TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Kinh tế đối ngoại
CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
XUẤT KHẨU GỖ CỦA VIỆT NAM SANG LIÊN MINH KINH
TẾ Á ÂU TRONG BỐI CẢNH THỰC THI HIỆP ĐỊNH FTA
GIỮA VIỆT NAM VÀ LIÊN MINH KINH TẾ Á ÂU
Sinh viên thực hiện:
Lê Thị Thanh Hà
Mã sinh viên:
1311110176
Lớp :
Anh 16 – K52 – Kinh tế
Giáo viên hƣớng dẫn:
PGS, TS Đỗ Hương Lan
Hà Nội, tháng 12 năm 2016
1
2.1. Thực trạng chung về hàng gỗ Việt Nam sang Liên minh Kinh tế Á
Âu ..........................................................................................................................36
2.1.1. Kim ngạch xuất khẩu ....................................................................36
2.1.2. Cơ cấu xuất khẩu...........................................................................37
2
2.1.3. Thị trường các nước xuất khẩu ....................................................40
2.1.4. Đánh giá thuận lợi, khó khăn với hoạt động xuất khẩu gỗ Việt
Nam sang Liên minh Kinh tế Á Âu qua các nhân tố tác động khi Hiệp định
FTA Việt Nam – Liên minh Kinh tế Á Âu có hiệu lực ....................................47
2.2. Cơ hội đối với hoạt động xuất khẩu của hàng gỗ Việt Nam sang
Liên minh kinh tế Á- Âu khi Hiệp định có hiệu lực .........................................54
2.2.1. Mở rộng thị trường xuất khẩu .......................................................54
2.2.2. Thị trường có sức tiêu thụ lớn và giá trị cao .................................55
2.2.3. Thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các ngành chế biến gỗ .......56
2.2.4. Xuất khẩu tại chỗ...........................................................................56
2.2.5. Thuận lợi nhập khẩu máy móc trang thiết bị từ Liên minh Kinh
tế Á Âu ................................................................................................................57
2.2.6. Kích thích các doanh nghiệp Việt Nam tăng cường năng lực cạnh
tranh ...................................................................................................................58
2.3. Thách thức đối với xuất khẩu gỗ Việt Nam sang Liên minh Kinh tế Á
Âu...........................................................................................................................59
2.3.1. Tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng sản phẩm..................................59
2.3.2. Khó khăn trong do rào cản địa lý .................................................60
2.3.3. Chưa chủ động được nguồn nguyên liệu .....................................61
2.3.4. Phương thức và đồng tiền thanh toán ..........................................62
2.3.5. Cơ chế phòng vệ đặc biệt và một số sản phẩm không cam kết ....63
2.3.6. Năng lực cạnh tranh trên thị trường .............................................64
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU GỖ
:Đồng Rúp Belarus
CIF
:Tiền hàng, bảo hiểm, cước phí
CTC
:Sự thay đổi phân loại mã số thuế hàng hóa ở HS 2, 4, 6 chữ số
EAEU
:Liên minh Kinh tế Á Âu
FTA
:Hiệp định Thương mại tự do
FOB
:Giao hàng qua lan can tàu
FSC
:Chứng chỉ rừng
GATT
:Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch
:Phương thức chuyển tiền bằng điện
TBT
:Hàng rào Kỹ thuật đối với Thương mại
USD
:Đô la Mỹ
VAC
:Hàm lượng giá trị gia tăng
VIETFORES
:Hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam
VN
:Việt Nam
VND
:Việt Nam đồng
WB
: Ngân hàng Thế giới
Biểu đồ 2.2. Kim ngạch nhập khẩu đồ gỗ từ Việt Nam của thị trường Liên
minh Kinh tế Á Âu………………………………………………………………...41
Biểu đồ 2.3. Kim ngạch xuất khẩu của một số nước tiêu biểu sang thị trường
Liên bang Nga giai đoạn 2011 – 2015 ………………………………………….....43
Biểu đồ 2.4. Tỷ trọng hàng nhập khẩu từ Việt Nam trong kim ngạch nhập khẩu
của Kazakhstan…………………………………………………………………….44
Biểu đồ 2.5. Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng gỗ của Kazakhstan giai đoạn
2011-2015……………………………………………………….…………………45
Biểu đồ 2.6. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Kyzgyzstan giai đoạn
2011-2015………………………………………………………………………….46
7
LỜI MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang ngày càng tham gia sâu rộng và mở rộng quan hệ hơn với thế
giới thông qua việc tham gia rất nhiều Hiệp định tự do thương mại đa phương, song
phương, trở thành thành viên của các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới. Kể từ
1995, sau khi gia nhập ASEAN, Việt Nam đã tăng cường thúc đẩy các hoạt động
thương mại, trở thành thành viên WTO, APEC. Đồng thời trong bối cảnh vòng đàm
phán Doha về Hiệp định tự do thương mại toàn cầu đã kết thúc mà chưa đạt được
kết quả như mong muốn do số lượng tham gia của các quốc gia quá lớn và tác động
của nhiều nhân tố khác. Tuy nhiên các quốc gia vẫn tìm cách đẩy mạnh hợp tác khu
vực hay tự do thương mại ở phạm vi hẹp hơn, Việt Nam cũng tìm cách ký kết tham
gia các điều khoản song phương hay cùng các nước ASEAN ký kết các Hiệp định
như: ASEAN – Nhật Bản ; ASEAN – Trung Quốc; Việt Nam – Nhật Bản; Việt
không cao do bị khống chế bởi cơ chế phòng vệ đặc biệt.
Do đó, cần có những nghiên cứu để đánh giá cơ hội và thách thức của Hiệp
định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Kinh tế Á Âu mang lại. Đặc biệt, với
vai trò là một người tham gia hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu gỗ, đứng trước
những cơ hội mới và trở ngại cho ngành gỗ Việt Nam khi Hiệp định VCUFTA
chính thức có hiệu lực là lý do tôi chọn đề tài: “Cơ hội và thách thức đối với hoạt
động xuất khẩu gỗ của Việt Nam sang Liên minh Kinh tế Á Âu trong bối cảnh thực
thi Hiệp định FTA giữa Việt nam và Liên minh Kinh tế Á Âu” để nghiên cứu.
2.
Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua có nhiều đề tài nghiên cứu về lĩnh vực xuất khẩu gỗ trong
bối cảnh hội nhập hay thực thi các Hiệp định như luận văn “Liên kết giữa các doanh
nghiệp xuất khẩu gỗ Việt Nam trước bối cảnh hội nhập” của tác giả Ngọc Thanh
Hường, Đại học Ngoại thương 2007 hay “Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm
gỗ của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản trong quá trình Việt Nam thực hiện cam
kết khi gia nhập WTO” của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hồng, Đại học Ngoại thương
2011. Cùng với đó cũng có những bài nghiên cứu, bình luận về tác động của Hiệp
định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Kinh tế Á Âu như “Xuất khẩu đợi cú
hích từ FTA Việt Nam – EAEU” trên Tạp chí Tài chính (10/2016). Tuy nhiên chưa
có một luận án nào nghiên cứu sâu sắc về tác động, cơ hội và thách thức mà ngành
gỗ Việt Nam sẽ đón đầu khi Hiệp định FTA Việt Nam – EAEU chính thức có hiệu
lực.
9
Như vậy có thể nói đề tài “Cơ hội và thách thức đối với hoạt động xuất khẩu
gỗ của Việt Nam sang Liên minh Kinh tế Á Âu trong bối cảnh thực thi Hiệp định
hướng các giải pháp phù hợp với thực tế để đẩy mạnh xuất khẩu gỗ sang khối Liên
minh.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ
nghĩa Mác- Lê nin, đề tài sử dụng các phương pháp khác nhau để nghiên cứu.
Phương pháp tổng hợp khi tìm kiếm, thu thập tài liệu, số liệu, thông tin từ sách
báo, giáo trình, Internet, các cổng thông tin chính thống,…
Phương pháp thống kê và phân tích: dựa vào số liệu, tài liệu Việt Nam và thế
giới để phân tích thực trạng quan hệ xuất khẩu trong ngành gỗ, từ đó tìm ra cơ hội
và phân tích thách thức với doanh nghiệp Việt Nam
Phương pháp so sánh: tiến hành đối chiếu, kết hợp lý luận và thực tiễn giữa
các mốc thời gian để nghiên cứu.
6. Bố cục của nghiên cứu
Ngoài lời mở đầu, kết luận đề tài được kết cấu thành 3 chương:
Chƣơng I: Những vấn đề cơ bản về Hiệp định Thƣơng mại tự do Việt
Nam – Liên minh kinh tế Á Âu và thị trƣờng đồ gỗ Liên minh kinh tế Á Âu
Chƣơng II: Cơ hội và thách thức của hoạt động xuất khẩu gỗ Việt Nam
sang Liên minh kinh tế Á Âu khi Hiệp định Thƣơng mại tự do Việt Nam – Liên
minh kinh tế Á Âu có hiệu lực
Chƣơng III: Một số giải pháp để đẩy mạnh xuất khẩu gỗ sang thị trƣờng
Liên minh kinh tế Á Âu trong thời gian tới
11
CHƢƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆP ĐỊNH THƢƠNG
MẠI TỰ DO VIỆT NAM – LIÊN MINH KINH TẾ Á ÂU VÀ THỊ TRƢỜNG
ĐỒ GỖ LIÊN MINH KINH TẾ Á ÂU
Thương mại ưu đãi (PTA), Khu vực thương mại tự do (FTA) , Liên minh Thuế
quan (C.U), Thị trường chung (CM) và Liên minh Kinh tế (EU). Hiệp định Thương
mại tự do FTA được coi là một Hiệp định thương mại tự do khu vực.
Khu vực Thương mại Tự do (FTA) cũng được GATT/WTO nhắc đến và coi
là một trong hai hình thực hội nhập kinh tế( cùng với Liên minh thuế quan C.U)
trong khái niệm thuật ngữ Hiệp định Thương mại Khu vực (Regional Trade
Agreement – RTA) để chỉ các thảo thuận tự do hóa thương mại giữa các thành viên
của GATT/WTO trên nguyên tắc có đi có lại trong phạm vi điều chỉnh của các điều
khoản như Điều khoản XXIV/GATT; Điều khoản V/GATS và Điều khoản Cho
phép (Enabling Clause 1979). Xét từ góc độ pháp lý thì Hiệp định Thương mại Tự
do (Free Trade Agreement/FTA) là dạng hiệp định quá làm cơ sở pháp lý cho việc
hình thành một Khu vực Thương mại Tự do (Free Trade Area) hoặc một Liên minh
Thuế quan (Customs Union) sau một khoảng thời gian nhất định. Về bản chất Hiệp
ước chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) tại điều XXIV điểm 8b ghi rõ: “Một
khu vực mậu dịch tự do được hiểu là một nhóm gồm hai hoặc nhiều các lãnh thổ
thuế quan. Trong đó, thuế và các quy định mang tính hạn chế về thương mại
(ngoại trừ, trong chừng mực cần thiết, các hạn chế được phép theo quy định của
các Điều XI, XII, XIII, XIV, XV and XX) sẽ bị dỡ bỏ đối với phần lớn các sản
phẩm có xuất xứ từ các lãnh thổ đó và được trao đổi thương mại giữa các lãnh thổ
lập thành khu vực mậu dịch tự do”.
Nghiên cứu của Shibata năm 1967 đưa ra định nghĩa về Khu vực Thương mại
Tự do (Free Trade Area) như sau:“Một Khu vực Thương mại Tự do (FTA) là một
nhóm nước với nhau, trong đó mỗi nước đồng ý miễn thuế quan và các hạn chế định
lượng thường áp dụng với các sản phẩm nhập khẩu hay bộ phận cấu thành các sản
phẩm này, có xuất xứ hoặc được sản xuất tại vùng lãnh thổ của các thành viên khác
trong nhóm nước hình thành nên FTA đó”. Định nghĩa của Shibata tiếp cận từ khía
cạnh xuất xứ hàng hóa, vốn là vấn đề lớn nhất đặt ra cho quá trình thực thi các
FTA/RTA nhằm tránh những hành vi gian lận thương mại cũng như giảm thiểu chi
phí giao dịch không đáng có đối với khu vực doanh nghiệp.
FTA mang tính Bắc – Nam (giữa các nước phát triển với nước đang phát triển) thì
ngày càng xuất hiện nhiều FTA Nam – Nam (giữa các nước đang phát triển với
nhau).
Tổng kết lại, Hiệp định thương mại tự do FTA là hiệp ước giữa hai hay nhiều
quốc gia với mục tiêu tự do hóa thương mại hàng hóa và dịch vụ, đầu tư giữa các
quốc gia khác nhau. Theo đó, bằng cách đẩy mạnh thương mại và đầu tư, Hiệp định
14
thương mại tự do sẽ thúc đẩy lợi ích kinh tế cho tất cả các quốc gia. Các hiệp định
thương mại tự do được thực hiện bằng cách gỡ bỏ các rào cản thương mại, như loại
trừ hoàn toàn hay phần lớn thuế, gỡ bỏ hạn ngạch hàng hóa xuất nhập khẩu. Nhiều
Hiệp định cũng gỡ bỏ các rào cản khác như quyền sở hữu trí tuệ, hạn chế trong cung
cấp các dịch vụ đầu tư nước ngoài, thủ tục hải quan.
1.1.2. Nội dung chính
Nội dung thảo luận Hiệp định tự do Thương mại thường tuân theo một khuôn
khổ chung, giải quyết các vấn đề khác biệt để cắt giảm hoặc loại bỏ hoàn toàn thuế
quan nhằm tự do hóa thương mại và dịch vụ, tạo cạnh tranh công bằng thúc đẩy tự
do hóa và phát triển kinh tế của các quốc gia.
Với các FTA thế hệ cũ, các quốc gia mới thảo luận trong việc cắt giảm các
dòng thuế quan tới một mức hạn chế với các loại hàng hóa. Ngày nay, phạm vi thảo
luận trong Hiệp định tự do hóa thương mại đã trở nên khá rộng và bao quát, không
chỉ thiết lập tự do hóa trên lĩnh vực hàng hóa, mà còn bao gồm các lĩnh vực như
dịch vụ, đầu tư. Các nhà kinh tế cũng cho thấy các Hiệp định Thương mại tự do sẽ
tối đa hóa ích lợi quốc gia bằng các vấn đề ngoài thương mại như bảo vệ quyền sở
hữu trí tuệ, khuyến khích cạnh tranh, mua sắm chính phủ từ những nhà cung cấp
của các nước đối tác, thuế quan, dịch vụ, đầu tư, mua sắm chính phủ và quy tắc xuất
xứ, thiết lập nhiều dạng hợp tác khác nhau giữa các quốc gia. Theo đó, các FTA đã
thực sự trở thành những Hiệp định khá cồng kềnh với sự liên quan của nhiều Bộ,
ngành liên quan.
người sử dụng: Đây là một trong những tiêu chuẩn hết sức quan trọng, bao gồm
những quy định, tiêu chuẩn về an tòan chung (quy định về nhãn mác, đóng gói, ký
hiệu mã sản phẩm..). Nhiều quốc gia cũng yêu cầu tiêu chuẩn về lao động và trách
nhiệm xã hội. Bộ tiêu chuẩn đang được sử dụng hiện nay là bộ SA8000, là công cụ
quản lý, giúp các công ty, tổ chức chứng nhận đánh giá điều kiện sản xuất và làm
việc. Để đánh giá về bảo vệ môi trường trong sản xuất sản phẩm cũng có các quy
định như hệ thống ISO 14001:2000.
• Các biện pháp vệ sinh dịch tễ : Vì trong quá trình sản xuất khác có thể dẫn
đến sản phẩm kém an toàn nên xuất hiện các biện pháp hạn chế thương mại ít nhất
nên được sử dụng để đạt được mức mong muốn bảo vệ sức khoẻ cho người tiêu
dung. Đồng thời sẽ có những quy định nhằm hạn chế sự lây lan dịch bệnh khi giao
thương hàng hóa giữa các quốc gia.
• Mua sắm chính phủ: Ban đầu điều luật này không xuất hiện trong các Hiệp
định về thương mại tư do. Tuy nhiên, sau đó các quốc gia nhận thấy tầm quan trọng
16
của Mua sắm công, mà thông thường có thể chiếm tới 20% ở các nước đang phát
triển, đóng một vai trò quan trọng trong việc minh bạch, tự do hóa thương mại, dịch
vụ. Do vậy, Mua sắm công đã được đưa vào đàm phán trong nhiều Hiệp định gần
đây, thường là yêu cầu các nước đối tác phải được trúng thầu tới ít nhất là một hạn
mức nào đó, và có các điều luật nhằm đảm bảo công bằng, minh bạch, tránh và làm
giảm các trường hợp sử dụng các công ty là sân sau của quan chức chính phủ hay
tham nhũng.
Ngoài ra còn có thể đề cập đến các vấn đề như: Thương mại điện tử; Thương
mại dịch vụ; Thương mại trong các dịch vụ tài chính; Thương mại trong dịch vụ
viễn thông; Đầu tư; Di chuyển thể nhân; Quyền sở hữu trí tuệ; Chính sách cạnh
tranh; Tham vấn và giải quyết tranh chấp.
1.1.3. Phân loại
FTA có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau hình thức đàm
và đầu tư xuyên Đại Tây Dương (TTIP), Hiệp hội mậu dịch tự do Châu Âu,
Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) , Khu vực mậu dịch tự do ASEAN.
Loại hình FTA này còn được biết đến với tên gọi khác là FTA khu vực do đặc
trưng phổ biến là các quốc gia hoặc vùng lãnh thổ thường có vị trí địa lý gần nhau.
Tuy nhiên ngày nay, với quy mô toàn cầu hóa đang diễn ra với tốc độ nhanh, các
FTA được thỏa thuận và ký kết cũng mở rộng ranh giới qua các khu vực lãnh thổ.
Điểm đặc trưng khác của loại hình FTA này là số lượng các quốc gia tham gia ký
kết khá đông nên thường diễn ra nhiều đàm phán, tiêu tốn nhiều công sức, thời gian
thống nhất để đi đến kí kết cũng lâu hơn nhiều so với FTA song phương. Tuy nhiên,
FTA đa phương có sức hút lớn với nhiều nước tham gia vì thị trường mậu dịch to
lớn, thắt chặt tình đoàn kết với các quốc gia. Đồng thời với nhiều quốc gia, đây là
ván cờ giúp nâng cao vị thế, có tiếng nói hơn trên trường quốc tế.
1.1.3.3.
FTA hỗn hợp
FTA hỗn hợp như tên gọi là hình thức kết hợp giữa FTA song phương với
FTA đa phương. Nó giống với một FTA song phương ở chỗ số bên tham gia hiệp
định chỉ là hai bên: một bên là một khu vực mậu dịch tự do với một bên là
một hoặc một số quốc gia đối tác. Nhưng nó cũng giống như một FTA đa
phương ở chỗ phạm vi tác dụng cũng là nhiều quốc gia. FTA hỗn hợp tuy còn có
nhiều phức tạp trong quá trình đàm phán nhưng loại hình FTA này vẫn đang
tăng nhanh về số lượng trong những năm gần đây bởi những ưu thế của nó so
với các FTA song phươ ng và FTA đa phương. Với FTA hỗn hợp, thị trường các
quốc gia tiếp cận sẽ đa dạng, phong phú và tiềm năng hơn cho các thành viên. Việc
kí kết các FTA hỗn hợp cũng được tổ chức đàm phán phù hợp với các nước và khối
kinh tế tham gia.
Phương thức thứ nhất rất phổ biến với khu vực Liên minh Châu Âu EU khi kí
kết FTA với một quốc gia khác. Đó là tất cả các thành viên của khu vực mậu dịch tự
do sẽ cùng kết hợp đàm phán với quốc gia đối tác để đi tới thống nhất. Hiệp định
của các nước thành viên FTA do việc điều chỉnh cơ cấu sản xuất, cắt giảm các
ngành ít hiệu quả, sử dụng nhiều tài nguyên sang tăng cường xây dựng đầu tư vào
các ngành công nghiệp có lợi thế. Không chỉ thế, tác động tạo thương mại sẽ giúp
người tiêu dùng thu được nhiều lợi ích vì được mua hàng hoá với giá thấp hơn.
Tuy nhiên, tác động tạo thương mại đối với chính phủ và các doanh nghiệp
sản xuất nội địa không có cùng kết quả như vậy. Ngân sách chính phủ sẽ giảm sút
do mất đi một phần từ nguồn thu thuế nhập khẩu. Tham gia ký kết FTA có nghĩa
là phải cắt giảm thuế quan, do đó các nước sẽ mất đi một nguồn thu thuế quan
trọng, có thể gây ra thâm hụt ngân sách và với nhiêu nước thậm chí ảnh hưởng cản
trở tới việc thực thi các chính sách phát triển xã hội.
19
Các doanh nghiệp trong nước sẽ chịu sức ép lớn do quá trình giao thương mở
rộng FTA, người tiêu dùng sẽ sử dụng hàng nhập khẩu có chi phí thấp hơn từ các
nước đối tác. Đồng thời quy tắc của các FTA không cho phép các chính phủ hỗ trợ
tài chính cho các tổ chức và cá nhân kinh doanh trong nước dưới bất kỳ một hình
thức trợ cấp, ưu đãi nào nên điều này gây khó khăn đặc biệt cho các nước đang
phát triển khi thiếu tiền vốn đầu tư, công nghệ lạc hậu và chậm đổi mới.
Tuy nhiên nhìn chung, theo quan điểm của Anne O.Krueger (1999), tác động
chuyển hướng thương mại, phúc lợi ròng của xã hội vẫn lớn hơn so với thiệt hại tại
các nước tham gia FTA.
Tác động chuyển hướng thương mại
Là các doanh nghiệp sẽ chuyển hướng tập trung kinh doanh sản xuất các mặt
hàng được nước ngoài nhập khẩu nhiều. Điều đó cũng có nghĩa sự chuyên môn hóa
vào lợi thế cạnh tranh sẽ nhiều hơn.
thức nào cũng có thể gia tăng làn sóng đầu tư vốn cũng như công nghệ từ trong và
ngoài nước. Sự phát triển của các doanh nghieepj nội địa trước các cơ hội thị trường
mở rộng sẽ đòi hỏi tốc độ đổi mới công nghệ ngày càng cao, cần những khoản đầu
tư không nhỏ. Ngoài yếu tố chủ quan đó thì việc tham gia FTA cũng sẽ là cơ hội thu
hút vốn đầu tư từ các thành viên của FTA nói riêng và các nhà đầu tư ngoài FTA
nói chung, lẽ đương nhiên khi các nước thiết lập FTA quy mô thị trường khu vực sẽ
lớn hơn, tạo điều kiện thu hút các nhà đầu tư tìm kiếm cơ hội đầu tư vào các ngành
công nghiệp có tiềm năng.
1.2.
Giới thiệu nội dung cơ bản của Hiệp định thƣơng mại tự do Việt Nam –
Liên minh kinh tế Á- Âu
1.2.1. Mục tiêu Hiệp định Liên minh Kinh tế Á Âu
Việt Nam vốn có quan hệ buôn bán, là bạn hàng lâu năm với Liên Bang Nga.
Do đó ban đầu mục tiêu của Hiệp định là đẩy mạnh mối quan hệ giao thương, hỗ trợ
phát triển đi lên với khối Liên minh Hải quan là Nga – Belarus –Kazakhstan mà tập
trung chủ yếu vào Liên bang Nga. Hiệp định được chính thức khởi động vòng đàm
phán từ 28/3/2013 nhưng đã được nghiên cứu từ năm 2009. Hiệp định có ý nghĩa
chiến lược mở ra trang mới trong quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Liên minh nói
chung và với từng nước thành viên nói riêng. Các bên đã ký kết Hiệp định với phạm
vi toàn diện, mức độ cam kết cao và đảm bảo cân bằng lợi ích, có tính đến điều kiện
cụ thể của từng bên. Tổng cộng có 8 phiên đàm phán chính thức và nhiều phiên họp
giữa kỳ ở cấp kỹ thuật.
Lấy mở rộng cơ hội thị trường cho hàng Việt Nam xuất khẩu sang các nước
thành viên Liên minh, từ đó có thể thâm nhập sang các nước thuộc Liên Xô cũ là
mục tiêu lớn nhất của đàm phán, Việt Nam đã cắt giảm được hầu hết các dòng thuế
cho mặt hàng lợi thế như thủy sản, da giày,... Tiếp đến là mục tiêu thu hút đầu tư
21
a) Cam kết của Liên minh Kinh tế Á Âu
Cam kết mở cửa của Liên minh Kinh tế Á Âu cho Việt Nam có thể chia làm 5
nhóm : Nhóm loại bỏ thuế quan ngay sau khi hiệp định có hiệu lực chiếm tỷ lệ lớn
nhất, khoảng 59% biểu thuế; nhóm loại bỏ thuế quan theo lộ trình cắt giảm từng
năm và sẽ loại bỏ thuế quan ở năm cuối của lộ trình (muộn nhất là đến 2025); nhóm
22
không cam kết tức là EAEU không bị ràng buộc phải loại bỏ hay giảm thuế quan,
nhưng có thể đơn phương loại bỏ/giảm thuế nếu muốn; nhóm áp dụng biện pháp
Phòng vệ ngưỡng và nhóm giảm ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực 25% so với
thuế hiện tại và sau đó giữ nguyên chiếm tỉ lệ ít nhất 1% biểu thuế.
b) Cam kết của Việt Nam
Về phía Việt Nam, nhà nước đồng ý mở cửa cho các loại mặt hàng chia làm 4
nhóm chính: Nhóm loại bỏ thuế quan ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực (EIF):
chiếm khoảng 53% biểu thuế; nhóm loại bỏ thuế quan theo lộ trình cắt giảm từng
năm và sẽ loại bỏ thuế quan ở năm cuối của lộ trình (muộn nhất là đến 2026); nhóm
không cam kết (U) chiếm tới 11% tổng số dòng thuế trong biểu thuế và nhóm cam
kết khác (Q) bao gồm các sản phẩm áp dụng Hạn ngạch thuế quan.
Các cam kết về xuất xứ
1.2.2.2.
a) Quy tắc xuất xứ
Để được hưởng ưu đãi thuế quan theo Hiệp định này, hàng hóa phải đáp ứng
được các quy tắc xuất xứ của Hiệp định. Cụ thể, hàng hóa sẽ được coi là có xuất xứ
tại một bên (Việt Nam hoặc Liên minh) nếu:
- Có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại một Bên.
- Được sản xuất toàn bộ tại một hay hai bên, từ những nguyên vật liệu có xuất
xứ từ một hay hai bên.
tại đó, không trải qua các công khoản nào khác ngoài việc dỡ hàng, bốc lại hàng,
lưu kho hoặc các công khoản cần thiết khác để bảo quản điều kiện của hàng hóa.
c) Mua bán trực tiếp
Hiệp định cho phép hàng hóa được xuất hóa đơn bởi một Bên thứ 3 (pháp
nhân có đăng ký tại một nước thứ 3 không phải thành viên của Hiệp định), nếu đáp
ứng đầy đủ các yêu cầu về quy tắc xuất xứ thì vẫn được hưởng ưu đãi thuế quan, trừ
trường hợp nước thứ 3 đó thuộc Danh sách 30 quốc đảo được nêu rõ ở trong Hiệp
định. Danh sách này có thể được các Bên sửa đổi và thống nhất bằng các Nghị định
thư sau này.
d) Chứng nhận xuất xứ
Về thủ tục cấp chứng nhận xuất xứ ưu đãi (C/O), trong khi một số FTA thế hệ
mới đang được đàm phán như FTA Việt Nam – EU hướng tới việc áp dụng cơ chế
doanh nghiệp tự chứng nhận xuất xứ, thì Hiệp định VN - EAEU FTA vẫn áp dụng
quy trình cấp chứng nhận xuất xứ thông qua một cơ quan có thẩm quyền do nhà
nước quy định như trong các FTA ký trước đây mà Việt Nam đang thực hiện.
24
Theo Hiệp định này, Việt Nam và Liên minh đã cam kết sẽ nỗ lực để áp dụng
Hệ thống xác minh và chứng nhận xuất xứ điện tử (EOCVS) trong vòng tối đa 2
năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu mạng ghi lại
thông tin của tất cả Giấy chứng nhận xuất xứ được cấp bởi cơ quan được ủy quyền,
và cơ quan hải quan nước nhập khẩu có thể truy cập và kiểm tra tính hiệu lực và nội
dung của bất kỳ Giấy chứng nhận xuất xứ đã được cấp nào.
e) Tạm ngừng khi có ưu đãi
Khi có tình trạng gian lận xuất xứ có tính hệ thống, hoặc Bên xuất khẩu từ
chối không chính đáng và có hệ thống việc xác minh (bằng văn bản hoặc thực tế)
của Bên nhập khẩu về tình trạng gian lận, giấy chứng nhận xuất khẩu thì Bên nhập
khẩu có thể tạm ngừng ưu đãi thuế quan đối với hàng hóa và nhà xuất khẩu có liên