BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NÔNG QUỐC HUY
CÔNG CUỘC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở
HUYỆN THUẬN CHÂU(TỈNH SƠN LA)
GIAI ĐOẠN 2006-2012
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60 22 03 13
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS: Đào Tố Uyên
HÀ NỘI - 2015
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo trong bộ
môn Lịch sử Việt Nam- Khoa Lịch sử, Trường Đại Học Sư phạm Hà Nội đã
giúp đỡ, giảng dạy, truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quí báu cho tôi
trong suốt quá trình theo học chương trình cao học. Nhờ những kiến thức mà
thầy cô truyền đạt, tôi đã trưởng thành hơn rất nhiều trong suốt quá trình học,
đồng thời những kiến thức đó cũng giúp tôi hoạt động tốt hơn trong công việc
hiện tại và sau này của mình.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các đơn vị, phòng, ban của huyện Thuận
Châu, tỉnh Sơn La đã tạo mọi điều kiện để tôi có được những kinh nghiệm, kiến
thức cũng như những số liệu để đánh giá một cách toàn diện về đói nghèo, xóa
đói giảm nghèo cũng như những số liệu nội bộ trong huyện để có thể hoàn thiện
luận văn của mình.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Thực trạng đói nghèo tư lâu không chỉ là vấn đề nhức nhối của Việt
Nam mà còn là thách thức lớn đối với toàn nhân loại. Theo số liệu thống kê
cho thấy, hiện nay trên thế giới có ¼ dân số vẫn đang phải sống trong điều
kiện cùng cực của sự nghèo khổ, không đủ khả năng đáp ứng được những nhu
cầu cơ bản.
Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế tài chính, sản xuất đình trệ, tốc độ
tăng trưởng kinh tế giảm thì vấn đề thất nghiệp, nghèo đói lại gia tăng nhanh
chóng. Thực trạng này không chỉ làm cho hàng triệu người không có cơ hội
được hưởng những thành quả văn minh tiến bộ của loài người mà còn gây
những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, xã hội đối với sự phát triển, tàn phá
môi trường sinh thái. Vì vậy, nếu đói nghèo không được giải quyết, thì các
mục tiêu cho sự phát triển mà cộng đồng quốc tế, cũng như các quốc gia đặt
ra như: tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống, hợp tác hòa bình ổn định và
phát triển, đảm bảo các quyền con người …khó trở thành hiện thực.
Xóa đói, giảm nghèo trở thành mối quan tâm lớn của cộng đồng quốc tế
và của mỗi quốc gia. Vì vậy, những năm gần đây nhiều quốc gia và tổ chức
quốc tế rất quan tâm tìm các giải pháp hạn chế nghèo đói và giảm dần khoảng
cách phân hoá giàu, nghèo trên phạm vi toàn thế giới.
Ở Việt Nam, xóa đói giảm nghèo được coi là mục tiêu xuyên suốt trong
quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã từng nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao
cho dân tộc ta, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Người
cũng chỉ rõ, Đảng và Nhà nước phải tạo điều kiện: làm cho người nghèo đủ
ăn. Người đủ ăn thì khá, người khá giàu thì giàu thêm.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (năm 1996) đã khẳng định:
1
Bên cạnh đó, luận văn nêu lên một số vấn đề đặt ra cho công cuộc xóa
đói giảm nghèo của huyện nhằm thực hiện triệt để hơn việc xoá đói giảm
nghèo trong những giai đoạn tiếp theo.
Từ những ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn trên, chúng tôi chọn đề
tài: “Công cuộc xóa đói giảm nghèo ở huyện Thuận Châu (tỉnh Sơn La) giai
đoạn 2006 - 2012” làm đề tài luận văn thạc sĩ khoa học Lịch sử của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Trong những năm gần đây đã có rất nhiều đề tài cấp bộ, các luận án
Tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, các bài báo, tạp chí nghiên cứu về công cuộc xoá đói
giảm nghèo ở Việt Nam và thế giới. Đề tài cấp bộ có: “Đánh giá cuối kỳ
Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo và Chương trình 135-I” Bộ
Lao động Thương binh và Xã hội và UNDP tại Việt Nam năm 2004; đề tài:
“Xây dựng bộ chỉ số theo dõi đánh giá hoạt động của hệ thống bảo hiểm xã
hội, bảo trợ xã hội và xóa đói giảm nghèo” có mã số CB 2008-03-05 do Viện
Khoa học Lao động và Xã hội thực hiện năm 2008; đề tài “Tổng kết và đánh
giá thực tiễn thực hiện chính sách xóa đói giảm ở nước ta giai đoạn 20012010, xây dựng cơ chế chính sách và giải pháp xóa đói giảm nghèo phục vụ
cho công tác quản lý và điều hành của đảng trong giai đoạn 2011-2020”, của
Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh do PGS.TS Lê Quốc
Lý chủ biên đã tổng kết 10 năm thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo.
Nguyễn Thị Hằng, “Vấn đề xoá đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện
nay”, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997; Dương Phú Hiệp, Vũ
Văn Hòa, “Phân hóa giàu - nghèo ở một số Quốc gia khu vực Châu Á - Thái
Bình Dương”, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1999; Ngô Quang
Minh, “Tác động kinh tế của nhà nước góp phần xoá đói giảm nghèo trong
quá trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa ở Việt Nam, nhà xuất bản Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 1999; Trần Thị Hằng “ Vấn đề xóa đói giảm nghèo trong
Sơn La trong thời gian tới.
4
* Đối tượng:
Luận văn tập trung nghiên cứu quá trình thực hiện chương trình xoá đói
giảm nghèo huyện Thuận Châu giai đoạn 2006 – 2012.
* Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu công cuộc xoá đói
giảm nghèo trên địa bàn huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Tuy nhiên, luận văn
còn tìm hiểu công tác xoá đói giảm nghèo ở tỉnh Sơn La và các địa phương
khác để làm rõ những kết quả đạt được cũng như những mặt còn hạn chế của
công cuộc xoá đói giảm nghèo của huyện Thuận Châu.
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu về công cuộc xoá đói giảm nghèo ở
huyện Thuận Châu trong giai đoạn 2006 – 2012. Tuy nhiên, bối cảnh lịch sử,
thực trạng đói nghèo của huyện ở giai đoạn trước, các chủ trương, chính sách
của Đảng, Nhà nước về chỉ đạo công tác xoá đói giảm nghèo cũng được đề cập.
4. Đóng góp của luận văn
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sẽ tiếp tục kế thừa và phát huy kết
quả của các công trình khoa học liên quan đến xóa đói giảm nghèo. Đồng thời
luận văn cũng đóng góp điểm mới :
- Chỉ ra diễn biến đói nghèo, công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn
huyện Thuận Châu (Sơn La), những kết quả đạt được cũng như những mặt
còn tồn tại giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2012
- Nêu lên một số vấn đề có tính thực tiễn, tính đặc thù nhằm góp phần
thực hiện tốt công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn huyện trong thời gian tới.
- Góp thêm tư liệu vào việc nghiên cứu, giảng dạy lịch sử địa phương
trong các trường phổ thông của huyện.
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
* Phương pháp nghiên cứu.
6
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN THUẬN CHÂU (TỈNH SƠN LA)
VÀ VẤN ĐỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
.1. Khái quát về huyện Thuận Châu
.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Huyện Thuận Châu nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Sơn La, cách Thành
phố Sơn La 34 km về phía Tây Bắc và cách huyện Tuần Giáo (tỉnh Lai Châu)
52 km về phía Đông Nam. Phía đông giáp thành phố Sơn La, phía Tây và Tây
Bắc giáp huyện Tuần Giáo, Điện Biên, phía Nam giáp huyện Sông Mã, phía
Bắc giáp huyện Quỳnh Nhai, Mường La, tỉnh Sơn La. Là một huyện nằm phía
cuối tỉnh Sơn La, Thuận Châu có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển
kinh tế xã hội (có trên 80 km đường địa giới tiếp giáp với tỉnh bạn) và có 85%
diện tích tự nhiên thuộc lưu vực sông Đà, có trục Quốc lộ 6 đi qua 11 xã từ
Muổi Nọi đến Mường É đã tạo điều kiện cho huyện có những cơ hội giao lưu,
trao đổi với các huyện trong tỉnh và các tỉnh trong vùng Tây Bắc.
Thuận Châu có địa hình đặc trưng của các tỉnh miền núi phía Bắc, độ
dốc lớn và chia cắt mạnh. Địa hình có các dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc Đông Nam có độ cao trung bình 700 - 750 mét so với mặt nước biển. Dãy núi
cao nhất là dãy Copia có đỉnh cao nhất 1.821 mét chia địa hình Thuận Châu
làm 2 phần: phía tây thuộc lưu vực Sông Đà, phía Đông thuộc lưu vực Sông
Mã. Hướng dốc của địa hình thấp dần theo hướng từ Tây sang Đông, thấp nhất
là khu vực ven sông Đà, xen kẽ giữa những dãy núi là những thung lũng,
phiềng bãi, ruộng nước tương đối bằng phẳng, tuy nhiên diện tích không lớn.
Thuận Châu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi với 2
mùa rõ rệt: mùa mưa tù tháng 4 cho đến tháng 9, lượng mưa tập chung từ
tháng 6 cho đến tháng 8, mùa khô từ tháng 10 cho đến tháng 3 năm sau, mùa
khô ảnh hưởng của gió Lào nên rất hanh khô. Khí hậu mang đặc trưng của
7
thuộc đất Nam Trung; thời Lý (thế kỷ XI) thuộc đất Lâm Tây; thời nhà Trần
(thế kỷ XIII) nằm trong đạo Đà Giang, sau đổi gọi là trấn Thiên Hưng, sau đó
lại đổi lộ thành phủ. Đất Thuận Châu trước đây rất rộng gồm cả vùng đất từ
Mai Sơn đến Tuần Giáo ( Điện Biên). Đến đời Lê mới tách ra thành lập thêm
ba châu, đó là châu Mai Sơn, Châu Sơn La và châu Tuần Giáo. Năm 1466,
vua Lê Thánh Tông chia cả nước thành 12 đạo thừa tuyên, phủ Gia Hưng
thuộc đạo thừa tuyên Hưng Hóa. Đến thời Minh Mạng chia cả nước thành 30
tỉnh và phủ Thừa Thiên, phủ Gia Hưng thuộc tỉnh Hưng Hóa.
Dưới thời Pháp thuộc, có một thời gian Thuận Châu bị đặt dưới chế độ
quân quản. Năm 1895, Thuận Châu thuộc tỉnh Vạn Bú (được tách từ tỉnh
Hưng Hoá); năm 1904 tỉnh Vạn Bú đổi thành tỉnh Sơn La. Sau chiến dịch Tây
Bắc 1952, Thuận Châu trực thuộc tỉnh Lai Châu. Đến tháng 2 năm 1954,
Thuận Châu trực thuộc tỉnh Sơn La.
Đến năm 1955 thành lập khu Tự trị Thái - Mèo, bỏ cấp tỉnh, Thuận
Châu trực thuộc khu Tự trị. Ngày 27/12/1962, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa
II đã ra Nghị quyết đổi tên khu Tự trị Thái - Mèo thành khu tự trị Tây Bắc,
lập lại 2 tỉnh Sơn La, Lai Châu và thành lập tỉnh Nghĩa Lộ; huyện Thuận
Châu thuộc tỉnh Sơn La. Đến năm 2003 toàn huyện có 34 xã và 1 thị trấn,
huyện lỵ đặt tại Thị trấn Thuận Châu.
Thực hiện Nghị quyết số 43/2002/NQ - HĐND ngày 11/1/2002 của Hội
đồng nhân dân tỉnh Sơn La khóa XI - kỳ họp thứ 5, về xây dựng phương án
điều chỉnh địa giới hành chính một số huyện, xã của tỉnh do ảnh hưởng di dân
tái định cư xây dựng nhà máy thủy điện Sơn La. Ngày 2 tháng 12 năm 2003,
chuyển 25.911 ha diện tích tự nhiên và 26.659 nhân khẩu gồm toàn bộ các xã
Mường Giàng, Chiềng Bằng, Mường Sại, Liệp Muội, Nặm Ét, Chiềng
Khoang của huyện Thuận Châu về huyện Quỳnh Nhai quản lý. Đến nay
huyện Thuận Châu có 28 xã và 01 thị trấn.
9
làm công cụ, đan nát các đồ dùng trong gia đình, phụ nữ Thái thạo nghề trồng
bông, dệt vải, cắt may, thêu thùa, những hoa văn trên khăn piêu, thổ cẩm của
họ muôn màu, muôn vẻ, thể hiện qua việc trang trí diềm màn, mặt gối, mặt
chăn, nẹp đệm... Người Khơ Mú có kỹ thuật đan lát hết sức điêu luyện, bằng
những nguyên liệu như tre, nứa, song, mây mà đan thành rổ, rá, ghế, ca bem, ca
tẹm, ép khảu có các hình hoa văn rất đẹp. Người phụ nữ Mông tự lấy lanh dệt
vải và may mặc, họ có kỹ thuật nhuộm màu và thêu thùa nhiều hình hoa văn
đẹp mà tiêu biểu là váy áo của người phụ nữ.
Như vậy, sự hình thành tập quán canh tác của từng dân tộc phụ thuộc
vào địa thế và bà con các dân tộc Mông, Khơ Mú, Thái, La Ha, Kháng của
huyện chủ yếu làm nông nghiệp và chăn nuôi. Tuy nhiên, do điều kiện tự
nhiên của huyện có địa hình phức tạp, chia cắt và khí hậu khắc nghiệt thiên
tai, hạn hán, sâu bệnh thường xuyên xảy ra, đất đai bị xói mòn, cằn cỗi do
chặt phá rừng, thiếu nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất, địa hình chủ yếu là
đồi núi hiểm trở, cơ sở hạ tầng tuy đã được đầu tư nhưng còn thiếu và yếu
nhất là giao thông nông thôn gây ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông - lâm
nghiệp. Hàng năm, thiệt hại do thiên tai, sâu bệnh ... đối với sản xuất nông lâm nghiệp lên tới hàng tỷ đồng, đặc biệt đầu năm 2008 rét đậm, rét hại kéo
dài làm chết: 3.687 con trâu, bò, ngựa; 1.842 con lợn; 1.700 con dê; trên
30.000 con gia cầm đã gây ảnh hưởng lớn đến ngành trồng trọt và chăn nuôi;
sâu bệnh hại lúa chiêm xuân xuất hiện trên diện rộng, tổng số diện tích bị
nhiễm sâu bệnh là 1.193 ha (trong đó diện tích bị nhiễm rầy nâu, rầy lưng
trắng: 1.167 ha; diện tích bị nhiễm bệnh đạo ôn: 123,3 ha); sâu năn hại vụ
mùa 997 ha (trong đó sâu bệnh hại lúa bao thai: 575 ha; sâu bệnh hại lúa
nếp 87: 404 ha); cơn bão số 4 và số 6 đã gây thiệt hại nặng nề: Ngập lụt
150,41ha ruộng, 205,7 ha hoa mầu, (riêng xã Liệp Tè lũ cuốn trôi 200 tấn
ngô), nhiều công trình giao thông, thuỷ lợi và nhà cửa của nhân dân, tổng
11
12
* Về Nông nghiệp
Diện tích gieo trồng: Tổng diện tích gieo trồng hằng năm tăng 1,6%.
Diện tích lúa xuân từ 21 ha năm 1977 tăng lên 119 ha năm 1979, bình quân
hai vụ đạt 5 tấn / ha. Tổng sản lượng lương thực bình quân hàng năm đạt
23.500 tấn trong đó màu chiếm tỷ trọng 50,2%. Có 6 xã và 25 hợp tác xã đạt
5 tấn thóc trở lên/ha.
Chăn nuôi: Mặc dù thời tiết khắc nghiệt sương muối, giá rét và bệnh
dịch xảy ra, thức ăn dự trữ cho gia súc thiếu, kỹ thuật chăn nuôi chưa đổi mới
nhưng các hợp tác xã và gia đình đã chủ động tự giải quyết nên đàn trâu tăng
8,3%, đàn bò tăng 13,5%, đàn ngựa tăng 22,3%, đàn lợn tăng 11,3%, gia cầm
tăng 2,27% ngoài ra nhân dân còn nuôi ong và chăn tằm
* Về sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp:
Các xí nghiệp của tỉnh đóng trên địa bàn như nhà máy xi măng Chiềng
Pấc hoàn thành vượt mức kế hoạch 7,9%. Xí nghiệp đường nhiều năm hoàn
thành vượt mức kế hoạch được Chính phủ tặng bằng khen.
Tổng giá trị sản lượng thủ công nghiệp hằng năm tăng 12,8%, gạch đạt
1,5 triệu viên, ngói 75.000 viên, vôi 470 tấn, cát 1.065 khối, khai thác 1.100
khối gỗ, 9.0000 cây tre và 18.0000 cây nứa. Ngành cơ khí sản xuất nông cụ
và chế biến lương thực cũng được đẩy mạnh.
* Công tác giao thông vận tải và bưu điện:
Giao thông vận tải và bưu điện phát triển mạnh, góp phần cải thiện sinh
hoạt và đi lại của nhân dân kịp thời và thuận tiện. Trong những năm 19771980 huyện đã huy động được 396.000 ngày công, mở rộng 125,5 km đường
ra ruộng lên nương, vào khu khai thác lâm nghiệp tổng khối lượng đào đắp
129.000 m3 đất, làm mới và sửa chữa 19 cầu treo. Với địa bàn rộng lớn, đi lại
khó khăn, cán bộ thiếu nhưng ngành bưu điện vẫn đảm bảo thông tin liên lạc
thông suốt, phục vụ tốt công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính
trị của Đảng bộ.
14
đảm bảo cung cấp các công cụ sản xuất nông nghiệp và gạch ngói, xi măng
cho xây dựng, gốm ,sứ cho nhu cầu tiêu dùng…..đưa tổng giá trị từ 12,6%
tăng lên 15%.
* Các ngành dịch vụ:
Giao thông, bưu điện có nhiều mặt tiến bộ, đảm bảo thông suốt từ huyện
đến cơ sở, vận chuyển hàng trăm tấn hàng hóa phục vụ đồng bào vùng cao. Bến
xe khách Thuận Châu nhiều năm liền là lá cờ đầu của ngành Giao thông vận tải
Sơn La. Xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình thủy nông được hoàn thành và
đưa vào sử dụng, phục vụ cho sản xuất và đời sống của đồng bào các dân tộc.
Ngành Tài chính-Ngân hàng đảm bảo cân đối thu chi đáp ứng kịp thời sản xuất
và đời sông nhân dân. Tổng doanh thu năm 1982 đạt 27.500.000 đồng, vượt
10% so với kế hoạch. Đẩy mạnh khai thác và xuất khẩu các nguyên liệu sẵn có ở
địa phương: cần câu trúc, sắn lát, ngô, gỗ lát…..
1.1.4.2. Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2012
Đại hội lần thứ sáu của Đảng (12-1986) đã khởi sướng công cuộc đổi
mới toàn diện đất nước, chuyển cơ chế quản lý từ tập trung bao cấp sang
hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, thực hiện chính sách kinh tế nhiều
thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ năm 1986-1990 Đảng bộ
và nhân dân các dân tộc huyện Thuận Châu đã cải tiến quản lý trong kinh
tế, khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động, hạch toán kinh doanh xã
hội chủ nghĩa, do vậy vụ đông xuân 1986-1987 toàn huyện trồng được
14,441 ha cây lương thực, 873,6 ha cây công nghiệp thực phẩm. Đàn gia
súc năm 1987 có 32.300 con lợn, 14.950 con bò, 12.640 con trâu. Công tác
khoanh nuôi bảo vệ rừng trồng có nhiều chuyển biến, thu hơn 1 triệu đồng
thuế nuôi rừng và bảo vệ 10 ngàn hec ta rừng , đạt 100% kế hoạch. Sản
xuất công nghiệp đã sản xuất ra nhiều mặt hàng gia dụng hợp với thị hiếu
của người tiêu dùng. Mở 7,5 km đường từ Co Mạ đi Mường Bám, sửa
Thu ngân sách vượt kế hoạch; thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực
đầu tư. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường; thực hiện có hiệu
quả các giải pháp bảo đảm ổn định kinh tế, kiềm chế lạm phát, ngăn chặn
suy giảm kinh tế; chủ động đối phó với những diễn biến bất lợi của khí hậu,
thiên tai; công tác di dân tái định cư dự án thuỷ điện Sơn La, công tác bồi
thường, giải phóng mặt bằng dự án cải tạo, nâng cấp quốc lộ 6 giai đoạn II
(Sơn La - Tuần Giáo), chương trình phát triển cây cao su được Uỷ ban
nhân dân huyện triển khai toàn diện và đạt được những kết quả quan trọng.
Tổng sản phẩm nội địa năm 2012 ước đạt 638,92 tỷ đồng, bằng
247,54% so với năm 2005; tốc độ tăng trưởng bình quân 7 năm (2006 - 2012)
đạt 13,83%/năm (Nghị quyết đại hội là 13%/năm). Với sự tăng trưởng như
vậy, Tổng sản phẩm nội địa bình quân đầu người năm 2012 ước đạt 12,04
triệu đồng, tăng 2,6 lần so với năm 2005, tốc độ tăng trung bình qua 7 năm là
14,61%. Tuy nhiên, Thuận Châu vẫn là huyện có thu nhập thấp hơn so với
một số huyện trong toàn tỉnh. Thu nhập bình quân đầu người thấp nên vốn nội
lực cho phát triển kinh tế của vùng còn hạn hẹp. Quy mô kinh tế huyện Thuận
Châu còn nhỏ lẻ, thiếu sức cạnh tranh, tập quán sản xuất lạc hậu. Chính vì
vậy, trong quá trình phát triển kinh tế hiện nay, so với cả nước thì Thuận
Châu vẫn là vùng nghèo về kinh tế.
Cơ cấu ngành kinh tế có sự chuyển dịch tích cực theo hướng giảm tỷ
trọng nông - lâm nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ. Trong
7 năm (2006 - 2012), tỷ trọng tổng sản phẩm nội địa ngành nông - lâm nghiệp
giảm từ 59,01% năm 2005 xuống 47,85% năm 2012; tỷ trọng tổng sản phẩm
nội địa ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 13,82% lên 21,21% năm 2012; tỷ
trọng tổng sản phẩm nội địa ngành dịch vụ tăng từ 27,17% lên 30,93%. Tuy cơ
cấu tổng sản phẩm nội địa đã có sự chuyển biến tích cực, nhưng tỷ trọng của
ngành công nghiệp, xây dựng hiện đang rất thấp. Vì vậy, trong tương lai huyện
17
%
13.82
%
27.17
Thực hiện giai đoạn 2006 – 2012
Tốc độ
tăng
Năm Năm Năm Năm Năm Năm Năm
trưởn
2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012
g bình
quân
100
100
100
100
100
100
100
20.6
5
21.2
3
26.9
8
27.6
5
28.7
8
29.1
3
29.4
5
30.2
1
30.9
5
0
xuất hàng hoá, đẩy mạnh thâm canh, tăng vụ, đưa giống mới có năng suất cao,
áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Sản lượng lương thực có hạt
năm 2012 ước đạt 51.685 tấn - không đạt chỉ tiêu đề ra (chỉ tiêu đề ra là 55.000
tấn); bình quân lương thực đầu người năm 2010 ước đạt 343 kg/người (mục tiêu
đề ra là 370 kg/người). Nguyên nhân của sản lượng lương thực có hạt không đạt
so với chỉ tiêu đề ra là do: bị ảnh hưởng bởi thời tiết rét đậm, rét hại, hạn hán,
sâu bệnh, giá cả đầu vào tăng cao, trình độ dân trí còn thấp, một số vùng còn
chưa có điện, chưa có sóng tivi nên việc tiếp cận với các thông tin dự báo
thời tiết còn hạn chế (Phụ lục-bảng 1.2).
19
Bảng 1.2: Giá trị sản xuất các ngành kinh tế của huyện Thuận Châu giai đoạn 2006 - 2012
Thực hiện giai đoạn 2006 - 2012
Chỉ tiêu
Giá trị sản xuất
Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản
- Nông nghiệp
+ Trồng trọt
+ Chăn nuôi
- Lâm nghiệp
- Ngư nghiệp
- Công nghiệp, xây dựng
+ Công nghiệp:
Dịch vụ
137.60
24.84
172
613.93
234.60
178.0
127.0
51.0
55.0
1.6
183.76
29.64
196
Năm
2007
Năm
2008
Năm
2009
Năm
2010
Năm
2011
70.06
106.98
61.51
65.81
78.35
84.22
66.74
72.61
106.39
1.89
2.10
2.55
2.64
2.07
2.27
108.06
246.05 285.08 297.98
386.37
431.92
536.66
121.93
37.65
42.79
47.62
57.50
63.82
76.58
117.58
224
258
* Các ngành dịch vụ:
Phát triển các loại hình dịch vụ có thế mạnh và lợi thế so sánh, có giá
trị gia tăng cao. Tăng cường phát triển hệ thống dịch vụ phục vụ sản xuất và
đời sống của nhân dân, nhất là việc đảm bảo cung ứng các loại hàng hoá phục
vụ nhu cầu thiết yếu cho địa bàn vùng sâu, vùng xa; tổ chức tốt việc tiêu thụ
hàng hoá nông, lâm sản cho nông dân, hạn chế tối đa hiện tượng đầu cơ, găm
hàng, nâng giá và gian lận thương mại. Thị trường không ngừng được mở
21