đạo xuất thân từ công nhân còn thấp. Một bộ phận công nhân chưa
thiết tha phấn đấu vào Đảng và tham gia hoạt động trong các tổ chức chính trị
- xã hội. Nhìn tổng quát, lợi ích một bộ phận công nhân được hưởng chưa
tương xứng với những thành tựu của công cuộc đổi mới và những đóng góp
của chính mình; việc làm, đời sống vật chất và tinh thần của công nhân đang
có nhiều khó khăn, bức xúc, đặc biệt là ở bộ phận công nhân lao động giản
đơn tại các doanh nghiệp của tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài.
Tình hình trên bắt nguồn từ các nguyên nhân: Quá trình đổi mới, phát
triển kinh tế - xã hội đã mở ra một giai đoạn lịch sử mới trong sự phát triển
của giai cấp công nhân; tuy nhiên những hạn chế, yếu kém trong phát triển
kinh tế - xã hội cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc làm, đời sống và tư
tưởng, tình cảm của công nhân. Đảng có chú trọng xây dựng giai cấp công
nhân; nhưng quan tâm chưa đầy đủ, chưa ngang tầm với vị trí, vai trò của giai
cấp công nhân trong thời kỳ mới. Nhà nước ban hành nhiều chính sách, pháp

trò sứ mệnh của giai cấp công nhân, vấn đề đặt ra là phải quan tâm xây dựng
giai cấp công nhân Việt Nam lớn mạnh đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nớc, đó là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách, là
trách nhiệm của Đảng, Nhà nớc, của cả hệ thống chính trị, cũng nh của mỗi
ngời công nhân. thc hin thng li mc tiờu n nm 2020 nc ta c
bn tr thnh mt nc cụng nghip theo hng hin i, mc tiờu xõy
dng giai cp cụng nhõn n nm 2020 l: Xõy dng giai cp cụng nhõn
ln mnh, cú giỏc ng giai cp v bn lnh chớnh tr vng vng; cú ý thc
cụng dõn, yờu nc, yờu ch ngha xó hi, tiờu biu cho tinh hoa vn hoỏ ca
dõn tc; nhy bộn v vng vng trc nhng din bin phc tp ca tỡnh hỡnh
th gii v nhng bin i ca tỡnh hỡnh trong nc; cú tinh thn on kt dõn
tc, on kt, hp tỏc quc t; thc hin s mnh lch s ca giai cp lónh o
cỏch mng thụng qua i tin phong l ng Cng sn Vit Nam. Núi chung,

16


trong cỏc doanh nghip u cú t chc c s ng, cụng on, on Thanh
niờn Cng sn H Chớ Minh v Hi Liờn hip Thanh niờn Vit Nam.
Xõy dng giai cp cụng nhõn ln mnh, phỏt trin nhanh v s lng,
nõng cao cht lng, cú c cu ỏp ng yờu cu phỏt trin t nc; ngy
cng c trớ thc hoỏ: Cú trỡnh hc vn, chuyờn mụn, k nng ngh
nghip cao, cú kh nng tip cn v lm ch khoa hc - cụng ngh tiờn tin,
hin i trong iu kin phỏt trin kinh t tri thc; thớch ng nhanh vi c ch
th trng v hi nhp kinh t quc t; cú giỏc ng giai cp, bn lnh chớnh tr
vng vng, cú tỏc phong cụng nghip v k lut lao ng cao.
Để thc hin tt mc tiờu trờn, cần tập trung vào thực hiện tốt một số giải
pháp cơ bản sau đây:
Th nht: Tiếp tục hoàn thiện lý luận về giai cấp công nhân trong điều
kiện phát triển kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công


18




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status