Ly hôn trong các gia đình người việt theo công giáo (qua nghiên cứu giáo xứ chợ mới, nha trang, khánh hòa) - Pdf 41

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

CAO KỲ HƢƠNG

LY HÔN TRONG CÁC GIA ĐÌNH
NGƢỜI VIỆT THEO CÔNG GIÁO
(QUA NGHIÊN CỨU GIÁO XỨ CHỢ MỚI
NHA TRANG, KHÁNH HOÀ)

CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA DÂN GIAN
MÃ SỐ

: 62 22 01 30

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. LÊ HỒNG LÝ

HÀ NỘI - 2017


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình sưu tầm
và nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, hình ảnh
và kết quả nêu trong luận án là trung thực. Những
đóng góp khoa học mới được đề cập trong luận án
chưa từng được ai công bố trong bất kỳ một công

3.3. Hậu quả việc ly hôn của người Công giáo.......................................................104
Tiểu kết chương 3...................................................................................................110
Chương 4 MỘT VÀI VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ BÀN LUẬN TỪ CÁC TRƯỜNG
HỢP LY HÔN CỦA GIÁO DÂN CHỢ MỚI................................................111
4.1. Những nhân tố tác động đến ly hôn của người Công giáo...............................111
4.2. Tương đồng và khác biệt giữa các trường hợp ly hôn
của người Công giáo và người không Công giáo...........................................136
4.3. Hiện tượng thế tục hoá các giá trị tôn giáo......................................................143
Tiểu kết chương 4...................................................................................................149
KẾT LUẬN.............................................................................................................151
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN ÁN ĐÃ CÔNG BỐ.............................................................................154
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................155
PHỤ LỤC................................................................................................................177


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT


gia đình

GH

Giáo hội

Gl

Giáo luật

GLHTCG


VNCH

Việt Nam Cộng Hòa

VNDCCH

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 2.1. Số liệu thống kê gia đình của giáo xứ Chợ Mới trong 5 năm.........59
Bảng 2.2. Tổng hợp phỏng vấn về quan niệm hôn nhân của 16 đối tượng
nam nữ ở giáo xứ Chợ Mới..........................................................63
Bảng 2.3. Tổng hợp phỏng vấn về quan niệm gia đình của 16 đối tượng
nam nữ ở giáo xứ Chợ Mới.........................................................68
Bảng 3.1. Thống kê hôn nhân và gia đình giáo xứ Chợ Mới trong 5 năm......78
Bảng 3.2. Thống kê tổng hợp các tiêu chí cá nhân người ly hôn
theo khía cạnh xã hội...................................................................83
Bảng 3.3. Thống kê tổng hợp lý do ly hôn, khía cạnh xã hội..........................87
Bảng 3.4. Thống kê tổng hợp tiêu chí cá nhân người ly hôn,
khía cạnh tôn giáo.........................................................................91
Bảng 3.5. Thống kê tổng hợp số liệu liên quan đến con cái các đôi ly hôn....96
Bảng 3.6. Thống kê tổng hợp tiêu chí gia đình người ly hôn,
khía cạnh xã hội ...........................................................................98
Bảng 3.7. Thống kê tổng hợp tiêu chí về gia đình các đôi ly hôn,
khía cạnh tôn giáo ......................................................................100
Bảng 4.1. Các tương đồng và khác biệt giữa các trường hợp ly hôn của
người Công giáo và người không Công giáo............................142


đến cho xã hội nhiều bất ổn về các mặt an ninh, an sinh, kinh tế, tâm lý, giáo
dục...đặc biệt là những tổn thƣơng tình cảm, kinh tế cho trẻ em. Mặc dù luật
pháp không cấm ly hôn, song việc cha mẹ ly hôn đã ảnh hƣởng lớn đến con
cái. Ở cộng đồng giáo dân, khi ngƣời Công giáo đem nhau ra toà ly hôn, họ sẽ
còn phải chịu thêm trách nhiệm do giáo lý và giáo luật quy định.
Vì thế, việc nghiên cứu ly hôn trong các gia đình Công giáo là hết sức
cần thiết, bởi vì tuy đã có một số công trình nghiên cứu ly hôn về các khía
cạnh qui mô và đặc điểm của ly hôn, độ dài của hôn nhân, ngƣời đứng đơn ly
hôn, các nguyên nhân ly hôn, luật pháp và chính sách về hôn nhân và ly hôn,
các hậu quả của ly hôn…dƣới các góc độ tâm lý, pháp luật, thống kê, xã hội,
kinh tế, giới…nhƣng vẫn còn khoảng trống về nghiên cứu ly hôn trong các
cộng đồng tôn giáo, đặc biệt là hiện tƣợng ly hôn trong Công giáo ở khu vực
Nam Trung Bộ. Trong bối cảnh đó, đề tài Ly hôn trong các gia đình ngƣời
Việt theo Công giáo có tính cần thiết, góp phần làm hoàn chỉnh tổng thể các
nghiên cứu khoa học về thực trạng ly hôn ở nƣớc ta.
Các nghiên cứu về ly hôn càng có tầm quan trọng và có ý nghĩa sâu rộng
hơn khi chúng đƣợc đặt trong một khung cảnh xã hội Việt Nam, văn hoá Việt
Nam đang chịu tác động mạnh mẽ của sự chuyển đổi từ cơ chế của nền kinh
tế tiểu nông, bao cấp sang cơ chế thị trƣờng nhiều thành phần, và đang tăng
tốc trên con đƣờng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nghiên cứu ly hôn của
ngƣời Việt Công giáo trong giai đoạn này, bối cảnh này giúp thấu hiểu thêm
tác động đó, hoàn thiện bức tranh văn hoá xã hội của thời đại.
Mặt khác, bởi vì chúng ta đang sống trong thế giới phẳng, mọi hành vi
của ngƣời này tƣơng tác đến ngƣời khác, đến cả cộng đồng, và ngƣợc lại, cho
nên nghiên cứu trƣờng hợp ly hôn trong một cộng đồng ngƣời Việt theo tôn
giáo để tìm thấy ảnh hƣởng của xã hội, của văn hóa, tác động đến cả tôn giáo

2



3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là thực trạng ly hôn của ngƣời Công
giáo. Đối tƣợng khảo sát là các trƣờng hợp ly hôn ở địa bàn nghiên cứu. Có
những trƣờng hợp ly hôn, sau đó một hoặc cả hai bên tái hôn với ngƣời mới.
Những trƣờng hợp này trong đạo gọi là “rối không thể gỡ đƣợc”. Cụm từ này
đƣợc hiểu cách tƣơng đối, vì nếu ngƣời vợ hoặc chồng tái hôn với ngƣời
chồng mới, vợ mới, nhƣng lại ly hôn với ngƣời mới đó và sống độc thân trở
lại, thì tự bản thân ngƣời ấy đã gỡ rối đƣợc. Tuy nhiên, bình thƣờng thì hiếm
khi xảy ra trƣờng hợp này, nên mới có cụm từ “rối không thể gỡ” với hàm ý
ngƣời ngoài cuộc không thể gỡ đƣợc.
Trong luận án, chúng tôi không đề cập đến các trƣờng hợp:
- hôn nhân đồng giới,
- các trƣờng hợp ly thân tạm thời hay vĩnh vi n,
- các trƣờng hợp sống chung, sống thử mà không kết hôn theo luật Hôn
nhân và gia đình, hoặc theo luật lệ Công giáo,
- các trƣờng hợp kết hôn giả,
Thời gian khảo sát gồm các trƣờng hợp ly hôn từ 1990 đến 2014. Bởi vì
sau khi Nhà nƣớc chủ trƣơng Đổi mới năm 1986, xã hội chuyển biến mạnh
mẽ, nhất là các mặt văn hoá và kinh tế, đồng thời trong Công giáo Roma, việc
đổi mới bộ luật cũ 1917 sang bộ Giáo luật (Gl) mới 1983, đem lại những cách
nhìn ly hôn khác trƣớc.
Phạm vi khảo sát đƣợc thu hẹp ở giáo xứ Chợ Mới thuộc xã Vĩnh Ngọc,
thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Việc chúng tôi chọn lựa địa phƣơng
này là vì các lý do sau:
Thứ nhất, đây là địa phƣơng nghiên cứu sinh đã đi thực địa từ những
năm 2000 nên khá quen với nhiều cƣ dân ở đây.

4


hai bên và thân thuộc hai bên, do có một số ngƣời đã chuyển địa bàn sinh
sống đến chỗ khác, nên việc tìm gặp họ đối với chúng tôi là rất khó khăn…
Ngoài những đối tƣợng cần phỏng vấn sâu vừa kể trên, tôi còn phỏng vấn
ngẫu nhiên khoảng 30 đối tƣợng gồm những ngƣời quen, những ngƣời có mối
liên hệ với tôi nhƣ bạn bè, phụ huynh học sinh, trong những lần trò chuyện
bên bàn cà phê, hoặc thăm nhà họ, để nghe ý kiến của họ về hôn nhân và ly
hôn hiện nay. Họ khác nhau về độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề
nghiệp, địa phƣơng, tôn giáo, tình trạng gia đình còn độc thân hoặc đã kết
hôn, nên ý kiến họ khá phong phú, đa dạng.
Để đối tƣợng đƣợc phỏng vấn cảm thấy thoải mái, tôi dành cho họ chủ
động về thời gian lẫn địa điểm phỏng vấn. Thông thƣờng thì vào các sáng
Chủ nhật, là thời gian họ nghỉ ngơi, và bên bàn cà phê góc quán ít ngƣời. Thời
gian và không gian này tạo bầu không khí thuận lợi nhất để nói “chuyện đời”
thay cho từ phỏng vấn khiến ngƣời nghe e ngại.
Cách phỏng vấn gồm phỏng vấn mở (để ngƣời đƣợc phỏng vấn thoải mái
bộc lộ suy nghĩ) và phỏng vấn hồi cố. Các câu hỏi đƣợc lồng vào câu chuyện
nhƣ gợi ý, thông cảm, hơn là điều tra. Tôi tự ghi chép vào khung điều tra thay
vì để ngƣời đƣợc phỏng vấn đọc bảng câu hỏi và trả lời vì nhƣ vậy họ sẽ đỡ
dè dặt hơn và tránh đƣợc trƣờng hợp đôi khi họ không trả lời, hoặc trả lời
không đúng sự thật. Việc phỏng vấn không thể đƣờng đột, mà phải tiến hành
cách chậm rãi theo kiểu vết dầu loang, từ vấn đề này sang vấn đề khác, từ
ngƣời này giới thiệu sang ngƣời khác.
Theo nguyên tắc đạo đức khoa học cũng nhƣ để ngƣời đƣợc phỏng vấn
yên tâm, tôi phải cam kết giữ bí mật nhân thân của họ bằng cách ẩn các thông
tin nhạy cảm khiến họ có thể bị nhận diện khi công bố kết quả nghiên cứu. Vì
thế, tất cả nhân vật nêu trong luận án này đều đã đƣợc thay đổi tên họ.

6



phổ thông với tôi nhƣng lớp dƣới, đồng thời là em ruột của một ngƣời bạn
cùng lớp với tôi, cho nên việc xin tài liệu, hoặc tham khảo tình hình lại thêm
phần d dàng hơn những ngƣời đồng đạo khác. Nhờ uy tín của linh mục quản
xứ, việc tiếp xúc với ngƣời ly hôn cũng thuận lợi hơn.
Còn khó khăn cũng không ít, trƣớc hết vì vấn đề nghiên cứu vô cùng tế
nhị với ngƣời Công giáo, lại thuộc lĩnh vực cấm kỵ (tabou). Ngƣời ta tránh né
bàn đến ngƣời ly hôn vì cho rằng việc bàn luận đó đụng chạm đến ngƣời
khác, nói xấu ngƣời khác. Trƣớc đây, khi tôi nghiên cứu đề tài Hiếu kính tổ
tiên của người Việt theo Công giáo tại giáo xứ Chợ Mới, ngƣời dân sẵn lòng
cho chụp ảnh, ghi âm. Nhƣng với đề tài ly hôn đƣợc thực hiện tại cùng địa
phƣơng, giáo dân lại dè chừng, không nhiệt tình hợp tác, tuy họ biết tôi là
ngƣời đồng đạo, không có ý định bêu xấu địa phƣơng. Có lẽ họ vẫn còn tâm
lý cho rằng ly hôn tái hôn không phải là chuyện đáng đƣợc nêu lên, dù là
đƣợc ẩn danh. Vì thế, việc ghi hình, ghi âm hầu nhƣ không thể đƣợc với hầu
hết các cuộc phỏng vấn, vì ngƣời đƣợc phỏng vấn không đồng ý. Một khó
khăn khác là việc phỏng vấn khơi gợi lại nỗi đau buồn, bực tức hoặc nhục nhã
của ngƣời bị “chồng bỏ”, “vợ bỏ”, trong khi tình hình gia đình của họ vào lúc
này đã tạm lắng, tình trạng đã ổn định. Cho nên việc nhập vai ngƣời giúp họ
giải quyết gỡ rối -và đã thành công với một trƣờng hợp - khiến họ d dàng
thổ lộ chuyện cũ hơn. Thêm vào số các khó khăn đó, là những lần tôi gặp phải
các đối tƣợng phỏng vấn từ chối trả lời. Tôi chỉ còn cách kiểm tra họ gián tiếp
thông qua bè bạn, hàng xóm và ngƣời thân của họ, dĩ nhiên sau đó tôi trừ đi
phần trăm mức độ khả tín.
 Đó là trƣờng hợp vợ anh Phạm Văn Thái (chi tiết ly hôn sẽ đƣợc trình bày trong chƣơng 3) sau khi ly hôn,
đã sinh bé trai và bán ngay cho ngƣời khác. Gia đình anh Thái hay tin đã tìm gặp ngƣời mua, chuộc lại đƣợc
cháu bé. Nhờ nghiên cứu, tôi biết trƣờng hợp này có thể tiêu hôn nên đã hƣớng dẫn anh gặp linh mục thẩm
phán Toà án hôn phối Giáo phận, làm đơn xin tiêu hôn. Tin vui là anh đã đƣợc xử hôn nhân vô hiệu vào ngày
9-6-2015 căn cứ trên giáo luật số 1101§2: Ngƣời vợ khi kết hôn đã loại bỏ một phần chính yếu của hôn nhân.
Từ nay, anh Thái có thể kết hôn với ngƣời mới cách hợp pháp.


9


quản lý văn hoá và xã hội ở địa phƣơng tham khảo để xây dựng và hoạch định
các chính sách quản lý và phát triển. Luận án còn là cứ liệu khoa học giúp các
nhà nghiên cứu xã hội hiểu thêm về một bộ phận ngƣời Việt theo tôn giáo
trong vấn đề ly hôn, đóng góp phần nhỏ vào tổng thể văn hóa xã hội Việt Nam
hiện nay. Kết quả của luận án góp phần làm phong phú thêm những nghiên
cứu về gia đình và cũng là một nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu
sinh, học viên cao học khi nghiên cứu về hôn nhân và gia đình.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài lời cam đoan, mục lục, bảng chữ viết tắt, mở đầu, kết luận, tài liệu
tham khảo và phụ lục, luận án kết cấu gồm 4 chƣơng, 12 tiết và tiểu kết mỗi
chƣơng với nội dung nhƣ sau:
Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và một số vấn đề lý luận
Chƣơng 2. Bối cảnh địa bàn nghiên cứu và quan niệm về hôn nhân và gia
đình của giáo dân Chợ Mới.
Chƣơng 3. Thực trạng ly hôn ở giáo xứ Chợ Mới.
Chƣơng 4. Một số vấn đề đặt ra và bàn luận từ các trƣờng hợp ly hôn của
giáo dân Chợ Mới.

10


Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1.Tình hình nghiên cứu
Vào thập niên 1990-2000, tác giả Mai Huy Bích nhận định là ở Việt Nam
các nghiên cứu về ly hôn còn ít [16, tr. 122], điều này có thể thấy qua một số

của tái hôn...thông qua các bài báo, các thống kê tòa án vào thời điểm 1995.
Vì là giáo trình nên tác giả chỉ điểm sơ các mục chính nhƣ những gợi ý mà
không đi chuyên sâu vào vấn đề nào. Luận án sử dụng các gợi mở đó nhƣ
những đối chứng với thực tế nghiên cứu.
Trong cuốn Sự tương đồng và khác biệt trong quan niệm về Hôn nhân
gia đình giữa các thế hệ người Việt Nam hiện nay, tác giả Lê Thi đã dành 6
trang (từ trang 263-268) để nêu lên những lý do ly hôn của những ngƣời đƣợc
phỏng vấn nhƣ ngoại tình, bạo lực gia đình, không quan tâm đến nhau, chênh
lệch (tuổi, địa vị xã hội, trình độ…). Tác giả nhận xét rằng có những yếu tố
văn hóa xã hội tác động làm gia tăng tỉ lệ ly hôn, chẳng hạn thế hệ trẻ kết hôn
không hẳn vì tiền tài, địa vị, sinh con, mà để hạnh phúc lứa đôi về các mặt
tâm sinh lý, cho nên khi hết thỏa mãn về nhau, họ d ly hôn [110, tr. 273]. Ly
hôn đƣợc đề cập nhƣ một phần nhỏ trong toàn bộ, cho nên cần một nghiên
cứu chuyên sâu mới đề cập vấn đề rộng hơn.
Cuốn Xã hội học do Nguy n Mậu Dựng chủ biên, là tài liệu lƣu hành nội
bộ cho Đại học Đà Nẵng, trong phần Xã hội học gia đình [28, tr. 155], có
trình bày quan điểm của tác giả: “ly hôn là hiện tƣợng xã hội bất bình thƣờng
nhƣng nhiều khi là cần thiết để đảm bảo quyền tự do trong hôn nhân và nó
nhƣ một biện pháp nhằm củng cố chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ. Song

12


nó cũng đem đến sự bất hạnh cho các thành viên trong gia đình, đặc biệt là
con cái”. Tác giả cũng nêu một số nguyên nhân ly hôn nhƣ không tìm hiểu
nhau kỹ, mâu thuẫn sống chung, khó khăn kinh tế…[28, tr. 166]. Vì là một
phần trong giáo trình Xã hội học, ly hôn đƣợc đề cập sơ lƣợc dƣới góc nhìn
xã hội hơn là văn hoá, cho nên nghiên cứu ly hôn dƣới góc độ tôn giáo vẫn
còn bỏ trống.
Cuốn Model of Divorce in Contemporary Vietnam: A socio-economic

trong xã hội hiện đại, xu hƣớng ly hôn có chiều hƣớng gia tăng, trong đó, phụ
nữ là nguyên đơn ly hôn chiếm tỷ lệ cao. Luận án đi sâu phân tích các nguyên
nhân dẫn đến những mâu thuẫn, xung đột trong cuộc sống hôn nhân thúc đẩy
ngƣời phụ nữ quyết định ly hôn, và các yếu tố tác động đến vấn đề ly hôn của
phụ nữ. Từ nghiên cứu thực ti n, luận án đã chỉ ra những nguyên nhân cơ bản
dẫn đến ly hôn bao gồm: Tính tình không phù hợp là nguyên nhân chủ yếu
(chiếm tỷ lệ 51,5%); Ngoại tình (chiếm 12,2%) và các nguyên nhân khác nhƣ:
Ghen tuông, Bạo lực gia đình, Phạm tội và mắc các tệ nạn xã hội; Nguyên
nhân kinh tế… Luận án không đề cập đến ly hôn trong các cộng đồng Công
giáo, nhƣng các thông số của luận án này có thể dùng để tham khảo, đối chiếu
với các trƣờng hợp ở địa bàn tôn giáo nghiên cứu.
Bài nghiên cứu Tình hình ly hôn hiện nay và nguyên nhân của nó
của Lê Phƣợng không thấy đề cập tình hình ly hôn mà chỉ đƣa ra hai loại
nguyên nhân ly hôn: nguyên nhân gián tiếp có nguồn gốc trƣớc ly hôn
bao gồm quan niệm tình yêu, thời gian tìm hiểu, động cơ kết hôn và sự
chuẩn bị kiến thức cần thiết về cuộc sống vợ chồng; nguyên nhân trực
tiếp đƣợc hình thành sau thời gian kết hôn nhƣ quan niệm sai lầm về tình
yêu và hôn nhân, thiếu bình đẳng giữa vợ chồng, mâu thuẫn giữa các thế

14


hệ, ngoại tình, quan niệm d dãi về ly hôn. Tác giả cũng lƣu ý mối quan
hệ qua lại giữa hai loại nguyên nhân này. Đây là một cách phân loại mới
lạ, đem lại kiến thức mới về nguyên nhân ly hôn [95, tr. 39]. Giới hạn
của bài viết tạp chí không cho phép tác giả triển khai sâu rộng hơn các ý
tƣởng đó, cho nên luận án này nhƣ một nghiên cứu dài hơi hơn để tiếp
tục vấn đề tác giả đã nêu.
Còn một số bài viết khác tuy có đề cập đến ly hôn, nhƣng chỉ đi lƣớt
qua vấn đề nhƣ một bộ phận nhỏ trong tổng thể, chứ không phải là

trình độ học vấn, nghề nghiệp thu nhập ổn định. Bài viết còn nêu hậu
quả ly hôn với bản thân, con cái, xã hội [106, tr. 104]. Cũng nhƣ ở trên,
bài viết có giá trị tham khảo vì chƣa bàn đến ly hôn ở cộng đồng tôn
giáo.
Bài viết The family, its members and society (Gia đình, các thành
viên của gia đình và xã hội), trong sách Hungarian sociology today, của
Laszlo Cseh-Szombathy do Chu Tiến Ánh lƣợc thuật, cho thấy ly hôn ở
Hunggari khá cao: cứ 100 đôi kết hôn thì có 30-40 đôi ly hôn. Đó là hậu
quả từ việc không thoả mãn mong đợi của một bên hoặc hai bên trong
quan hệ vợ chồng. Trƣớc kia kết hôn hầu hết do kinh tế cho nên không
có xung đột về tình cảm, ngày nay không bị ràng buộc về kinh tế lại
không biết xử lý các xung đột một cách thoả đáng thì gia đình rất d tan
vỡ vì nói chung, cuộc sống lứa đôi bao giờ cũng có những điều không
vừa ý cho mỗi bên [6, tr. 56]. Bài viết này cho ta biết thêm lý do ly hôn
tại một quốc gia Trung Âu theo Thiên Chúa giáo (gồm Chính thống giáo,
Công giáo, Tin Lành) nhƣng lại không nêu lý do ly hôn nào về tôn giáo.
Cho nên luận án còn có thể khai thác khía cạnh mà tác giả chƣa đề cập
đến.

16


Cuốn The Future of marriage của Bernard Jessie là cuốn sách đƣợc
một số nhà nghiên cứu nhƣ Lê Ngọc Văn, Mai Huy Bích, linh mục Lê
Ngọc Dũng sử dụng, trích dẫn. Sách đƣa ra rất nhiều chủ đề bàn luận
nhƣ mẫu hôn nhân châu Âu, mẫu hôn nhân Hoa Kỳ, bạn đời và tình dục,
quyền lực và tình dục, tƣơng lai của hôn nhân theo ý kiến của từng phái
nam, nữ...trong đó có chủ đề ly thân và ly hôn. Tác giả cho rằng nghề
nghiệp cũng nhƣ trình độ học vấn liên quan với ly hôn vì mức thu nhập,
và sự giáo dục của Nhà nƣớc về mọi mặt trong đó có bình đẳng giới, nữ

Nguy n Hữu Thông và Suenari Michio chủ biên, bàn về ly hôn ở Huế. Huế là
thành trì của truyền thống, tuy chịu tác động từ truyền thống nhƣng vẫn đang
gia tăng ly hôn vì nhiều lý do: gia tăng gia đình hạt nhân, thay đổi quan niệm
về giới truyền thống, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng, bạo hành...
Trong bài nghiên cứu, tác giả dành 8 dòng đề cập đến khó khăn của các phụ
nữ Huế theo Công giáo khi Giáo luật cấm ly hôn:
Vì vậy, mặc dù nhiều ngƣời sống trong tình trạng đau khổ cũng
chƣa mạnh dạn bày tỏ ý chí thoát ly cuộc sống “cơm không lành,
canh chẳng ngọt”. Số liệu các án ly hôn của tòa tuy không thống kê
thành phần tôn giáo, nhƣng ý kiến của các công chức Tòa án cũng
cho thấy rất rõ điều đó [45, tr. 61].
Bài nghiên cứu đề cập đến việc phụ nữ Công giáo chịu đựng cuộc sống
gia đình bất hạnh chứ không ly hôn, tức là cố giữ gia đình ổn định, trong khi
luận án nghiên cứu các gia đình đã ly hôn, nên không trùng lặp nội dung.
Cùng chung nhận định với Hoàng Thị Ái Hoa, trong bài Tình hình ly hôn
trong xã hội ta ngày nay, Nguy n Thị Ngọc Khanh, phó chánh án Toà án
nhân dân tối cao, cho biết:

18


Đối với đồng bào các vùng Thiên chúa giáo còn ảnh hƣởng khá
nặng nề của Giáo hội, cấm việc ly hôn, nên mặc dầu nhiều ngƣời
sống trong tình trạng đau khổ cũng chƣa mạnh dạn bày tỏ ý chí của
mình muốn thoát ly cuộc sống đó. Tuy nhiên, cũng đã có những vụ
ly hôn ở nhiều nơi do chị em đứng nguyên đơn. Năm nhiều nhất ở
miền Bắc có 280 vụ trong tổng số 16.000 vụ, ở miền Nam trong
6.880 vụ có 190 vụ. Điều đó cũng nói lên tác động tích cực của
Luật hôn nhân và gia đình tới ý thức giác ngộ quyền lợi của chị em
Công giáo [66, tr. 27].

tác giả không đào sâu vào vấn đề này, có lẽ vì ngoài phạm vi bài nghiên cứu.
Nhƣ thế, luận án này khai thác sâu một khía cạnh trong luận án của Đỗ Thị
Ngọc Anh.
Ngoài ra, rải rác trong nhiều bài viết, một số tác giả đề cập đến hôn nhân
và ly hôn Công giáo, nhƣ trong cuốn Cấu hình xã hội cộng đồng Công giáo
Bắc di cư tại Nam Bộ, Nguy n Đức Lộc đã viết:
Ở trong cái ấp này hiện tƣợng bỏ nhau rất là ít, chỉ có một vài
trƣờng hợp không thể chịu đƣợc nhau thì mới bỏ thôi. Ở đây mấy
thành phần đi linh tinh rất là hiếm…Cuộc sống nhƣ vậy cũng đƣợc,
chứ cứ tiền bạc nhiều mà sứt mẻ tình cảm thì cũng không thích. Kể
ra bên này [bên Công giáo] có cái đạo luật giúp cho gia đình hạnh
phúc êm ấm, xã hội không bị lộn xộn” [76, tr. 117].
Trong cuốn Tổ chức xứ, họ đạo Công giáo ở Việt Nam, Nguy n Hồng
Dƣơng nhận xét: “Do Giáo luật quy định hôn nhân một vợ một chồng nên ít
có trƣờng hợp ly hôn ở làng Công giáo” [31, tr. 292] . Còn ở bài “Phác thảo
về tƣ duy và lối sống của ngƣời Công giáo Việt Nam” trong cuốn Nếp sống

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status