Tìm hiểu vấn đề ly hôn trong hệ thống pháp luật Việt Nam (từ thời kì phong kiến đến nay) - Pdf 34

Hôn nhân bản thân nó vốn là một hiện tượng xã hội nên ly hôn-một phần của hôn nhân cũng
vậy. Tương ứng với mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau thì hiện tượng ly hôn cũng diễn biến khác
nhau. Trong giai đoạn hiện nay, khi mà việc ly hôn có xu hướng ngày càng gia tăng thì một câu
hỏi được đặt ra đó là: đâu là nguyên nhân của tình trạng này? Và để trả lời được câu hỏi đó
trước hết phải nghiên cứu về vấn đề ly hôn trong lịch sử Việt Nam. Chính vì vậy em xin chọn đề
tài “Tìm hiểu vấn đề ly hôn trong hệ thống pháp luật Việt Nam (từ thời kì phong kiến
đến nay)”
Về chế định ly hôn trong cổ luật.
Về căn cứ ly hôn.
Về mặt pháp lý, sự ly hôn trong xã hội phong kiến Việt Nam được chia thành các trường
hợp sau:


Các trường hợp chồng phải bỏ vợ.

Trong các trường hợp này, người chồng buộc phải bỏ vợ cho dù có muốn hay không. Điều
310 BLHĐ quy định: "Vợ, nàng hầu đã phạm điều nghĩa tuyệt (thất xuất) mà người chồng ẩn
nhẫn không bỏ thì phải tội biếm tùy theo nặng nhẹ". Tuy trong BLHĐ không có điều luật nào
giải thích về “thất xuất” nhưng sách HĐTCT có ghi lại một trường hợp mà chồng phải bỏ vợ,
cũng tương tự bảy trường hợp quy định tại điều 108 BLGL: “Không có con, dâm đãng, không
phụng sự bố mẹ chồng, lắm lời, trộm cắp, ghen tuông, bị ác tật”. Bởi lẽ vợ không sinh được con
là bất hiếu với cha mẹ nên phải bỏ. Vợ ghen tuông, dâm đãng mà không bỏ thì bại hoại gia đình.
Vợ bị ác tật thì không được làm cỗ để cúng tế. Vợ lắm lời sẽ làm cho anh em, gia đình mất hòa
thuận. Vợ trộm cắp thì vạ lây đến nhà chồng. Khi người vợ phạm phải một trong bảy điều trên
thì người chồng phải bỏ vợ nhằm bảo vệ quyền lợi tối cao của gia đình. Đây chính là sự mô
phỏng quy định về “thất xuất” trong pháp luật Trung Quốc từ nhà Đường cho đến nhà Thanh.
Tuy nhiên, trên thực tế, trong xã hội phong kiến Việt Nam và tục lệ chỉ công nhận bốn
duyên cớ để chồng bỏ vợ đó là: vợ bất chính (không trung thành với chồng, cờ bạc), vợ ăn cắp
của chồng hoặc cha mẹ chồng, vợ không kính trọng cha mẹ chồng, vợ đánh đập chồng.
Các trường hợp “thất xuất” cũng có ngoại lệ. Theo đoạn 165 HĐTCT và điều 108 BLGL
quy định ba trường hợp người chồng không được phép bỏ vợ kể cả khi vợ phạm phải một trong

Các trường hợp vợ chồng có quyền xin ly hôn.

Khi một bên vợ hoặc chồng vi phạm nghĩa vụ đồng cư hoặc nghĩa vụ phù trợ. Các điều 308
BLHĐ và điều 108 BLGL đã cho phép người vợ được phép xin quan cải giá sau 5 tháng chồng
không đi lại (nếu có con là một năm) theo BLHĐ và 3 năm theo BLGL. Đây là một quy định thể
hiện sự tiến bộ của nhà làm luật phong kiến Việt Nam, góp phần ngăn chặn sự thiếu trách nhiệm
của chồng đối với vợ và tạo cho người phụ nữ có cơ hội để có thể tự giải thoát cho mình.
Ngược lại, trường vợ bỏ nhà đi thì người chồng cũng được phép xin ly dị (Điều 321 BLHĐ
và điều 108 BLGL).
Đặc biệt, tại điều 333 BLHĐ còn cho phép vợ được xin ly dị nếu chồng mắng cha mẹ vợ phi
lý, bởi trong trường hợp này người con rể đã phạm vào tội bất hiếu với cha mẹ vợ nên luật cho
phép người vợ có quyền ly hôn. Điều này chứng tỏ nghĩa vụ tòng phu không làm mất năng lực
pháp lý của người vợ. Điểm độc đáo này cho thấy pháp luật nhà Lê mà k hề thấy trong bất kỳ bộ
luật nào của Trung Quốc hay bất kỳ điều luật nào của BLGL.
2




Thuận tình ly hôn.

Ngoài 2 trường hợp ly hôn kể trên thì pháp luật phong kiến cũng cho phép vợ chồng được
thuận tình ly hôn. Tại đoạn 167 HĐTCT: nếu hai vợ chồng bất hòa thuận, nguyện xin ly dị thì tờ
xin ly hôn do hai bên vợ chồng tự viết hoặc nhờ người trong họ viết thay giấy thỏa thuận được
hai bên cùng ký, viết chữ giáp lai rồi mỗi bên giữ một nửa làm bằng, sau đó mỗi người một nơi
mà không cần có sự cho phép của nhà chức trách. Ngoài hình thức văn bản thì các hình thức
khác đều bị coi là vô hiệu và buộc vợ chồng phải đoàn tụ lại. Tuy nhiên có thể thấy điều mà nhà
làm luật triều Lê yêu cầu không sát với hoàn cảnh thực tế, khi mà dân ta không biết chữ thì việc
thuận tình ly hôn đòi hỏi phải có văn tự là không khả thi. Trường hợp thuận tình ly hôn này thực
chất nhà làm luật nhà Lê sao chép theo luật nhà Đường, trong đó giấy tờ ly hôn được gọi là "hưu





Các trường hợp chồng có thể xin ly hôn

Tại điều 117 DLTK và điều 118 DLBK quy định chồng có thể xin ly hôn vợ vì các duyên
cớ: Vợ phạm gian; vợ bỏ nhà chồng ra đi, tuy đã buộc phải về nhưng không chịu về; vợ thứ
đánh chửi, bạo hành vợ chính.
Điều đặc biệt ở đây đó là trong DLGY năm 1883 áp dụng ở Nam Kỳ đã áp dụng chế độ
“tam bất khứ” trong cổ luật Việt Nam, nhằm đảm bảo cho quyền lợi của người vợ cũng như để
xây dựng gia đình trên cơ sở nghĩa tình và đạo đức ( trường hợp khi vợ đã để tang nhà chồng 3
năm; khi vợ chồng lấy nhau nghèo, về sau giàu có; khi vợ chồng lấy nhau, vợ còn bà con họ
hàng, khi bỏ nhau thì vợ không còn nơi nào để trở về thì người chồng không được phép ly hôn)


Các trường hợp vợ có thể xin ly hôn

Điều 118, Bộ dân luật Trung kỳ và Điều 119, bộ dân luật Bắc kỳ quy định vợ có thể xin ly
hôn chồng vì những duyên cớ như: chồng bỏ nhà đi quá 2 năm không có lý do chính đáng và
không lo liệu việc nuôi nấng vợ con; chồng đuổi vợ ra khỏi nhà mà không có lý do chính đáng;
làm trái trật tự trong thê đẳng; chồng không làm nghĩa vụ đã cam đoan khi kết hôn, là phải tùy
theo kế sinh nhai mà nuôi nấng vợ con.
Đặc biệt, tại điều 123 DLBK có quy định: “Người vợ có thể kiện xin ly hôn, không cần phải
chồng cho phép”. Như vậy, việc đặt ra quy định này có ý nghĩa quan trọng khi xác định cho
người phụ nữ quyền được tự quyết định hạnh phúc hôn nhân của mình chứ không phụ thuộc vào
người chồng.


Các trường hợp cả hai vợ chồng xin ly hôn

nửa phong kiến, nhưng mặt khác nó lại mang những giá trị nhân văn nhất định khi một phần
hướng tới giải phóng con người, cụ thể ở đây chính là người phụ nữ.
Về chế định ly hôn trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân (1945-1954)
Sau khi Bản Hiếp pháp đầu tiên của nước ta ra đời vào năm 1946 ghi nhân quyền bình
đẳng giữa nam và nữ về mọi mặt (Điều 9) – cơ sở pháp lý để đấu tranh xóa bỏ những hủ tục của
chế độ HN&GĐ cũ, xây dựng chế độ HN&GĐ mới dân chủ và tiến bộ; cùng với sự phát triển
nhanh chóng của xã hội và sự thay đổi nhận thức của toàn dân thì trong những năm từ 1945 đến
1950, Nhà nước ta đã ban hành các sắc lệnh quy định về HN&GĐ: sắc lệnh số 90-SL ngày
10/10/1945, sắc lệnh số 97-SL ngày 22/5/1950 và Sắc lệnh số 159-SL ngày 17/11/1950. Về vấn
đề ly hôn, nhà nước ta quy định rõ tại Sắc lệnh số 159-SL ngày 17/11/1950. Sắc lệnh gồm 9 điều
chia thành 3 mục: Duyên cớ ly hôn, thủ tục ly hôn và hiệu lực của việc ly hôn.
Căn cứ ly hôn.
Cụ thể, tại mục đầu tiên về “Duyên cớ ly hôn” quy định cụ thể như sau:


Toà án có thể cho phép vợ hoặc chồng ly hôn trong những trường hợp sau (Điều 2):

Ngoại tình; một bên can án phát giam; một bên mắc bệnh điên hoặc một bệnh khó chữa
khỏi; một bên bỏ nhà đi quá hai năm không có duyên cớ chính đáng; vợ chồng tính tình không
được hoặc đối xử với nhau đến nổi không thể sống chung được.

6


Sắc lệnh này thật sự đã thực hiện nguyên tắc tự do hôn nhân: công nhân quyền tự do kết hôn
và tự do ly hôn. Ở đây, nhà làm luận không còn phân biệt duyên cớ ly hôn cho riêng vợ hay
riêng chồng mà gộp vào làm một với cách dung từ “một bên”, thể hiện rõ sự bình đẳng giữa đôi
bên vợ và chồng, xóa bỏ sự bất bình đẳng trong các Bộ dân luật cũ. Và đây cũng là lần đầu tiên
trong pháp luật Việt Nam người phụ nữ được ly dị do người chồng ngoại tình!


thai mà nếu có việc ly hôn, đây là điểm mới mà các bộ luật cũ không hề đề cập đến.
7


Tuy nhiên, do được ban hành trong bối cảnh lịch sử xã hội nhất định nên 2 sắc lệnh vẫn còn
mặt hạn chế, chưa xóa bỏ được tận gốc và toàn diện chế độ HN&GĐ phong kiến lạc hậu, vẫn
giải quyết ly hôn dựa trên lỗi của vợ chồng; mới giải quyết được một số vấn đề cấp bách, góp
phần giải phóng phụ nữ; quy định nam nữ bình đẳng trong ly hôn nhưng vẫn chưa được sâu sắc.
Về chế định ly hôn trong giai đoạn 1954 – 1945.
Năm 1954, cuộc cách mạng chống thực dân Pháp thắng lợi, tuy nhiên, đất nước ta tạm bị
chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị khác biệt do Mỹ nhảy vào, áp đặt chính sách thực
dân kiểu mới ở miền Nam nước ta và thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta. Bời đặc
điểm chính trị - xã hội này nên ở thời kỳ này nước ta tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến
lược khác nhau: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ
nghĩa ở miền Bắc với mục tiêu chung là giải phóng miền Nam, bảo vệ và xây dựng xã hội mới
miền Bắc, tiến lên thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà.
Ở miền Bắc: Quốc hội khóa I Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thông qua Luật HN&GĐ
năm 1959 ngày 29/12/1959 và có hiệu lực thi hành từ ngày 13/01/1960 – một trong những đạo
luật được ban hành sớm nhất và đã đánh dấu một bước phát triển tiến bộ vượt bậc trong công tác
lập pháp của nước ta. Bộ luật gồm 6 chương và 35 điều, vấn đề ly hôn được đề cập tại chương V
với 9 điều.
Về căn cứ ly hôn, luật HN&GĐ 1959 không quy định những căn cứ ly hôn riêng biệt mà
quy định căn cứ ly hôn duy nhất cho mọi trường hợp là “tình trang mâu thuẫn trầm trọng, đời
sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”. Như vậy trừ trường hợp hai
bên thuận tình ly hôn, còn các trường hợp xin ly hôn khác toàn án đều phải tiến hành hòa giải
đoàn tụ, nếu hòa giải không thành mới đưa ra xét xử. Trường hợp vợ có thai, chồng chỉ có thể
xin ly hôn sau khi vợ đã sinh đẻ được một năm. Như vậy, cũng giống như Sắc lệnh số 159-SL
ngày 17/11/1950 thì quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ và thai nhi, nhưng ở
đây, Luật HN&GĐ năm 1950 đã cụ thể hóa thời gian để người chồng có thể xin ly hôn sau khi
người vợ sinh là 1 năm, không nêu chung chung là “có thể xin hoãn đến sau kì sinh nở mới xử

con, giữa con trong và ngoài giá thú; quy định giải quyết ly hôn dựa trên cơ sở lỗi của vợ chồng;
đặc biệt, Bộ luật gia đình dưới chế độ Ngô Đình Diệm đã cấm vợ chồng không được ly hôn
(Điều 55)…
Như vậy, các văn bản pháp luật này chính là công cụ của Nhà nước phản động, đi ngược
với lợi ích của nhân dân lao động.
Về chế định ly hôn giai đoạn từ năm 1975 đến nay.
Với thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ngày 30/4/1975, cả
nước thống nhất, cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn cả nước độc lập,
thống nhất…tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, tiến nhanh tiến mạnh, tiến vững chắc lên
chủ nghĩa xã hội.
Cùng với việc chính thức thông qua bản Hiếp pháp năm 1980 của Quốc hội khóa VI, kỳ
họp thứ 7, ngày 18/12/1980 thì sau đó, Luật HN&GĐ năm 1986 đã được Quốc hội khóa VII kì
họp thứ 12 thông qua ngày 29/12/1986 và được công bố ngày 3/1/1987 gốm 10 chương và 57
điều. Tuy rằng Luật HN&GĐ năm 1959 đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần xóa bỏ
những tàn tích lạc hậu của chế độ HN&GĐ phong kiến, thực hiện chế độ hôn nhân và gia đình
xã hội chủ nghĩa ở nước ta, song tình hình nước ta đã thay đổi về căn bản so với những năm
9


1959, việc áp dụng Luật HN&GĐ năm 1959, một số điều đã không còn phù hợp, vậy nên, việc
ban hành Luật HN&GĐ năm 1986 là một tất yếu khách quan để thúc đẩy sự nghiệp xây dựng
chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả nước.
Vấn đề ly hôn được nhà làm luật quy định tại 6 điều ở chương VII – Luật HN&GĐ năm
1986. So với Luật HN&GĐ năm 1959 thì Luật HN&GĐ năm 1986 có những điểm giống nhau,
song có những điểm mới, cụ thể hơn, tiến bộ hơn.
Căn cứ ly hôn.
Vấn đề thuận tình ly hôn của cả hai bên vợ chồng được tòa án điều tra, hòa giải và giải
quyết sau khi có đơn xin ly hôn của vợ hoặc chồng. Khi xét nếu đúng là hai bên thuận tình ly
hôn thì sau khi hòa giải không thành, tòa án sẽ giải quyết ly hôn cho họ; nếu trường hợp một bên
vợ hoặc chồng xin ly hôn thì sau khi hòa giải không thành, tòa sẽ đưa ra xét xử và dựa trên căn

và gia đình Việt Nam; Luật gồm 13 chương, 110 điều. Vấn đề ly hôn được đề cập tại chương X
với 15 điều.
Về căn cứ ly hôn, được quy định rõ tại Điều 89 Luật HN&GĐ năm 2000, theo đó thì căn cứ
của việc ly hôn vẫn dựa trên ba cơ sở: tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài,
mục đích của hôn nhân không đạt được; bên cạnh đó, tại khoản 2 điều này, nhà làm luật đã dự
liệu trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích thì tòa án giải quyết cho
họ được ly hôn (nếu họ có mong muốn).
Nhà làm luật dựa vào bản chất của hôn nhân tan vỡ, hoàn toàn không dựa vào lỗi của vợ,
chồng. Đây là căn cứ đã được áp dụng ở nước ta từ khi nước ta ban hành Luật HN&GĐ năm
1959 và thật sự đã đáp ứng được cả cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng.
Tại Điều 85, nhà làm luật đã cụ thể hóa, nêu ra hai vấn đề, là: chỉ có vợ hoặc chồng hoặc cả
vợ và chồng mới có quyền yêu cầu tòa giải quyết việc ly hôn cho họ và hạn chế quyền ly hôn
của người chồng khi mà người vợ có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, nhằm bảo vệ
quyền lợi cho phụ nữ có thai và thai nhi – một vấn đề được quan tâm lớn.
Về hậu quả pháp lý cảu việc ly hôn, cũng như Luật HN&GĐ 1959 và Luật HN&GĐ 1986,
Luật HN&GĐ 2000 quy định chấm dứt các quyền và nghĩa vụ về nhân thân giữa vợ và chồng
sau khi quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực, vợ, chồng có quyền kết hôn với người khác.
Về quan hệ tài sản, tại điều 42 Luật HN&GĐ năm 1986 đã quy định các nguyên tắc chia tài
sản của vợ chồng khi ly hôn, tuy nhiên, do tính chất phức tạp của loại việc và quan hệ xã hội
vốn có nhiều biến động , nên việc áp dụng quy định có tính nguyên tắc chung này bộc lộ nhiều
khó khăn và vướng mặc. Do đó, để khắc phục những hạn chế này, cũng như nhằm bảo đảm tốt
hơn quyền và lợi ích của các bên khi ly hôn, Luật HN&GĐ năm 2000 đã dự liệu cụ thể hơn về
các nguyên tắc chung khi xác định và chia tài sản riêng, tài sản chung của vợ chồng; đặc biệt,
đối với những tài sản là nhà ở và quyền sử dụng đất của vợ chồng (Điều 95, 96, 97, 98, 99 Luật
HN&GĐ năm 2000). – lần đầu tiên được đưa vào Luật HN&GĐ một cách cụ thể, rõ ràng.
Về vấn đề con chung cũng được quy định tại điều 92,93,94 Luật HN&GĐ 2000. Các quy
định này ngày càng hoàn thiện, thể hiện sự quan tâm một cách sâu sắc và triệt để của nhà
nước đối với trẻ em, thể hiện sự tiến bộ của luật pháp.
11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status