1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh răng miệng hiện nay vẫn còn là bệnh phổ biến, gặp ở mọi tầng
lớp, lứa tuổi, trong đó hay gặp nhất là bệnh sâu răng và viêm lợi. Do tính chất
phổ biến, tỷ lệ mắc cao trong cộng đồng nên điều trị bệnh tốn kém cho cá
nhân, gia đình và xã hội. Trong 10 năm gần đây, mặc dù tỷ lệ mắc bệnh răng
miệng đã được cải thiện đáng kể ở những nước phát triển và đang phát triển
nhờ những tiến bộ khoa học về phòng bệnh và triển khai các chương trình nha
học đường của các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, bệnh răng
miệng vẫn còn chiếm tỷ lệ cao nhất là ở các đối tượng học sinh, sinh viên.
Ở Việt Nam, tình trạng sâu răng và viêm lợi còn ở mức cao trên 90%
dân số và có chiều hướng gia tăng vào những năm gần đây . Nhiều nghiên
cứu đã cho thấy tỷ lệ mắc bệnh tăng theo lứa tuổi và thời gian . Tại Hà Nội năm
2007, theo kết quả nghiên cứu của tác giả Trương Mạnh Dũng và Lương Thị
Kim Liên trên 595 đối tượng có độ tuổi từ 18 đến 45 đã cho thấy tỷ lệ mắc sâu
răng khá cao: chỉ số SMT chung là 2,08, của nhóm 18 – 34 tuổi là 1,94; có tới
63,3% sâu răng ở nhóm 18 – 34 tuổi và tăng lên 73,8% ở nhóm tuổi 35 – 44, nữ
có tỷ lệ mắc cao hơn nam . Kết quả nghiên cứu của Trần Anh Thắng (2012) tại
Hòa Bình cũng cho thấy tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn chung là 56%, chỉ số SMT ở
lứa tuổi 18 là 2,12 . Các bệnh lý khác như viêm lợi hay tình trạng cao răng, mảng
bám răng cũng gặp khá nhiều ở lứa tuổi ≥ 18 trên sinh viên các trường chuyên
nghiệp. Một nghiên cứu gần đây về tình trạng viêm lợi của tác giả Bùi Trung
Dũng (2013) trên đối tượng sinh viên năm thứ 1 của trường Đại học Y Hà Nội
đã cho thấy tỷ lệ viêm lợi rất cao (80%) .
Bệnh răng miệng do nhiều nguyên nhân gây ra dưới sự tác động của
nhiều yếu tố nguy cơ. Ngoài các yếu tố tác nhân lý, hóa, sinh học thì kiến
thức, thái độ và thực hành các biện pháp vệ sinh răng miệng của các cá nhân
có liên quan rất nhiều tới bệnh răng miệng. Nghiên cứu của Sấn Văn Cương
(2013) cho thấy có tới 75,0% học sinh không hiểu biết về phòng bệnh răng
2.
Đánh giá thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành vệ sinh răng
miệng ở sinh viên năm thứ nhất và thứ 3 trường Cao đẳng Y tế Hà
Nội năm 2014.
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.TÌNH HÌNH BỆNH RĂNG MIỆNG Ở VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI
1.1.1. Một số khái niệm về chăm sóc răng miệng
Chăm sóc răng miệng (CSRM) là hành vi của cá nhân cùng với sự tham
gia của thầy thuốc như bác sĩ chuyên khoa răng hàm mặt, nha sỹ, điều dưỡng
viên, kỹ thuật viên ... tác động vào răng miệng nhằm giữ gìn trạng thái toàn
vẹn cả về chức năng và thẩm mỹ của răng miệng.
Răng miệng là cửa ngõ của cơ quan tiêu hóa, sự toàn vẹn của cơ quan
răng miệng góp phần rất lớn vào việc hoàn thành chức năng tiêu hóa của cơ
thể. Răng miệng còn liên quan mật thiết tới chức năng phát âm, tới thẩm mỹ
khuôn mặt của con người. Các bệnh lý của răng miệng như sâu răng, viêm lợi,
viêm quanh răng, mất răng, lệch lạc răng, viêm loét niêm mạc miệng ... phần
lớn là do quá trình chăm sóc răng miệng quyết định.Vì vậy, vấn đề chăm sóc
răng miệng là không thể thiếu được trong chăm sóc sức khỏe con người.
Chăm sóc răng miệng bao gồm:
* Giữ gìn răng miệng
* Vệ sinh răng miệng
* Khám định kỳ
* Điều trị các bệnh răng miệng sớm và kịp thời
súc miệng. Bên cạnh đó còn có nhiều phương tiện khác giúp làm sạch răng
phù hợp với các đối tượng khác nhau như bàn chải điện, bàn chải kẽ, tăm
nước, tăm gỗ, kẹo cao su có đường xylitol...
- Khám định kỳ răng miệng: khám răng miệng định kỳ thường được
thực hiện khoảng 6 tháng/lần. Khám định kỳ nhằm phát hiện sớm và kịp thời
5
bệnh sâu răng và các bệnh khác ở răng miệng như viêm lợi, viêm quanh răng,
viêm niêm mạc miệng, viêm lưỡi, biến chứng do mọc răng, dự phòng răng
mọc lệch lạc đối với trẻ em…Có những bệnh như sâu răng thường tiến triển
từ từ, lúc đầu thường không có biểu hiện đau hoặc chỉ ê buốt thoáng qua, vì
thế bệnh nhân thường không để ý và xem nhẹ. Khi có triệu chứng ê buốt, đau
nhức nhiều thì rất có thể tủy răng đã bị viêm. Lúc này việc điều trị đã trở nên
phức tạp hơn. Do đó khám định kỳ để phát hiện sớm sâu răng là việc làm rất
quan trọng. Đây là một nội dung cần được đưa vào chương trình truyền thông
giáo dục sức khỏe răng miệng cho mọi người.
- Điều trị các bệnh răng miệng sớm và kịp thời: về nguyên tắc tất cả
các bệnh nếu được điều trị sớm đều đem lại kết quả tốt hơn so với điều trị
muộn. Đối với bệnh răng miệng, đặc biệt là sâu răng, điều trị sớm sẽ đem lại
kết quả rất tốt, giảm bớt được chi phí không cần thiết, răng vẫn duy trì được
chức năng sống của nó. Điều trị muộn là điều trị khi lỗ sâu lớn, đã ảnh hưởng
đến tủy hoặc thậm chí gây viêm quanh cuống. Điều trị sớm là điều trị khi lỗ
sâu còn nhỏ, nông, mô răng bị phá hủy ít, tủy răng hoàn toàn chưa bị tổn
thương, bệnh nhân chưa có triệu chứng cơ năng gì đặc biệt. Sâu răng là bệnh
không có khả năng hoàn nguyên, các mô răng đã mất thì không thể tái tạo
được như ở các mô khác (xương, cơ, da, niêm mạc). Vì thế, việc điều trị sớm
được coi là biện pháp ngăn chặn mất mô răng đồng thời dự phòng các biến
chứng sẽ xảy ra nếu không điều trị.
được giới thiệu trên Internet với tên gọi “Chương trình mô hình sức khỏe răng
miệng các quốc gia/khu vực của WHO – CAPP”.
Hiện nay, theo xác định của ngân hàng dữ liệu sức khỏe răng miệng của
WHO , có hai xu hướng chính của sức khỏe răng miệng:
7
- Xu hướng xấu đi cho phần lớn các nước đang phát triển (SMT trung
bình của trẻ 12 tuổi tăng từ 2 lên 4,1).
- Xu hướng cải thiện cho phần lớn các nước công nghiệp hóa cao (SMT
trung bình của trẻ 12 tuổi đã tụt từ 7-10 xuống khoảng 2-4 . Năm 1997, Một
nghiên cứu ở vùng tây nam nước Đức trên học sinh 7-10 tuổi cho thấy 65,2%
sâu nhiều răng vĩnh viễn, chỉ số SMT là 2,68 . Năm 1998, Whittle đã nghiên
cứu trên học sinh 7 trường THCS ở nước Anh, kết quả cho thấy: Chỉ số SMT
giảm dần theo thời gian. Cụ thể:
Năm 1960: chỉ số SMT là 6,01- 6,54
Năm 1988: chỉ số SMT là 2,34 - 3,34
Năm 1997: chỉ số SMT chỉ còn 1,65 tương ứng mức độ thấp . Đó là nhờ
các biện pháp phòng bệnh hữu hiệu.
Ở những nước đang phát triển, tình trạng sâu răng và chỉ số SMT ở trẻ
em còn cao và có chiều hướng tăng lên. Chỉ số SMT ở một số nước như Iran
là 2,4 (1974) lên 4,9 (năm 1976); Maroc: từ 2,6 (năm 1960) lên 4,5 (năm
1980); Philippines tăng từ 2,4 đến 5,5 năm 1994 .
Năm 2003, theo một nghiên cứu về tình trạng sâu răng và vệ sinh răng
miệng ở nam sinh viên nha khoa ở trường Cao đẳng King Saud, Riyadh, tác
giả đã cho thấy trong tổng số 211 nam sinh viên (Độ tuổi trung bình là 22),
trong đó có 61 sinh viên năm thứ nhất, 33 sinh viên năm thứ 3, tình trạng sâu
răng được mô tả theo bảng sau :
Bảng 1.1. Thực trạng sâu răng của sinh viên năm thứ nhất và thứ 3
Nhóm tiền lâm sàng (Năm thứ 1 và 2) và nhóm lâm sàng (Năm thứ 3 và 4),
kết quả cho thấy chỉ số DMFT của nhóm lâm sàng (1,41±1,95) có thấp hơn so
với nhóm tiền lâm sàng (1,87±2,63). Số răng sâu (DT) của nhóm lâm sàng
(0,62±1,19) cũng giảm hơn so với nhóm tiền lâm sàng (1,15±1,98) .
Đến năm 2013, nghiên cứu của tác giả Um-e-Rubab Shirazi trên 310 sinh
viên nha khoa, có độ tuổi trung bình từ 18 – 24, của trường Lahore Medical
và Dental College (LMDC) cho thấy chỉ số DMFT chung là 1,38±0,54, số
răng sâu (D) là 0,54±0,62, số răng mất (M) là 0,01±0,10 và số răng trám (F)
là 0,83±0,68 .
1.1.2.2. Bệnh quanh răng
Năm 1960, Theo Rosenzwing nghiên cứu tại Ấn Độ, tỷ lệ viêm lợi ở lứa
tuổi 17 là 100%. Một nghiên cứu tại Chiang Mai, Thái Lan của tác giả Yupin
cũng cho thấy tỷ lệ viêm lợi ở lứa tuổi 35 - 44 cũng rất cao (93%), tương
đương với tỷ lệ bệnh này ở Châu Âu, chỉ có 0,7% là lợi khỏe mạnh .
Theo nghiên cứu của một số tác giả ở một số nước thuộc châu Âu, châu
Mỹ, châu Á, tỷ lệ trẻ em bị bệnh quanh răng cao ở mức trên 90%. Chỉ số nhu
cầu điều trị nha chu của cộng đồng tuổi 12 và 15 tại một số nước như Thái Lan,
Brazin, Đức được công bố CPITN 1 và 2 từ 43,7 đến 95,7 ở tuổi 12; 38,6 đến
94,4% ở tuổi 15. Ngoài ra còn có trên 50% trẻ 15 tuổi có CPITN 3 và 4 .
Năm 1996, tại Singapore, nghiên cứu trên 3157 thanh niên Singapore độ
tuổi từ 20 đến 65 đã cho thấy tỷ lệ có cao răng khá cao (79,2%), nhu cầu muốn
được phòng bệnh và hướng dẫn vệ sinh răng miệng là 92% .
Năm 1997, WHO cho biết ở các nước trong khu vực châu Á, có trên 80%
dân số bị sâu răng và viêm lợi. Chỉ số SMT lứa tuổi 12 ở mức cao từ 0,7 đến
5,5 trong đó ở Trung Quốc là 0,7; ở Lào là 2,4; ở Campuchia là 4,9; Philipin
là 5,5; Việt Nam là 1,8 .
9
54,6
1,91
12 – 14
695
64,1
2,05
15 - 17
670
68,6
2,40
Qua bảng trên ta thấy tình trạng sâu răng vĩnh viễn còn rất phổ biến và
Tuổi
n
tăng dần theo nhóm tuổi. Đặc biệt ở nhóm 15 - 17 tuổi, tỷ lệ sâu răng rất cao
(68,6%). Đây là vấn đề rất đáng quan tâm.
10
Năm 2003, nghiên cứu của Lương Ngọc Trâm trên đối tượng học sinh
vùng cao tỉnh Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn ở độ tuổi 15 là
40%, chỉ số SMT = 2,0 . Cũng trong năm này, một nghiên cứu khác của tác
giả Đào Thị Ngọc Lan trên đối tượng học sinh dân tộc của tỉnh Yên Bái cũng
cho thấy tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn rất cao. Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn ở lứa tuổi
15 là 58,31%, chỉ số SMT là 1,7 . Năm 2004, kết quả nghiên cứu của Lê Ngọc
Tuyến, Nguyễn Quốc Trung, Trần Thị Lan Anh điều tra trên học sinh tiểu học
tại Hà Nội cho thấy tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn là 30,95% .
FT
0,04
0,21
0,25
0,15
DMFT
2,84
3,29
4,70
8,93
Kết quả bảng trên cho thấy tỷ lệ sâu răng ở người Việt Nam trưởng thành
rất cao, đặc biệt ở nhóm tuổi 18 là 87,5%, chỉ số DMFT là 2,84 .
Năn 2007, một nghiên cứu tại xã Vân Nội, Đông Anh, ngoại thành Hà
Nội của tác giả Trương Mạnh Dũng và Lương Thị Kim Liên tiếp tục cho thấy
tỷ lệ sâu răng ở nhóm tuổi 18 – 34 là 63,3%. Chỉ số SMT ở nhóm tuổi này là
1,94; trong đó chỉ số S là 1,28; M là 0,55; T là 0,11; chỉ số S của nhóm tuổi
này cao hơn nhóm tuổi 35 – 44. Giữa hai giới thì tỷ lệ sâu răng ở nữ (72,4%)
cao hơn nam (61,9) .
Năm 2012, qua nghiên cứu 1204 học sinh lứa tuổi 16 - 18 tại trường
THPT tỉnh Hòa Bình cho thấy: tỷ lệ sâu răng ở tuổi 18 khá cao (56,5%), chỉ
số SMT ở nhóm tuổi 18 là 2,12 .
11
Gần đây (2013), nghiên cứu của Phạm Thị Thúy trên 350 học sinh THPT
Chu Văn An – Hà Nội cũng cho thấy tỷ lệ sâu răng ở tuổi 18 là 50,4%, chỉ số
tuổi 15 là 95,67% và ở lứa tuổi 35 – 44 là 97% . Cũng trong năm này, kết quả
nghiên cứu của Viện Răng hàm mặt Hà Nội ở nhóm tuổi 15 – 24, sau 03
tháng điều trị viêm lợi bằng lấy cao răng, tỷ lệ viêm lợi vẫn ở mức cao là
72,7% (Nam) và 80% (Nữ) .
Năm 1999, theo kết quả điều tra tình hình và nhu cầu điều trị bệnh
quanh răng trên 1350 đối tượng nghiên cứu ở lứa tuổi 15 – 49 của Nguyễn
Đức Thắng cho thấy chỉ số CPITN ở mức cao trong đó ở nhóm tuổi 15 – 19 là
83% đến 89%, ở nhóm tuổi 20 – 29 là 92% . Năm 2001, Kết quả điều tra bệnh
răng miệng toàn quốc đã cho thấy tỷ lệ nhu cầu lấy cao răng tăng dần theo
tuổi: 78,4% ở nhóm 12 – 14 tuổi, 83,4% ở nhóm 15 – 17 tuổi và 91% ở nhóm
35 – 44 tuổi .
Theo kết quả điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc năm 1999 – 2001
cũng cho thấy tỷ lệ bệnh quanh răng tăng dần theo nhóm tuổi từ 50,52% ở
nhóm 6 – 8 tuổi cho đến 93,53% ở nhóm tuổi 15 - 17 (Bảng 1.2).
Bảng 1.4. Tình trạng bệnh quanh răng theo nhóm tuổi toàn quốc
từ 1999 – 2001
Tuổi
6-8
n
706
Chảy máu lợi (%)
42,7
Cao răng (%)
25,5
Bệnh quanh răng (%)
50,52
Năm 2005, theo báo cáo tổng kết chương trình nha học đường toàn
quốc, trẻ từ 15 đến 17 tuổi bị viêm lợi chiếm 66,9%. Năm 2007, theo báo cáo
của Bệnh viện Răng Hàm Mặt trung ương thành phố Hồ Chí Minh, số người
mắc các bệnh vùng quanh răng chiếm 99,4% dân số, gồm các bệnh như viêm
lợi kèm theo cao răng, có túi mủ quanh răng, viêm lợi và mất răng . Tình
13
trạng viêm lợi ở trẻ em Việt Nam trong các năm 2000 được tóm tắt trong
bảng sau:
Bảng 1.5.Tình trạng viêm lợi trẻ em Việt Nam năm 2000
Nhóm tuổi
Khu vực
6-8
12 - 14
15 - 17
Toàn quốc
Toàn quốc
Toàn quốc
Năm nghiên
Tỷ lệ chảy
Tỷ lệ có cao
tình trạng viêm lợi ở nhóm sinh viên năm thứ I trường Đại học Y Hà Nội cao
(80%) trong đó tập trung chủ yếu ở mức trung bình chiếm 65%, viêm lợi nhẹ
ở mức thấp hơn (15%), và không có viêm lợi ở mức nặng .
Năm 2014, Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hải Hậu trên 100 sinh viên năm
thứ nhất của Đại học Y Hà Nội cho kết quả: chỉ số OHI – S trung bình là 0,91
14
±0,38 cho thấy tình trạng vệ sinh răng miệng ở mức trung bình. Tỷ lệ viêm lợi
nhẹ chiếm tới 82%, không có sinh viên nào viêm lợi nặng. Không có sinh
viên nào mắc bệnh viêm quanh răng .
Điều này càng cho thấy sự cần thiết phải sớm phát hiện thực trạng kiến
thức, thái độ và hành vi chăm sóc răng miệng ở các đối tượng học sinh, sinh
viên để thực hiện truyền thông - giáo dục sức khỏe răng miệng góp phần giảm
bớt các nguy cơ của bệnh răng miệng cho các em học sinh, sinh viên.
1.2. SINH BỆNH HỌC BỆNH SÂU RĂNG, VIÊM LỢI
1.2.1. Bệnh sâu răng
Bệnh sâu răng là bệnh phá hủy tổ chức cứng của răng (men, ngà) thành hố
trên răng gọi là lỗ sâu. Lỗ sâu một khi đã hình thành thì không có khả năng hoàn
nguyên. Qua lỗ sâu, vi khuẩn (Streptococcus Mutan) sẽ thâm nhập vào tủy răng
gây viêm tủy răng, viêm quanh cuống răng hoặc nặng hơn nữa gây viêm xương
hàm, viêm mô tế bào, nhiễm trùng huyết và các bệnh toàn thân do răng …
Từ trước năm 1970, người ta giải thích nguyên nhân gây sâu răng theo sơ
đồ Keyes với sự tác động cộng gộp của 3 yếu tố là răng, đường và vi khuẩn. Do
vậy, việc phòng bệnh chủ yếu tập trung vào chế độ ăn hạn chế đường, vệ sinh
răng miệng sạch nhưng hiệu quả dự phòng sâu răng vẫn hạn chế .
ĐƯỜNG
RĂNG
răng là một bệnh nhiễm khuẩn tổ chức canxi hóa được đặc trưng bởi sự hủy
khoáng của thành phần vô cơ và sự phá hủy thành phần hữu cơ của mô cứng.
Tổn thương là quá trình phức tạp bao gồm các phản ứng hóa lý liên quan đến
16
sự di chuyển các ion bề mặt giữa răng và môi trường miệng và là quá trình
sinh học giữa các vi khuẩn mảng bám với cơ chế bảo vệ của vật chủ. Cơ chế
sinh bệnh học sâu răng được thể hiện bằng hai quá trình hủy khoáng và tái
khoáng. Nếu quá trình hủy khoáng lớn hơn quá trình tái khoáng thì sẽ gây sâu
răng. Có thể tóm tắt cơ chế gây sâu răng như hình dưới đây:
Các yếu tố gây mất ổn định làm sâu răng:
- Mảng bám vi khuẩn.
- Chế độ ăn đường nhiều lần.
- Thiếu nước bọt hay nước bọt acid.
- Acid từ dạ dày tràn lên miệng (Hội
chứng trào ngược).
- pH < 5.
Các yếu tố bảo vệ:
Nước bọt.
Khả năng kháng acid của men răng.
Ion Fluor có ở bề mặt men răng.
Trám bít hố rãnh.
Độ Ca++, NPO4- quanh răng.
pH > 5,5
Hình 1.3. Sơ đồ tóm tắt cơ chế sâu răng
Có 4 chiến lược được ghi nhận để thay đổi tốc độ tấn công của sâu răng
đúng kỹ thuật, hạn chế ăn đường và vệ sinh răng miệng sau ăn hoặc dùng
biện pháp hóa học.
Viêm lợi là bệnh lý xuất hiện rất sớm khi mảng bám răng hình thành
được 7 ngày. Vi khuẩn ở mảng bám răng kích thích gây viêm lợi. Một vài
biểu hiện dễ nhận thấy khi mắc bệnh viêm lợi:
- Lợi chảy máu trong và sau khi đánh răng.
- Lợi đỏ, sưng tấy hoặc khi chạm vào dễ gây đau.
18
- Hơi thở hôi liên tục hoặc vi giác kém khi ăn.
- Lợi tụt lùi vào trong.
- Giữa răng và lợi xuất hiện những khe hổng, sâu.
1.3. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC
HÀNH VỆ SINH RĂNG MIỆNG
Hành vi sức khỏe, trong đó có hành vi chăm sóc răng miệng (CSRM) là
một trong nhiều khái niệm có liên quan đến hành vi con người. Hành vi sức
khỏe có vai trò rất quan trọng, tạo lập nên sức khỏe cho mỗi cá nhân, gia đình,
cộng đồng. Nghiên cứu về hành vi sức khỏe là một phần quan trọng trong các
nghiên cứu cũng như can thiệp cộng đồng. Hành vi con người là một phức
hợp của nhiều hành động chịu ảnh hưởng bởi yếu tố di truyền, môi trường,
kinh tế - xã hội và chính trị . Kiến thức (Knowledge), Thái độ (Attitude),
Hành vi (Practice) là tập tính, thói quen, cách sống, cách suy nghĩ, hành động
của con người đối với môi trường bên ngoài, đối với bệnh tật.
- Kiến thức (Knowledge): bao gồm những hiểu biết của con người,
thường khác nhau và bắt nguồn từ kinh nghiệm sống hoặc của người khác
truyền lại. Hiểu biết nhiều khi không tương đồng với kiến thức mà chúng ta
có thể tiếp thu thông qua những thông tin mà thầy cô, cha mẹ, người thân, bạn
bè, sách báo, internet ... cung cấp. Hiểu biết rất khó thay đổi khi hiểu sai và
Ở nhóm sinh viên năm thứ 3, tỷ lệ sinh viên có kiến thức kém đã giảm nhiều
(3%), tỷ lệ khá cũng tăng lên (87,9%). Năm 2011, kết quả nghiên cứu của
bác sĩ Manoj Humagain trên 1000 sinh viên năm thứ 2 (Nepal) cho thấy chỉ
có 21% sinh viên biết chải răng với kem đánh răng giúp dự phòng viêm lợi,
100% sinh viên biết đồ ngọt và 73% biết thức uống không cồn có ảnh hưởng
xấu đến sức khỏe răng miệng . Cũng trong năm này, nghiên cứu của
R.Neeraja (Ấn Độ) cho thấy tổng điểm kiến thức về sức khỏe răng miệng
(Kiến thức chải răng, kiến thức sử dụng chỉ tơ, kiến thức về nước súc
20
miệng…) được cải thiện dần theo năm học. Cụ thể, tổng điểm của nhóm sinh
viên năm thứ nhất là 6,88 ± 1,69, của nhóm năm thứ 3 là 8,25± 2,00, sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Còn tại Tanga, Tanzania (2011),
nghiên cứu của Lorna Carneiro trên 2 nhóm sinh viên tại 2 quận Tanga và
Lushoto (Tuổi trung bình là 16,9) đã cho thấy có tới 88,4% sinh viên có kiến
thức đầy đủ về nguyên nhân, cách dự phòng và nhận biết các dấu hiệu về sâu
răng. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, độ tuổi, giới tính không có ảnh hưởng
đến mức độ kiến thức về vệ sinh răng miệng . Gần đây nhất, một nghiên cứu
trên các sinh viên ở tỉnh Jamma, Ethiopia (2014) cho thấy trong 300 sinh
viên ở độ tuổi trung bình 22,1 có tới 57,6% sinh viên nam và 52,5% sinh viên
nữ đạt điểm cao về kiến thức bệnh sâu răng. Qua đó có thể thấy rằng nếu các
em sinh viên đặc biệt là các sinh viên điều dưỡng được trang bị đầy đủ những
kiến thức về bệnh, các biện pháp chăm sóc răng miệng ngay từ khi còn trên
ghế nhà trường sẽ giúp các em có thể tự chăm sóc răng miệng cho bản thân,
gia đình, bạn bè, cũng như có thể giúp đỡ bệnh nhân, cộng đồng dự phòng,
chăm sóc răng miệng tốt hơn.
- Thái độ (Attitude): thái độ bao gồm tư duy, lập trường, quan điểm của
đối tượng. Ở lứa tuổi >18 và là học sinh – sinh viên trường chuyên nghiệp,
đau . Năm 2006, nghiên cứu của tác giả F.Maatouk và cộng sự trên 155 sinh
viên nha khoa ở Tuy-ni-di cho thấy có 86% sinh viên chải răng ít nhất 2
lần/ngày, hơn 90% đã từng đi khám răng miệng một năm trước . Một nghiên
cứu khác tại một trường học ở phía bắc Jordan, nghiên cứu của tác giả
Mahmoud K. Al – Omiri và cộng sự cho thấy: có 83,1% học sinh có sử dụng
bàn chải và kem đánh răng để vệ sinh răng miệng, 36,4% học sinh có chải
răng buổi sáng, 52,6% học sinh có chải răng buổi tối trước khi đi ngủ, và chỉ
có 17,6% học sinh có chải răng ngày 02 lần vào buổi sáng và buổi tối trước
khi đi ngủ, có 66% học sinh đi khám răng miệng định kỳ, có 46,9% chỉ đến
nha sĩ khi đau răng và 20,1% ít khi và không bao giờ đến nha sĩ .
22
Nghiên cứu của tác giả Nadeem M và cộng sự trên đối tượng các sinh
viên nha khoa từ năm thứ nhất đến năm thứ 4 trường LCMD, Karachi,
Pakistan năm 2011 cho thấy trong số 221 sinh viên năm thứ nhất, có 63,2%
chải răng 1 lần/ngày; 29,8% chải răng 2 lần/ngày; chỉ có 7% chải răng sau
mỗi bữa ăn. Ở nhóm sinh viên năm thứ 3, có 25,1% chải răng 1 lần/ngày;
72,9% chải răng 2 lần/ngày; chỉ có 2,1% chải răng ngay sau mỗi bữa ăn. Sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê (p< 0,001). Thói quen sử dụng chỉ tơ nha khoa
hàng ngày cũng tăng dần theo thời gian học tập của sinh viên. Tỷ lệ sử dụng
chỉ tơ nha khoa ở năm thứ 2 là 59% trong khi đó ở năm thứ 4 là 82%. Về thời
gian chải răng, có thể tổng kết qua bảng dưới đây:
Bảng 1.6. Thực trạng về thực hành chải răng của sinh viên năm thứ 1 và thứ
3 trường LCMD
Sinh
viên
Thứ 1
Thứ 3
2
4,2
Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của tác giả Lê Bá Nghĩa, có 90,9% học
sinh đã từng đi khám răng, 94% chải răng ít nhất 2 lần một ngày, 70% chải
răng từ 1 – 3 phút, chỉ có 43,3% chải răng đúng cách, 96,9% chải răng buổi
sáng thường xuyên, 87,1% chải răng buổi tối thường xuyên, 68,3% xúc miệng
sau khi ăn đồ ngọt và 56,5% có dùng nước súc miệng ít nhất 2 lần mỗi tuần,
có 37,5% - 54,1% có uống đồ ngọt, chỉ có 4,4% thường xuyên cho thêm
đường vào đồ uống, 50% - 66,3% có ăn đồ ngọt .
Một nghiên cứu khác của tác giả Lê Đức Thuận tại Hải Dương cũng cho
thấy trên 80% học sinh có điểm kiến thức – thái độ - thực hành được đánh giá
là tốt . Gần đây kết quả kết quả nghiên cứu của tác giả Sấn Văn Cương tại Hà
Giang cũng cho thấy 69,7% học sinh THPT thực hành chăm sóc răng miệng
23
tốt và 17,6% thực hành vệ sinh răng miệng kém; 50,3% học sinh hay ăn đồ
ngọt, bánh kẹo, chỉ có 34,4% học sinh đi khám răng miệng và 35,05% học
sinh đi khám răng miệng định kỳ .
Trên thực tế hiện nay, các nghiên cứu về kiến thức, thái độ và hành vi dự
phòng răng miệng của học sinh, đặc biệt nhóm tuổi từ 18 đến 20 còn rất
khiêm tốn. Bệnh răng miệng là bệnh rất phổ biến và mang tính chất xã hội. Vì
vây, muốn công tác chăm sóc sức khỏe răng miệng có hiệu quả cao, rất cần có
những nghiên cứu đánh giá về kiến thức, thái độ và thực hành của cộng đồng
nọi chung, nhất là học sinh, sinh viên các trường đại học và cao đẳng để giúp
các đối tượng này có thái độ phòng bệnh sớm ngay cho chính bản thân mình.
1.4. CÁC BIỆN PHÁP DỰ PHÒNG BỆNH SÂU RĂNG, VIÊM
LỢI
- Giảm mức độ tiêu thụ đường ở tầm quốc gia.
1.4.2. Dự phòng bệnh viêm lợi
* Các kỹ thuật chải răng
Các kỹ thuật chải răng phải đáp ứng được các yêu cầu sau:
- Phải làm sạch được tất cả các mặt răng, đặc biệt là vùng rãnh lợi và kẽ
răng. Việc chải răng thường làm sạch tốt ở phần lồi của răng nhưng lại hay để
lại mảng bám ở những phần lõm và nơi bị che khuất.
- Việc di chuyển bàn chải không được làm tổn thương tổ chức mềm và
tổ chức cứng. Chải răng theo hướng thẳng đứng và kéo ngang có thể làm co
lợi và mòn răng.
- Kỹ thuật phải đơn giản và dễ học, dễ hướng dẫn cho cộng đồng.
- Phương pháp chải răng phải được thực hiện tốt sao cho tất cả các
phần của răng đều được chải và không vùng nào bị bỏ qua. Hai hàm răng có
thể được chia ra một số phần để chải theo trình tự tùy thuộc vào kích thước
cung răng, kích thước bàn chải và thói quen từng người.
25
- Có hai kỹ thuật chải răng được nhiều người ưa chuộng là kỹ thuật
cuốn (The roll technique) được dùng khi lợi nhạy cảm và kỹ thuật Bass (The
Bass technique) được dùng khi lợi lành mạnh .
* Làm sạch kẽ răng
- Tùy trường hợp mà sử dụng một biện pháp hoặc phối hợp một số biện
pháp như dùng chỉ nha khoa (Dental Floss), tăm gỗ, bàn chải kẽ răng
(Interproximal brush), dùng loại bàn chải để chải răng ở vùng giữa các
khoảng trống (The interspace brush), dùng bàn chải tự động. Năm 2000,
Warren thông báo kết quả nghiên cứu về tác dụng của bàn chải tự động trên
16.903 người và kết quả cho thấy có 80,5% người không còn mảng bám và
cải thiện được sức khỏe răng miệng .