Ly hôn trong các gia đình người Việt theo Công giáo (qua nghiên cứu giáo xứ Chợ Mới, Nha Trang, Khánh Hòa) - Pdf 41

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

CAO KỲ HƢƠNG

LY HÔN TRONG CÁC GIA ĐÌNH
NGƢỜI VIỆT THEO CÔNG GIÁO
(QUA NGHIÊN CỨU GIÁO XỨ CHỢ MỚI
NHA TRANG, KHÁNH HOÀ)

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA DÂN GIAN
MÃ SỐ

: 62 22 01 30

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. LÊ HỒNG LÝ

HÀ NỘI - 2017


MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU....................................................................................................................1

PHỤ LỤC................................................................................................................177


MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Luật Hôn nhân và Gia đình (HNVGĐ) năm 2000, đƣợc sửa đổi bổ sung
năm 2010, khẳng định ngay trong Lời nói đầu: “Gia đình là tế bào của xã hội,
là cái nôi nuôi dƣỡng con ngƣời, là môi trƣờng quan trọng hình thành và giáo
dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Gia đình
tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt.” [80, tr. 9; tr. 74]. Thế
nhƣng trong xã hội Việt Nam hiện nay, hiện tƣợng gia đình tan rã hoặc biến
thể đang gia tăng. Theo thống kê quốc gia, tình hình ly hôn tăng nhanh mỗi
năm: năm 2005 có 65.929 vụ, thì đến năm 2010 có 126.325 vụ [197].
Công giáo vốn đƣợc biết đến là tôn giáo chủ trƣơng gia đình chỉ một vợ
một chồng (đơn hôn) và không ly hôn (vĩnh hôn). Cho nên từ trƣớc đến nay,
khi viết về gia đình ngƣời Công giáo, đặc biệt là giá trị hôn nhân Công giáo,
không ít các nhà nghiên cứu cho rằng đó là hôn nhân có truyền thống bền
vững, đảm bảo sự yên ổn trong gia đình và thƣờng lấy đó làm thƣớc đo khi đề
cập đến hôn nhân của những thành phần xã hội khác. Thế nhƣng, trải qua thời
gian, đặc biệt từ thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay, ly hôn trong các gia
đình Công giáo đang có chiều hƣớng gia tăng. Nếu trƣớc năm 1990, tức là
cách đây khoảng 20-25 năm, ly hôn trong Công giáo là hiện tƣợng hết sức
hiếm, hầu nhƣ không có, hoặc nếu có, chỉ vài ngƣời lén lút, thì hiện nay, giáo
dân có thể biết rõ ràng những ai ly hôn trong giáo xứ mình. Điều này cho thấy
giá trị hôn nhân của Công giáo đang bị tổn thƣơng, giáo lý về hôn nhân “bất
khả phân ly” và bí tích hôn phối đang trở nên bất khả toàn.
Nếu ly hôn giải phóng các cặp vợ chồng không đạt đƣợc mục đích của
hôn nhân, và nhờ đó ly hôn đem lại hạnh phúc cho một số ngƣời thì cũng đem

1



vốn nghiêm khắc với ly hôn nhƣ Công giáo. Ngƣợc lại, các trƣờng hợp ly hôn
của ngƣời Việt Công giáo cũng phản ánh tình trạng gia đình trong xã hội hiện
nay.
Vì những lý do trên, việc chọn nghiên cứu ly hôn ở cộng đồng ngƣời
Việt Công giáo trong khung cảnh văn hoá, xã hội đất nƣớc ta hiện nay, là một
đóng góp cần thiết và hữu ích cho nghiên cứu chung về vấn đề đƣơng đại.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu sinh đặt hai câu hỏi nghiên cứu 1) “Thực trạng ly hôn ở giáo
xứ Chợ Mới, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà trong bối cảnh xã hội
chuyển đổi hiện nay nhƣ thế nào?” và 2) “Thực trạng đó hiện nay nói lên điều
gì về quan niệm và lối sống của giáo dân ở đó trên phƣơng diện hôn nhân và
ly hôn?”.
2.2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở lý luận và thực ti n ly hôn
của ngƣời Công giáo tại một địa phƣơng cụ thể ở vùng đất Nam Trung Bộ,
nhìn nhận thực trạng của nó đã di n ra nhƣ thế nào và lý giải toàn diện về
hiện tƣợng xã hội này.
2.3. Nhiệm vụ của luận án
Từ đó nhiệm vụ của luận án là 1) Làm rõ bối cảnh xã hội tác động đến
vấn đề ly hôn của ngƣời Công giáo ở giáo xứ Chợ Mới, thành phố Nha Trang,
tỉnh Khánh Hoà; 2) Làm rõ quan niệm của ngƣời Việt Công giáo tại địa
phƣơng đó về hôn nhân và gia đình và vấn đề ly hôn; 3) Làm rõ thực trạng ly
hôn của ngƣời Việt Công giáo qua khảo sát tại địa phƣơng đó; và 4) Từ đó,
luận án sẽ hƣớng tới việc lý giải tại sao lại di n ra thực trạng đó và những hệ
lụy mà nó đem lại nhƣ thế nào?

3



Thứ hai, đây là một trong số rất ít giáo xứ cổ xƣa nhất của giáo phận Nha
Trang, đã đƣợc hình thành từ trƣớc năm 1671, tức là đã tồn tại gần 350 năm.
Thứ ba, đây là một giáo xứ thôn quê nhƣng lại nằm ở ngoại ô thành phố,
đang trong tiến trình chuyển hoá từ nông nghiệp sang phi nông, cung cấp dịch
vụ cho thành phố du lịch Nha Trang.
Thứ tƣ, giáo xứ này đã có nhiều vị tử đạo nổi tiếng nhƣ nữ tu Anê Dần,
chủng sinh Giuse Hữu, đã cung cấp cho đạo mƣời linh mục, vài chục tu sĩ
nam nữ và hàng trăm ơn gọi tu trì, tức là có nếp sống “Công giáo nòi”.
Và cuối cùng, giáo xứ này tham gia tích cực vào các hoạt động, chủ
trƣơng của Nhà nƣớc, biểu hiện rõ nhất là linh mục quản xứ hiện nay đang là
thành viên của Ủy ban Đoàn kết Công giáo tỉnh Khánh Hòa.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu của luận án
Để thực hiện đề tài này, nghiên cứu sinh sử dụng phƣơng pháp liên
ngành văn hoá học-xã hội học. Đó là quan sát, tham dự và chủ yếu là phỏng
vấn để tìm hiểu động cơ và ý nghĩa phía sau các hành động của chủ thể văn
hoá, cũng nhƣ sử dụng phƣơng pháp thống kê của xã hội học để xem xét các
số liệu nhƣ những dữ kiện gợi mở, hỗ trợ cho vấn đề đang nghiên cứu. Đồng
thời nghiên cứu sinh còn quan tâm phân tích-tổng hợp các tài liệu thứ cấp,
internet và thực địa, nhằm kế thừa những thành quả của các nghiên cứu có sẵn
và bổ sung những mặt khác của các nghiên cứu đó.
Nếu đối tƣợng quan sát là thực trạng ly hôn ở giáo xứ Chợ Mới, thì đối
tƣợng phỏng vấn sâu bao gồm trƣớc hết các bên ly hôn nhiều ngƣời hết sức có
thể, rồi đến ngƣời thân của họ là cha mẹ, anh chị em, họ hàng, và những
ngƣời có quan hệ là bạn bè, đồng nghiệp, hàng xóm, trƣởng hoặc phó giáo
khu. Trên thực tế không phải tất cả các đôi ly hôn đều đƣợc phỏng vấn đầy đủ

5



Tuy vậy, tôi không hề quên là trong vấn đề d gây tổn thƣơng nhƣ ly
hôn, những ngƣời trong cuộc và cả ngƣời thân của họ luôn đổ lỗi cho phía bên
kia. Vì thế, xác minh sự thật là việc cần thiết, bằng cách kiểm tra chéo qua
những ngƣời khác, một công việc không hề d dàng khi ngƣời cùng giáo xứ
thƣờng bênh vực nhau, nhất là khi một bên vợ hoặc chồng từ nơi khác kết hôn
với ngƣời trong xứ. Việc kiểm tra chéo đƣợc thực hiện thông qua các chức
việc giáo xứ, một vài tổ trƣởng của thôn xã và linh mục quản xứ, cũng nhƣ
qua đơn từ, xác minh của toà án, trong khả năng có thể đƣợc.
Về nguồn tƣ liệu, để có những thông tin đáng tin cậy nhất, tôi tìm số liệu
nơi linh mục quản xứ và các linh mục có thẩm quyền là chánh án và các thẩm
phán của Toà án hôn phối giáo phận Nha Trang với một số án quyết tiêu hôn
(có chọn lọc và đã đƣợc thay đổi họ tên, địa điểm), một số báo cáo tổng kết
hàng năm của giáo xứ gửi về Toà giám mục, hoặc của Toà giám mục gửi về
Toà thánh Roma. Bên cạnh đó, trên cƣơng vị giảng viên trƣờng Cao đẳng, tôi
còn xin đƣợc số liệu ly hôn chính thức, các thông tin mà toà án xử ly hôn, từ
những phụ huynh công tác ở Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang,
và ở Toà án thành phố Nha Trang.
Việc nghiên cứu với tƣ cách ngƣời trong đạo đem lại cho tôi thuận lợi lẫn
khó khăn. Thuận lợi là có sự cởi mở, d trao đổi khi ngƣời phỏng vấn và
ngƣời đƣợc phỏng vấn cùng tôn giáo, mặc nhiên cùng “phe”, cùng quan điểm.
Các chức sắc tôn giáo tuy dè dặt, thận trọng nhƣng tin tƣởng vào thiện ý của
tôi, đã góp ý để làm rõ một số vấn đề về giáo luật hôn nhân và ly hôn, và cả
thực ti n các vị đã giải quyết. Đó là những lợi thế mà ngƣời nghiên cứu ngoại
đạo khó có đƣợc, dẫu đầu tƣ nhiều thời gian, công sức thâm nhập thực địa đến
đâu. Một cơ may khác là trong thời gian tôi thực địa, linh mục quản xứ địa
bàn tôi nghiên cứu vốn từng học chung trƣờng trung học cơ sở và trung học

7



8


Trong những lần đƣợc phỏng vấn, ai cũng lãng tránh việc không hoà hợp
tình dục dẫn đến ly hôn, vì sợ bị đánh giá là ngƣời ham mê dâm dục. Ngƣời
hỏi cũng tránh đi sâu vào vấn đề tế nhị đó. Vì thế, vấn đề này còn bỏ ngỏ.
Ngoài ra, vì là ngƣời trong đạo, cái nhìn của ngƣời viết thiếu tính mới mẻ
của ngƣời ngoài đạo, tức là thiếu sự ngạc nhiên để dừng lại đặt câu hỏi, đặt
vấn đề. Góc nhìn vấn đề của ngƣời viết d mang tính chủ quan, có quan điểm
nhân sinh của tôn giáo đã thành nếp trong ngƣời tín hữu.
Tóm lại, có cả khó khăn và thuận lợi, nhƣng nhìn chung thuận lợi là
chính, vì sự chia sẻ của các chức sắc tôn giáo, của giáo dân và những ngƣời
trong cuộc vẫn nhiều, mối thiện cảm và sự tin tƣởng của họ dành cho ngƣời
nghiên cứu vẫn vƣợt trội. Hơn thế, vị trí đồng đạo nhƣng không ở trong cùng
giáo xứ của ngƣời viết đem lại cái nhìn bức tranh toàn cảnh mà ngƣời trong
giáo xứ hoặc ngƣời ngoài Công giáo khó thấy đƣợc.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần vào nhận thức tốt hơn về vấn
đề hôn nhân và ly hôn hiện nay ở Việt Nam, đặc biệt đối với cộng đồng Công
giáo ở Việt Nam. Luận án bổ sung, hoàn thiện bức tranh nghiên cứu về tình
hình ly hôn ở nƣớc ta, đóng góp tƣ liệu cho nghiên cứu về văn hoá Công giáo.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về mặt lý luận, luận án dùng những dữ liệu mới tại một địa phƣơng để
thảo luận với lý thuyết về ly hôn của tác giả ngƣời Anh là Mary Nicolette
Hart, và từ đó xem xét mức độ phù hợp của lý thuyết đó, hoặc bổ sung, kế
thừa các luận điểm.
Về mặt thực ti n, luận án góp thêm một nghiên cứu trƣờng hợp vào trong
các tranh luận về chủ đề đã và đang ngày càng đƣợc quan tâm trong các
ngành khoa học xã hội. Nó đồng thời cũng sẽ là cơ sở khoa học cho các nhà

các nghiên cứu về ly hôn còn ít [16, tr. 122], điều này có thể thấy qua một số
nghiên cứu về gia đình nhƣng không đề cập sâu đến ly hôn, nhƣ tác giả
Nguy n Thị Thọ trong cuốn Xây dựng đạo đức gia đình ở nước ta hiện nay,
các tác giả Nguy n Hữu Minh và Trần Thị Vân Anh trong cuốn Nghiên cứu
gia đình và giới thời kỳ đổi mới, và Lê Ngọc Văn trong cuốn Gia đình và biến
đổi gia đình ở Việt Nam. Hoặc tác giả Nguy n Thế Long trong cuốn Gia đình,
những giá trị truyền thống đã nêu 4 truyền thống chính là hiếu học với đạo lý
tôn sƣ trọng đạo, đạo đức, tâm linh và thẩm mỹ. Vì không đề cập đến những
giá trị hôn nhân nhƣ l nghĩa, chung thủy...nên tác giả chỉ nói đến một chút về
tình yêu nam nữ trong tiểu mục văn hóa và hôn nhân [78, tr. 406-412] mà
phần lớn nói về văn hóa hơn là về hôn nhân.
Tuy nhiên trong những năm gần đây đã có khá nhiều nghiên cứu hoặc
cận nghiên cứu bàn về ly hôn dƣới nhiều góc độ. Dựa vào các tài liệu khai
thác đƣợc, luận án tạm chia chúng thành hai nhóm theo hƣớng nghiên cứu sau
đây:
1.1.1.Những nghiên cứu về ly hôn nói chung
Trong cuốn Xã hội học gia đình, tác giả Mai Huy Bích đã dành 16 trang,
(từ trang 121-136) để đƣa ra các lý thuyết xã hội về ly hôn. Tác giả còn trình
bày việc ly hôn là một quá trình, tác động của ly hôn đến con cái về các mặt
tình cảm, kinh tế, nhân cách, di truyền…Đây là một nghiên cứu nghiêm túc,

11


cơ bản và có tính lý thuyết cao [16, tr. 121]. Luận án tiếp thu lý thuyết ba
nhân tố trong cuốn Xã hội học gia đình này để làm cơ sở lý luận cũng nhƣ để
đối chiếu với thực tế nghiên cứu.
Giáo trình Gia đình nhìn từ góc độ Xã hội học của Nguy n Thị Oanh
giảng dạy tại Khoa Phụ nữ, Đại học Mở-Bán công Thành phố Hồ Chí Minh,
đã dành chƣơng 7 [86, tr. 165] để đề cập đến các vấn đề của ly hôn nhƣ

Cuốn Model of Divorce in Contemporary Vietnam: A socio-economic
and structural analysis of divorce in the Red River Delta in 2000s (Mô hình ly
hôn ở Việt Nam đƣơng đại: Một phân tích kinh tế-xã hội và cấu trúc của ly
hôn ở đồng bằng sông Hồng trong những năm 2000) của Trần Thị Minh Thi
là một công trình công phu, nghiêm túc, mẫu mực cho các nghiên cứu về ly
hôn, đã đề cập đầy đủ chi tiết về ly hôn trong 8 chƣơng: quy mô và đặc điểm
của ly hôn, độ dài hôn nhân của những ngƣời ly hôn, ngƣời đứng đơn ly hôn
và các yếu tố tác động, các nguyên nhân ly hôn truyền thống và hiện đại và
các yếu tố tác động, phân chia tài sản và con cái sau ly hôn…Tuy nghiên cứu
chỉ khoanh vùng ở tỉnh Hà Nam và ở hai quận huyện đồng bằng sông Hồng,
nhƣng nó cũng đại diện đƣợc cho hầu hết các cuộc ly hôn ở nhiều địa phƣơng
khác về tính chất ly hôn. Nói hầu hết là vì vẫn còn khoảng trống cho các cuộc
ly hôn Công giáo, vốn vừa có nét chung với các cuộc ly hôn ngƣời Việt, lại có
nét riêng của ngƣời Việt theo tôn giáo, mà luận án khai thác.
Bài viết Ly hôn ở Đà Nẵng: Nguyên nhân và những vấn đề đặt ra đối
với hệ thống thiết chế xã hội của tác giả Trần Văn Thạch nêu ra 8 loại
nguyên nhân ly hôn và 2 thiết chế xã hội là luật pháp và dƣ luận [105, tr. 76].
Các số liệu và nguyên nhân ly hôn cũng nhƣ thiết chế xã hội tác giả đƣa
ra ở Đà Nẵng có công dụng nhƣ một tham khảo cho luận án, vì luận án

13


đƣợc thực hiện ở một địa phƣơng khác, và ở vùng quê ven thị chứ không
hẳn ở thành phố.
Ngày 6 tháng 5 năm 2015 tại Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội, nghiên
cứu sinh Phan Thị Luyện đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ cấp Học viện,
chuyên ngành Xã hội học với đề tài “Nguyên nhân ly hôn của phụ nữ qua
nghiên cứu hồ sơ Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, Hà Nội”. Trên cơ sở
nghiên cứu hồ sơ dân sự sơ thẩm về các vụ việc ly hôn tại Tòa án nhân dân

qua vấn đề nhƣ một bộ phận nhỏ trong tổng thể, chứ không phải là
nghiên cứu về ly hôn thực sự, chẳng hạn bài Cẩm nang về nghiên cứu
gia đình trên thế giới (Handbook of world families) do Bert N. Adam và
Jan Trost chủ biên, đƣợc Trần Thị Cẩm Nhung giới thiệu [15, tr. 78] bao
gồm 30 quốc gia trên các châu lục bao gồm nhiều vấn đề nhƣ giới, dòng
họ, hình thành gia đình, bạo lực, già.... Hoặc bài Hôn nhân trong quá
trình đô thị hoá ở thành phố Đà nẵng của Trƣơng Diệu Hải An có nêu số
liệu ly hôn, lý do, trình độ học vấn, ngƣời đứng đơn xin ly hôn, số năm
sống trung bình trƣớc ly hôn...[1, tr. 15]; bài Nghiên cứu gia đình trong
bối cảnh mới của Lê Ngọc Văn nêu tình trạng và nguyên nhân ly hôn
trong nhiều vấn đề khác liên quan đến gia đình [135, tr. 3] Và còn nhiều
bài viết khác nói về ly hôn, tựu trung giống nhau về bản chất (tình hình
ly hôn, nguyên nhân ly hôn...) chỉ khác số liệu tuỳ từng thời kỳ và địa
phƣơng.
Nghiên cứu ly hôn ở nƣớc ngoài, có bài Một số vấn đề gia đình ở Nhật
Bản của Hoàng Hoa đã nêu nguyên nhân xa của ly hôn ở Nhật Bản là do
quá trình hiện đại hoá, pháp luật hợp pháp hoá thủ tục ly hôn, còn lý do
gần là do vợ chồng không phù hợp trong tính cách, hai ngƣời không còn
tình yêu và một phần khá lớn là lý do kinh tế [44, tr. 63]. Luận án sử

15


dụng một số nội dung bài viết này nhƣ tài liệu tham khảo về nguyên
nhân ly hôn ở một đất nƣớc đã phát triển cao để so sánh với nguyên nhân
ly hôn ở địa bàn nghiên cứu.
Bài viết Ly hôn ở Mỹ và những hậu quả của nó do Nguy n Thanh
lƣợc thuật, nêu ra những nhân tố gây thay đổi thể chế gia đình dẫn tới ly
hôn nhƣ chức năng gia đình thay đổi, phụ nữ đi làm độc lập kinh tế,
hạnh phúc cá nhân, thay đổi nhịp điệu và phong cách sống, ảnh hƣởng

và sự giáo dục của Nhà nƣớc về mọi mặt trong đó có bình đẳng giới, nữ
quyền...[155, tr.168]. Đây cũng là điểm cho luận án lƣu tâm khi điều tra
các trƣờng hợp ly hôn. Tác giả không bàn đến các cuộc ly hôn Công
giáo, hoặc ảnh hƣởng của tôn giáo đến đời sống gia đình. Luận án khai
thác khoảng trống này.
1.1.2. Những nghiên cứu về ly hôn Công giáo
Cuốn Văn hóa gia đình Việt Nam của tác giả Vũ Ngọc Khánh đề cập
đến văn hóa gia đình ngƣời Việt theo Thiên Chúa giáo nhƣ thờ cúng tổ tiên,
giáo dục con cái, nhƣng không bàn đến ly hôn. Trong chƣơng IV có tựa đề
“Vấn đề hiện nay”, tác giả đƣa ra những số liệu phong phú về nguyên nhân ly
hôn, cách thức luật pháp, luật tục xử ly hôn, dƣ luận xã hội ... của một số
vùng miền nƣớc ngoài nhƣ Thái Lan, Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông, Hoa
Kỳ...Luận án ghi nhận thông tin của tác giả rằng ở Philippines, đất nƣớc đa số
dân chúng là tín đồ Công giáo, từ năm 1988 trở đi - tức là sau khi Giáo hội
toàn cầu ban hành bộ Giáo luật mới 1983-, trong luật dân sự của quốc gia xuất
hiện điều khoản quy định ly hôn đƣợc chấp nhận khi cuộc hôn nhân không
còn khả năng tâm lý. Đó là những rối loạn tâm lý bắt nguồn từ đồng tính
luyến ái, nghiện rƣợu, chƣa trƣởng thành, thiếu trách nhiệm. Điều này cho
thấy sự đổi mới luật dân sự phù hợp với Giáo luật mới về hôn nhân: có nhiều

17


lý do để cuộc hôn nhân bất thành trong Giáo hội, từ đó có thể ly hôn trƣớc toà
án dân sự. Trƣớc năm 1988, nguyên do ly hôn ở Philippines giới hạn ở loạn
dâm, lừa bịp, đa thê, chƣa đủ tuổi [67, tr. 278]. Nhìn chung, sách nêu những
sự kiện chứ không đặt vấn đề tìm hiểu ly hôn.
Bài nghiên cứu “Vấn đề ly hôn - nhìn từ sự tác động của yếu tố văn hóa
truyền thống (Tham chiếu từ số liệu ở Tòa án Nhân dân Thành phố Huế)” của
Hoàng Thị Ái Hoa trong cuốn Thay đổi của văn hóa truyền thống ở Thừa

Công giáo [66, tr. 27].
Nhận định này đúng đắn dƣới góc độ luật pháp, và vào thời điểm 1983.
Còn luận án nhìn ly hôn dƣới góc độ văn hoá, xã hội và vào thời kỳ sau này
(1990-2014), tức là khai thác những yếu tố mới về giáo luật, biến chuyển xã
hội sau khi Đổi mới (1986). Luận án tiếp nối chứ không đối nghịch với
nghiên cứu trên.
Luận văn Thạc sĩ Hôn nhân khác tôn giáo: đặc điểm và tính bền vững
của Chu Văn Tiến, Khoa Xã hội học Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, nghiên cứu trƣờng hợp hôn nhân giữa
ngƣời Công giáo và ngƣời không theo Công giáo tại Giáo xứ Nghĩa Ải - Hợp
Thanh - Mỹ Đức - Hà Nội. Đề tài chỉ ra sự tác động của đạo Thiên Chúa giáo
tới tính bền vững trong hôn nhân khác tôn giáo. Nghiên cứu của Chu Văn
Tiến có điểm rất gần với đề tài ly hôn của luận án là xem xét tính bền vững
trong hôn nhân giữa ngƣời Công giáo và ngƣời không Công giáo, nhƣng luận
án xem xét thực trạng ly hôn, tức là hiện trạng của hôn nhân không bền vững,
trong đó có hôn nhân giữa ngƣời Công giáo với ngƣời lƣơng. Cho nên nội
dung luận án khác biệt với nội dung nghiên cứu của Chu Văn Tiến [119].

19


Luận án “Giá trị của hôn nhân và gia đình Công giáo ở Việt Nam hiện
nay” của Đỗ Thị Ngọc Anh thuộc Khoa Triết học Trƣờng Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, đã nêu lên đƣợc những đặc
tính chủ yếu của hôn nhân Công giáo nói chung: đó là một bí tích, có tính đơn
hôn và vĩnh vi n, tạo ra một Hội Thánh tại gia. Từ đó mới có những quan hệ
vợ chồng, cha mẹ con cái, anh chị em trong một gia đình. Tác giả cũng đã nói
đƣợc sự tƣơng đồng và khác biệt giữa gia đình Công giáo và gia đình không
Công giáo cũng nhƣ nêu lên các vấn đề của gia đình Công giáo hiện nay nhƣ
cuộc sống tại những nơi xa lạ mới (khu công nghiệp, khu chế xuất), kế hoạch

tố tích cực, đóng góp cho xã hội một số nét văn hóa đáng quý, trong đó
có lĩnh vực tình yêu và hôn nhân. Tình yêu và hôn nhân đích thực là nền
tảng gia đình, gia đình là nền tảng xã hội” [127, tr.91]. Hoặc trong cuốn
Nghiên cứu tôn giáo nhân vật và sự kiện, Đỗ Quang Hƣng nhận xét:
“nhiều vấn đề cá nhân và gia đình ngƣời Công giáo Việt Nam còn khá
lạc hậu. Ở Việt Nam, họ chƣa đƣợc công khai bàn đến quyền ly dị và tái
kết hôn” [60, tr. 196]. Trong bài viết Nghi lễ, chuẩn mực và tính linh
hoạt trong đời sống của người Công giáo ở Việt Nam hiện nay, tác giả
Nguy n Thị Thanh Mai nhận định rằng nhờ giáo lý, giáo luật cũng nhƣ
tính linh hoạt của giáo luật mà các gia đình Công giáo bền vững, không
bị tan rã trong giai đoạn xã hội và gia đình Việt đang chịu nhiều biến đổi
nhƣ hiện nay [82, tr 47]. Còn bài Nếp sống người Công giáo: sự giao
thoa giữa đức tin và văn hoá dân tộc của Phạm Huy Thông có nêu tình
hình ổn định của gia đình Công giáo, cụ thể ở xã Hải Vân, Hải Hậu, Nam
Định có 6.000 dân từ năm 1980 đến 2000 chỉ có hai đôi bỏ nhau. Xứ Sở
Hạ (Hà Nội) có 1.500 giáo dân, mà từ năm 1945 đến nay chỉ có một đôi

21


ly thân. Lý do là đức tin tôn giáo chi phối nhân cách của ngƣời Công
giáo, ảnh hƣởng đến nếp sống gia đình họ [117, tr. 31].
Tất cả các bài nghiên cứu, bài viết kể trên đều đề cập đến mặt bền vững
của hôn nhân ngƣời Công giáo, trong khi luận án lại khai thác mặt tan vỡ của
hôn nhân ngƣời Công giáo. Cho nên có sự hỗ trợ, bổ sung cho nhau nhƣng
không có sự trùng lặp.
Giới Công giáo quốc tế và trong nƣớc không thiếu những nghiên cứu về
ly hôn. Tuy nhiên trƣớc Công đồng Vatican II (1962-1965), Giáo hội nghiêm
cấm mọi tín hữu ly hôn, cho nên Công giáo không có nhu cầu nghiên cứu về
ly hôn. Bộ Giáo luật 1917 có điều luật 2356 kết án vạ tuyệt thông cho ngƣời

không hôn nhân, ngƣời Công giáo chỉ kết hôn dân sự, hoặc ly hôn rồi tái hôn.
Hội Thánh xem đây là những hoàn cảnh khó khăn đặc biệt, cũng nhƣ hoàn
cảnh ly thân, ly hôn không tái hôn, không gia đình. Tông huấn đƣa ra những
hƣớng giải quyết cho từng loại trƣờng hợp, cũng nhƣ đặt ra thái độ chung là
khoan dung. Đây là văn bản chính thức đầu tiên phân biệt quan điểm giáo lý,
tín lý về hôn nhân-ly hôn với mục vụ cho những ngƣời ly hôn, hƣớng dẫn các
gia đình Công giáo cũng nhƣ các ngƣời có trách nhiệm mục vụ.
Bộ Giáo luật mới 1983 đã điều chỉnh lại một số luật về hôn nhân, đơn cử
Bộ Giáo luật cũ năm 1917 liệt kê 5 loại ngăn trở cấm chỉ và 13 ngăn trở tiêu
hôn. Còn Bộ Giáo luật 1983 bãi bỏ danh từ ngăn trở cấm chỉ và chỉ còn liệt kê
12 loại ngăn trở tiêu hôn mà thôi. Nhƣ thế, xét về góc độ các ngăn trở, Bộ
Giáo luật mới đơn giản hơn Bộ luật cũ. Năng quyền (xem Phụ lục 1 nghĩa của
từ này) mi n chuẩn trong Bộ luật mới cũng đƣợc mở rộng hơn cho các Đấng
Bản quyền địa phƣơng, tức là các giám mục đƣợc nhiều quyền tha, mi n,
chuẩn chƣớc trong nhiều vấn đề hơn. Giáo luật không còn nói đến vạ tuyệt

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status