TÀI LIỆU THAM KHẢO CHUYÊN đề KINH tế CHÍNH TRỊ SAU đại HỌC, MỤC TIÊU VÀ CHÍNH SÁCH KINH tế VĨ mô TRONG nền KINH tế THỊ TRƯỜNG - Pdf 41

MỤC TIÊU VÀ CHÍNH SÁCH KINH TẾ VĨ MÔ
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
* * *
1. Mô tả chuyên đề:
Chuyên đề này nghiên cứu những nội dung cơ bản về mục tiêu và các
chính sách kinh tế vĩ mô. Toàn bộ nội dung chuyên đề cấp học dưới chưa
được nghiên cứu. Thông qua chuyên đề này, người học cần nắm vững những
nội dung hết sức cơ bản của chuyên đề, làm cơ sở để nhận thức và vận dụng
những vấn đề có tính nguyên tắc trong các hoạt động quản lí nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay.
2. Mục đích:
Giới thiệu những vấn đề cơ bản về mục tiêu và chính sách kinh tế vĩ mô,
giúp học viên sau đại học có cơ sở để nắm đầy đủ các nội dung của kinh tế học
vĩ mô. Trên cơ sở đó, có thể vận dụng kiến thức đã tiếp thu để giải đáp những
vấn đề quản lý doanh nghiệp và quản lý vĩ mô nền kinh tế thị trường ở nước ta
hiện nay.
3. Yêu cầu:
Hiểu được những vấn đề cơ bản về mục tiêu và chính sách kinh tế vĩ mô.
Ý nghĩa vận dụng chúng trong nền kinh tế thị trường nói chung và kinh
tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.
Cần nắm vững nội dung cơ bản của chuyên đề, so sánh nó với kinh tế
chính trị, làm sâu sắc hơn những nội dung kiến thức chuyên ngành.
4. Bố cục chuyên đề
I. Mục tiêu kinh tế vĩ mô
II. Các chính sách kinh tế vĩ mô

I. MỤC TIÊU KINH TẾ VĨ MÔ
1.1. Một số vấn đề chung về mục tiêu KT vĩ mô
Thành tựu KT vĩ mô của một nước thường được đánh giá theo ba dấu



cầu của người nước ngoài về hàng hoá và dịch vụ của nước XK; nó tạo công
ăn việc làm cho LĐ trong nước.


- NK (IM) được tính là tổng giá trị hàng hoá NK cùng với thu nhập của
người nước ngoài ở trên đất nước NK.
NK phản ánh nhu cầu của trong nước đối với hàng hoá của nước ngoài;
nó tạo ra công ăn việc làm cho LĐ nước ngoài.
- Nếu đem tổng giá trị xuất khẩu trừ đi tổng giá trị nhập khẩu ta được
một đại lượng gọi là xuất khẩu ròng, kí hiệu là NX.
NX = EX - IM
Ở đây NX > 0  Đó là xuất siêu; NX < 0  Đó là nhập siêu.
1.2.2. Ổn định tỉ giá hối đoái
- Tỷ giá hối đoái là giá cả của đồng tiền một nước này so với đồng tiền
của một nước khác. Thông thường người ta ngầm hiểu “Tỷ giá hối đoái” là số
lượng đơn vị tiền nội tệ cần thiết để mua một đơn vị ngoại tệ. Thí dụ:
15.291,00 VNĐ mua được 1 USD trong thời gian giữa tháng 8 năm 2002.
Người ta thường biểu diễn tỷ giá hối đoái theo cả 2 cách. Thí dụ về tỷ
giá giữa đồng tiền Việt nam và Đôla Mỹ: VNĐ/ USD hoặc USD/VNĐ.
- Trong thực tế có 2 loại tỷ giá hối đoái cơ bản:
+ Tỷ giá hối đoái cố định: là tỷ giá được (NHTW) mỗi nước quy định
gắn với một đồng tiền nhất định mà mọi việc mua, bán đồng tiền đó đều được
tính theo tỷ giá này. Một trong những hệ thống tỷ giá hối đoái cố định được
người ta nói đến nhiều là hệ thống tỷ giá cố định Bretton Woods (1944-1971)
được hình thành tại hội nghị đa quốc gia nhóm họp ở Bretton Woods, New
Hamphise (Mỹ). Tiền của các nước tham gia hệ thống này được cố định theo
đồng Đôla Mỹ và các NHTW của các nước tham gia có trách nhiệm duy trì
các tỷ giá hối đoái của họ bằng việc mua và bán Đôla trên thị trường ngoại tệ.
Hệ thống này bị xoá bỏ vào tháng 8.1971 khi các nước tham gia hệ thống
không thể đảm bảo được rằng những đồng Đôla cũng có thể chuyển đổi được

số lượng đồng nội tệ nhiều hơn. Tình hình này làm cho giá hàng XK trở nên
“tương đối rẻ” trên thị trường TG, tăng sức ctranh và khuyến khích XK; hạn
chế nhập khẩu.
Như vậy, tỷ giá hối đoái là một biến số quan trọng tác động đến sự cân
bằng của cán cân thương mại và cán cân thanh toán, do đó tác động đến sản
lượng, việc làm cũng như sự cân bằng của nền KT nói chung.
Để ổn định tỷ giá, điều quan trọng vẫn phải là duy trì sự tăng trưởng ổn
định và liên tục của SX trong nước, giữ được giá trị đồng nội tệ, đồng thời
phải có dự trữ ngoại tệ mạnh để lúc cần thiết nhà nước có thể can thiệp vào thị
trường nhằm duy trì tỷ giá ổn định. Mặt khác, CP: phải thường xuyên điều


chỉnh tỷ giá cho sát với tỷ giá thực tế trên thị trường, tránh để có khoảng cách
lớn giữa tỷ giá kiểm soát và tỷ giá trên thị trường.
1.2.3. Ổn định mức giá chung, kiềm chế lạm phát
- Lạm phát là hiện tượng phổ biến của nền KTTT. Biểu hiện của nó là
mức giá chung của nền KT tăng lên. Trường hợp ngược lại gọi là thiểu phát.
- Mục tiêu của KTVM là kiểm soát được lạm phát ở mức thấp.
- Người ta phân loại lạm phát theo nhiều tiêu chí khác nhau:
+ Phân loại theo mức độ tỷ lệ, người ta có lạm phát vừa phải, chấp nhận
được với tỷ lệ lạm phát < 10% (gọi là l/phát một con số); l/phát phi mã với tỷ lệ
lạm phát > = 10% và < hoặc bằng 200%; siêu l/phát với mức lạm phát > 200%.
+ Phân loại theo mức độ tác động của lạm phát, người ta thấy có 2 loại là
lạm phát ỳ (thấy được ) và lạm phát bất thường (không dự kiến được). Đặc
trưng của lạm phát ỳ là loại lạm phát vừa phải; giá cả tăng một cách đều đặn
trong thời gian dài và mọi HĐ KT đều phải điều chỉnh theo tỷ lệ lạm phát đã
tính được trước đó. Ngược lại lạm phát bất thường sẽ gây nhiều tác hại cho
SX và đ/sống do người ta không thể dự kiến trước được mức độ lạm phát.
- Nguyên nhân lạm phát đến từ nhiều lý do, mà suy cho cùng là do số
lượng tiền giấy phát hành trong lưu thông > số lượng tiền cần thiết cho lưu

–––––––

x

100

CPI t-1

1.2.4. Giải quyết việc làm, hạn chế thất nghiệp:
Việc làm và lạm phát trong nền KTTT là hai vấn đề được toàn XH đặc
biệt quan tâm. Khi không có việc làm thì người LĐ trở thành người thất
nghiệp. Nạn thất nghiệp là một thực tế nan giải của mọi nền KTTT.
- Khi thất nghiệp ở mức cao, SX sút kém, tài nguyên không được sử
dụng hết, thu nhập của dân cư giảm sút. Khó khăn KT sẽ tràn sang lĩnh vực
XH. Nhiều hiện tượng tiêu cực sẽ phát triển. Đó là tác hại của thất nghiệp.
- Có nhiều khái niệm khác nhau về thất nghiệp. Dưới đây là một khái
niệm được nhiều nhà KT tán đồng. Theo đó, thất nghiệp là những người đang
ở trong độ tuổi LĐ, có khả năng LĐ mà hiện chưa có việc làm, dù đang mong
muốn và cố gắng kiếm việc làm.
- Tỷ lệ thất nghiệp là tỷ lệ % số người thất nghiệp so với tổng số người
trong độ tuổi LĐ. Tỷ lệ thất nghiệp là một tiêu chí phản ánh khái quát tình
trạng thất nghiệp của một quốc gia.
- Thất nghiệp là 1 hiện tượng phức tạp, có nhiều cách phân loại thất nghiệp:
+ Phân loại theo nguồn gốc thất nghiệp, người ta chia thành thất nghiệp
tạm thời, thất nghiệp cơ cấu và thất nghiệp do thiếu cầu. Loại thứ nhất xảy ra
khi có một số người LĐ đang trong thời gian tìm kiếm công việc hoặc nơi làm
tốt hơn, phù hợp với ý muốn riêng, hoặc những người mới bước vào thị
trường LĐ đang tìm kiếm việc làm hay đang chờ đợi việc làm. Loại thứ hai
xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cung và cầu các loại LĐ: ngành nghề, khu
vực,... Loại này gắn liền với sự biến động cơ cấu KT và khả năng điều chỉnh

tiêu đo lường sản lượng quốc gia là: tổng sản phẩm quốc dân (GNP), tổng sản
phẩm quốc nội (GDP).
- (GNP) là chỉ tiêu đo lường tổng giá trị bằng tiền của các hàng hoá và
DV cuối cùng mà một quốc gia SX ra trong một thời kỳ nhất định (thường là
một năm) bằng các yếu tố SX của mình. (Căn cứ yếu tố sở hữu)


Dùng thước đo tiền tệ để đo lường giá trị sản phẩm là thuận lợi vì thông qua
giá cả thị trường có thể cộng giá trị của các loại hàng hoá, dịch vụ có hình thức và
nội dung vật chất khác nhau. Tuy nhiên, giá cả lại là một thước đo co dãn. Do vậy
để khắc phục, người ta thường sử dụng cặp khái niệm GNP danh nghĩa và GNP
thực tế.
n
GNP =

Σ qi . pi (Trong đó qi là sản lượng và pi là giá hàng thứ i, với i =1  n )
i=1

+ GNP danh nghĩa là GNP tính theo giá hiện hành (Ký hiệu: GNPn)
+ GNP thực tế đo lường tổng sản phẩm quốc dân theo giá cố định ở một
thời kỳ lấy làm gốc. (Ký hiệu: GNPr)
Chỉ tiêu GNP danh nghĩa và GNP thực tế được dùng cho các mục tiêu phân
tích khác nhau. Khi muốn nghiên cứu: mối quan hệ tài chính người ta thường
dùng GNP danh nghĩa; còn khi phân tích tốc độ tăng trưởng KT người ta lại
dùng GNP thực tế.
- (GDP) là tổng giá trị bằng tiền của các hàng hoá và dịch vụ cuối cùng
được SX ra trong phạm vi lãnh thổ quốc gia trong một thời kỳ nhất định
(thường là một năm) không kể ai là chủ sở hữu của các ytố SX đó. (Căn cứ yếu tố
địa lí)
GDP không bao gồm kết quả HĐ của công dân nước sở tại tiến hành ở

hưởng thụ thời

trên thị trường

Thiệt hại do

hoạt động KT

gian nhàn rỗi

gây ra

+ Chỉ số phát triển nhân lực (HDI). HDI dựa vào 3 biến số: tuổi thọ bình
quân, trình độ học vấn, GDP bình quân trên đầu người.
+ GDP, GNP tính theo sức mua tương đương (PPP).
1.2.6. Công bằng xã hội
Cân bằng ngân sách cũng được xem là một mục tiêu qlý KTVM, gắn
liền với việc cân bằng cán cân thanh toán. Việc thâm thủng ngân sách lớn sẽ
dẫn đến việc chính phủ phải quyết định phát hành và đưa vào kênh lưu thông
tiền tệ quá nhiều tiền giấy. Hệ quả sẽ ảnh hưởng xấu đến sự ổn định KTVM.
Vì thế vấn đề thăng bằng ngân sách lành mạnh có tầm quan trọng đặc biệt,
việc quyết định duy trì mức bội chi ngân sách thường do quốc hội quyết định.
Trong nền KTTT có sự quản lý của Nhà nước, vấn đề công bằng XH
được coi là một mục tiêu quan trọng bởi bản thân cơ chế thị trường thường
tự phát dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo, nảy sinh sự mất công bằng mà
không thể tự giải quyết. Do đó, cần phải có sự can thiệp của Nhà nước. Ngay
cả ở những nước Tư bản phát triển hiện nay cũng phải đặt vấn đề giải quyết
quan hệ giữa tăng trưởng KT và công bằng XH, song khác về nguyên tắc và
bản chất đối với các nước XHCN.
* Mối quan hệ giữa một số mục tiêu:

và công cụ KT vĩ mô để đưa nền KT trở lại trạng thái ổn định và phát triển
bên vững.
- Có nhiều quan niệm khác nhau về chính sách KT vĩ mô, song có thể hiểu
một cách khái quát: Chính sách KT vĩ mô là một hệ thống các giải pháp KT được
thể chế hoá thông qua các công cụ KT như tài chính, tiền tệ, thu nhập, giá cả…
để tác động vào quá trình vận động của nền KT nhằm hướng vào các mục tiêu KT
vĩ mô xác định.
- Có thể phân loại chính sách KT vĩ mô theo nhiều cách tiếp cận khác nhau:


+ Nếu phân loại theo các công cụ tác động, các chính sách KTVM được
chia thành: Chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ, chính sách thu nhập, chính
sách xuất nhập khẩu…
+ Phân theo mục tiêu KTVM, được chia làm hai nhóm: Nhóm các chính
sách ổn định (điều tiết KT) và nhóm các chính sách tăng trưởng (điều chỉnh KT).
+ Phân loại theo phạm vi, lĩnh vực tác động, bao gồm: Chính sách KT
đối nội và chính sách KT đối ngoại.
+ Phân chia theo thời gian ảnh hưởng, bao gồm: Các chính sách KT ngắn
hạn và chính sách KT dài hạn.
2.1.2. Những đặc trưng trong hoạch định và thực thi chính sách kinh tế vĩ mô
Hoạch định và thực thi các chính sách KTVM chính là quá trình nhận
thức và vận dụng các quy luật KT khách quan trong thực tế. Do đó, trong
quá trình hoạch định và thực hiện chính sách thường xuất hiện những khả
năng, xu hướng thúc đẩy hoặc cản trở sự tác động của các chính sách đó,
như độ trễ và cơ chế tự động ổn định… làm cho hiệu quả thực hiện không
được như mong muốn.
- Độ trễ trong thực thi các chính sách KTVM, bao gồm hai loại:
+ Độ trễ trong: Là khoảng thời gian từ lúc xuất hiện cú sốc tác động vào
nền KT đến khi các biện pháp của Chính sách được thực thi để phản ứng lại.
+ Độ trễ ngoài: Là khoảng thời gian từ lúc thực thi chính sách đến khi nó

làm lành mạnh hoá các thị trường tài chính; đồng thời nhằm tăng quy mô
nguồn tài chính một cách hợp lý, hiệu quả ở tất cả các khâu của hệ thống tài
chính.
+ Mục tiêu KT của chính sách tài chính là góp phần thực hiện tất cả các
mục tiêu KT vĩ mô: tăng trưởng bền vững, ổn định tỷ giá hối đoái, lạm phát
thấp, toàn dụng nhân lực, cân bằng cán cân thanh toán và bảo đảm công bằng
XH.
- Các công cụ của chính sách tài chính: Thuế và chi tiêu CP’ (G) để điều
tiết mức chi tiêu chung của nền KT (AD):
+ Thuế là nguồn thu chính của NS Nhà nước, là công cụ có tính chất
cưỡng chế nhằm tái phân phối thu nhập. Thông qua việc xác định đúng
nguyên tắc, phương pháp đánh thuế; hình thành cơ cấu giữa các loại thuế, sắc
thuế; xác định mức thuế suất và đối tượng chịu thuế mà Chính phủ sử dụng
chính sách thuế như là công cụ điều tiết nhằm thực hiện các mục tiêu KTVM.
+ Chi tiêu của Chính phủ là việc sử dụng ngân sách để thực hiện các
mục tiêu KTXH. Quy mô và mức độ chi tiêu phụ thuộc vào chức năng, nhiệm


vụ của Chính phủ trong từng thời kỳ và phụ thuộc vào việc thực hiện các mục
tiêu KTVM trong mỗi giai đoạn. Tác động của công cụ chi tiêu Chính phủ
phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả của việc chi tiêu; gắn liền với việc giải quyết
hài hoà mối quan hệ giữa ba bộ phận trong cơ cấu chi là: chi thường xuyên,
chi cho đầu tư phát triển và chi trả nợ; đồng thời gắn liền với việc chống thất
thoát, lãng phí, làm phân tán nguồn lực đầu tư của Chính phủ.
+ Các công cụ khác như: vay nợ của Chính phủ, phát hành tiền để bù
đắp bội chi ngân sách. Vay nợ của CP gồm hai kênh: vay trong nước và
vay nước ngoài. Vay trong nước thường được sử dụng qua các hình thức
phát hành công trái, trái phiếu hoặc tín phiếu nhà nước. Vay nợ nước
ngoài thường được sử dụng là các khoản vay ODA thông qua các hiệp
định vay nợ đối với các chính phủ hoặc với các tổ chức KT Quốc tế.

thất nghiệp tăng

tổng cầu giảm

thất nghiệp

tăng
+ Cơ chế ổn định tự động: Khi KT bị suy thoái thì hệ thống thuế thu
nhập cá nhân và doanh nghiệp tự động giảm, đồng thời mức trợ cấp từ chính
phủ tự động tăng lên có tác dụng điều tiết tự động tổng cầu.


- Những nhân tố ảnh hưởng đến chính sách tài khoá trong thực tiễn:
+ Khó xác định chính xác liều lượng cần thiết của các chính sách tác động
do có sự khác nhau về quan điểm, phương pháp đánh giá các sự kiện KT...
(trong xác định số nhân chi tiêu của CP’, xác định mức thuế và đối tượng chịu
thuế...)
+ Độ trễ của chính sách tác động trong thực tế thường khá dài, nên các
quyết định đưa ra không đúng lúc có thể làm rối loạn thêm nền KT.
+ Hiệu quả của việc thực hiện chính sách tài khoá thông qua các dự án
công cộng thường kém hiệu quả so với đầu tư tư nhân.
c) Thâm hụt ngân sách và các biện pháp khắc phục
- Ngân sách nhà nước là tổng thể các kế hoạch chi tiêu và thu nhập hàng
năm của Chính phủ, bao gồm các khoản thu và chi ngân sách.
Hàm ngân sách giản đơn có dạng: B = -G + tY
(B: Cán cân ngân sách; G: Chi tiêu ngân sách; tY: Thu ngân sách).
Nếu cán cân ngân sách thăng bằng tại mức sản lượng tiềm năng ta có:
B = - G + tY = 0 nên tY = G
+ Vậy với bất cứ mức thu nhập hay sản lượng nào < sản lượng tiềm năng
thì ngân sách sẽ thâm hụt và > sản lượng tiềm năng thì ngân sách sẽ thặng dư.

nền KT. Vấn đề là phải làm sao để hạn chế và trung hoà các ảnh hưởng này
để chúng không gây nên những tác động xấu đến việc thực hiện các mục
tiêu KTVM.
2.2.2. Chính sách tiền tệ
a. Khái niệm và mục tiêu của chính sách tiền tệ
* Chính sách tiền tệ là hệ thống biện pháp và công cụ của Nhà nước sử
dụng trong việc kiểm soát, chi phối, điều tiết quá trình cung và cầu về tiền tệ,
bảo đảm giữ ổn định giá trị đồng tiền quốc gia.
- Trong nền KTTT hiện đại, tiền được xem là một dạng tài sản tài
chính, biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: tiền giấy, tiền kim loại, tài
khoản ngân hàng, sổ tiết kiệm, trái phiếu, tín phiếu v.v... Không phải mọi loại
tiền đều có khả năng chuyển đổi dễ dàng. Khả năng này được xác định bởi
tính dễ dàng chuyển đổi từ một tài sản tài chính trở thành một phương tiện có
khả năng sẵn sàng được sử dụng cho việc mua bán hàng hoá, dịch vụ. Người
ta có thể phân chia các loại tiền theo tính chuyển đổi như sau:
+ M1: Tiền mặt và tiền gửi NH’ không thời hạn, còn gọi là tiền giao dịch
+ M2: Tiền tiết kiệm có kỳ hạn + M1
Hai loại M1 và M2 được nhiều nước coi là những đại lượng đo cung tiền


chủ yếu. Ngày nay với sự phát triển của hệ thống tài chính đã cho ra đời nhiều
loại tài sản tài chính khác như: Tín phiếu kho bạc, các giấy xác nhận tài chính
đối với tài sản hữu hình, các chấp nhận thanh toán của khách hàng
v.v....Chúng cũng có khả năng nhất định trong thanh toán và vì thế, tuỳ theo
tính dễ dàng chuyển đổi sang thanh toán mà được xếp vào các loại cung tiền
M3, M4,...
- Mức cung tiền tệ là một khái niệm được xác định bởi khối lượng tiền tệ
(M), có thể là M1 hoặc M2 v.v., bao gồm các loại tiền có khả năng thanh toán
cao nhất nhằm thoả mãn nhu cầu trao đổi, giao dịch thường xuyên của nền
kinh tế. Trên góc độ kinh tế vĩ mô người ta quan tâm nhiều hơn đến M1và M2.

làm, cân bằng cán cân thanh toán quốc tế. Ngoài ra chính sách tiền tệ còn góp
phần thực hiện các mục tiêu KTXH khác như công bằng XH, ANQP...
b. Các công cụ chủ yếu của chính sách tiền tệ
- Công cụ lãi suất.
Mục tiêu chủ yếu của việc sử dụng công cụ lãi suất là tác động vào cầu
tiền tệ. Theo đó, lãi suất tăng hay giảm sẽ làm khối lượng cầu về tiền sẽ giảm
hay tăng. Từ đây sẽ tác động đến tổng cầu, sản lượng, việc làm.
Thí dụ : i tăng
đầu tư giảm
Tổng cầu giảm
thất nghiệp
tăng
- Các công cụ kiểm soát mức cung tiền tệ:
Chính phủ sử dụng công cụ kiểm soát mức cung tiền thông qua vai trò
của NHTW trong hệ thống ngân hàng 2 cấp, trong đó NHTW làm nhiệm vụ
quản lý Nhà nước về tiền tệ, là người cho vay cuối cùng (Ngân hàng của các
ngân hàng). Còn NHTM là các tổ chức kinh doanh tiền tệ. Để kiểm soát mức
cung tiền tệ, NHTW sử dụng 3 van điều tiết để làm giảm hay tăng MS, qua đó
tác động đến tổng cầu, sản lượng, việc làm.
+ Van 1 là tỷ lệ dự trữ bắt buộc (r b): Đó là tỷ lệ mà NHTW quy định bắt
buộc các NHTM khi có khoản tiền kinh doanh phải dành một phần nhỏ tiền
không được đưa vào kinh doanh lấy lãi. Tuỳ theo loại tiền gửi và quy mô của
chúng mà NHTW quy định những tỷ lệ dự trữ bắt buộc khác nhau. Một phần
tiền dự trữ được giữ lại ngân hàng dưới dạng tiền mặt nhưng không được kinh
doanh; còn một phần phải đưa vào tài khoản của mình tại NHTW. Khi thay
đổi quy mô của tỷ lệ này, NHTW đã khống chế một cách gián tiếp đến mức
cung tiền.
Thí dụ: Khi NHTW tăng rb, NHTM có ít tiền để cho vay, do đó hạn chế



- Các công cụ cơ bản gồm:
+ Công cụ hành chính: như các luật lệ, chỉ thị về mức tiền lương tối thiểu,
ấn định giá cả trực tiếp của nhà nước…


+ Công cụ KT: như điều tiết qua thuế thu nhập luỹ tiến đối với những
người có thu nhập cao… Trợ cấp, bảo hiểm đối với những người có thu nhập
thấp…
2.2.4. Chính sách kinh tế quốc tế
a) Nội dung cơ bản của chính sách kinh tế quốc tế
Trọng tâm của chính sách KT quốc tế là chính sách ngoại hối và tỉ giá
hối đoái là các biện pháp giữ cho thị trường ngoại hối thăng bằng cùng với
các biện pháp bảo hộ mậu dịch và các biện pháp tài chính tiền tệ phối hợp với
tỉ giá hối đoái tác động vào xuất khẩu, đầu tư để thúc đẩy tăng năng suất LĐ,
hiệu quả KT.
b) Mục tiêu của chính sách kinh tế quốc tế
Mục tiêu của chính sách KT quốc tế là ổn định tỉ giá hối đoái, bảo đảm
ổn định giá trị đồng nội tệ và có khả năng chuyển đổi quốc tế; giữ cho cán cân
thanh toán thăng bằng; bảo tăng trưởng ổn định, giải quyết việc làm và mở
rộng các quan hệ KT quốc tế, tăng cường địa vị KT quốc gia…
c) Hệ thống của chính sách kinh tế quốc tế
Đó là hệ thống các giải pháp giữ cho thị trường hối đoái và thị trường
thăng bằng ổn định để thúc đẩy thương mại và đầu tư quốc tế phát triển:
- Tạo ra lượng dự tữ ngoại tệ của quốc gia thích hợp.
- Mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối.
- Lập ra hệ thống tín dụng bằng ngoại tệ ở các ngân hàng thương mại.
- Mua bán chứng khoán bằng ngoại tệ…
- Lập thị trường chứng khoánvà nối liền chúng với các trung tâm chứng
khoán và giao dịch quốc tế khác…
2.2.5. Sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status