Tìm hiểu công tác phát triển vốn tài liệu tại Thư viện Tạ Quang Bửu -Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội - Pdf 41

Khóa luận tốt nghiệp

K53 – TT-TV
LỜI MỞ ĐẦU

1- Lý do chọn đề tài
Ngày nay cả nhân loại đang bước vào kỷ nguyên của thông tin và tri
thức, trong đó thông tin đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống
của con người. Thông tin tạo nên nguồn lực chi phối mọi sự phát triển của xã
hội, tiêu biểu là lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Hoạt động thông tin – thư viện
ngày nay càng trở thành nhân tố quan trọng góp phần quyết định chất lượng
đào tạo của các trường đại học, trong đó có Trường Đại học Bách Khoa Hà
Nội (ĐHBK HN).
Trường ĐHBK HN là một trong những trường đại học lớn, có đội ngũ
cán bộ hùng hậu, với bề dày truyền thống hơn 50 năm xây dựng, phát triển và
trưởng thành. Nhà trường đã có những đóng góp đáng kể trong công cuộc xây
dựng và bảo vệ tổ quốc, đặc biệt trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước hiện nay. Trường là một trong những trung tâm lớn đào tạo cán
bộ khoa học kỹ thuật cho đất nước, có mối quan hệ hợp tác song phương, đa
dạng với nhiều trường đại học, nhiều nước trong khu vực và thế giới. Là một
trường khoa học công nghệ đa ngành, người dùng tin ở trường Đại học Bách
Khoa Hà Nội rất phong phú, đa dạng. Hoạt động giảng dạy, học tập, nghiên
cứu và triển khai ứng dụng khoa học đòi hỏi phải sử dụng lượng thông tin lớn
và biến đổi không ngừng. Vì vậy, Thư viện Tạ Quang Bửu (TV TQB) –
Trường ĐHBK HN cần phải cung cấp nguồn tài liệu đầy đủ, cập nhật, nhanh
chóng và phù hợp cho cán bộ, giảng viên, sinh viên và học viên trong trường.
Xây dựng và phát triển nguồn lực thông tin phù hợp với nhu cầu của người
dùng tin là một nhiệm vụ quan trọng và cấp bách, công tác phát triển vốn tài
liệu tại thư viện cần phải được chú trọng quan tâm. Nhưng làm thế nào để tổ
chức khai thác, phát triển nguồn lực thông tin hiện có cũng như sử dụng được
nguồn lực thông tin từ bên ngoài để đáp ứng được nhu cầu sử dụng thông tin

- Đưa ra các giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác phát
triển vốn tài liệu tại Thư viện Tạ Quang Bửu.
3 - Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu và giải quyết tốt các nhiệm vụ đã đặt
ra trong đề tài khóa luận, đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định và
giới hạn như sau:

• Đối tượng nghiên cứu: Vốn tài liệu và công tác phát triển vốn tài liệu
tại Thư viện Tạ Quang Bửu - Đại học Bách Khoa Hà Nội.

SV: Đỗ Thị Hoàn ( 02/03/1990 )

2


Khóa luận tốt nghiệp



K53 – TT-TV

Phạm vi nghiên cứu: Công tác phát triển vốn tài liệu tại Thư viện Tạ
Quang Bửu trong giai đoạn hiện nay.

4 - Tình hình nghiên cứu theo hướng đề tài
- Nghiên cứu về Thư viện Tạ Quang Bửu đã có một số đề tài và tập
trung vào một số vấn đề như: Công tác xử lý tài liệu tại Thư viện Tạ Quang
Bửu – Đại học Bách Khoa Hà Nội, Tìm hiểu sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện của Thư viện Tạ Quang Bửu…
- Về công tác phát triển vốn tài liệu thì đã có một số đề tài đề cập đến.
Tuy nhiên, xét về mức độ thời gian, hiện tại công tác phát triển vốn tài liệu


vốn tài liệu của thư viện Tạ Quang Bửu. Từ đó thấy được những mặt đạt được
và những mặt còn hạn chế trong công tác phát triển vốn tài liệu để từ đó đưa

SV: Đỗ Thị Hoàn ( 02/03/1990 )

3


Khóa luận tốt nghiệp

K53 – TT-TV

ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác phát triển vốn tài liệu tại Thư
viện.
7 - Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về Thư viện Tạ Quang Bửu – Đại học Bách Khoa
Hà Nội.
Chương 2: Thực trạng công tác phát triển vốn tài liệu tại Thư viện
Tạ Quang Bửu – Đại học Bách Khoa Hà Nội.
Chương 3: Một số nhận xét và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công
tác phát triển vốn tài liệu tại Thư viện Tạ Quang Bửu – Đại học Bách Khoa
Hà Nội.

SV: Đỗ Thị Hoàn ( 02/03/1990 )

4


Kỹ thuật Quân sự). Thư viện Trường cũng chia sẻ nhiều tài liệu và đã cử cán
bộ sang làm việc công tác tại Thư viện ở trường Đại học Mỏ - Địa chất và
trường Đại học Xây dựng.
SV: Đỗ Thị Hoàn ( 02/03/1990 )

5


Khóa luận tốt nghiệp

K53 – TT-TV

Từ năm 1973, Thư viện tách ra thành đơn vị độc lập. Ban Thư viện đã
liên tục được đầu tư và phát triển không ngừng. Khi miền Nam được giải
phóng, một số cán bộ Thư viện đã vào công tác tại miền Trung và miền Nam
để xây dựng Thư viện trong đó.
Tháng 11/2003, “Thư viện” và “Trung tâm thông tin và mạng” đã sáp
nhập thành đơn vị mới là “Thư viện và Mạng thông tin” với hai nhiệm vụ
chính: vận hành và khai thác Thư viện điện tử mới và quản lý điều hành
Mạng thông tin của Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội.
Từ năm học 2006 - 2007, Thư viện điện tử Trường Đại học Bách Khoa
Hà Nội mở cửa phục vụ bạn đọc với hệ thống các phòng đọc tự chọn, cùng
2000 chỗ ngồi và tăng cường khả năng truy cập vào các học liệu điện tử trực
tuyến.
Đầu tháng 9/2008, theo sự chỉ đạo của Ban Giám hiệu để phù hợp với
tình hình mới, Bộ phận Thư viện tách ra và trở thành đơn vị Thư viện Tạ
Quang Bửu độc lập, bước vào một giai đoạn phát triển mới cùng với sự phát
triển mạnh mẽ của trường ĐHBK HN.
Địa chỉ: Thư viện Tạ Quang Bửu – Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Số 1, Đại Cồ Việt, Hai Bà Trưng, Hà Nội.

chương trình và định hướng mà Nhà trường đang nghiên cứu và giảng dạy.


Nghiên cứu và ứng dụng các thành tự khoa học công nghệ, các

tiêu chuẩn quốc tế về xử lý thông tin vào công tác xử lý tài liệu, tạo tiền đề
cho việc phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin.


Tích cực phát triển và mở rộng các sản phẩm và dịch vụ thông

tin, lấy việc đáp ứng tốt nhất nhu cầu tin của cán bộ, giảng viên và sinh viên
trong toàn Trường làm mục tiêu và động lực để phát triển.


Từng bước nâng cấp hiện đại hóa Thư viện, đẩy mạnh việc ứng

dụng Công nghệ thông tin vào hoạt động của Thư viện. Tự động hóa các khâu
công việc trong hoạt động của Thư viện.


Mở rộng quan hệ với các thư viện trong và ngoài nước, các tổ

chức liên quan đến lĩnh vực thư viện nhằm tăng cường sự trao đổi và hợp tác.
Tiến tới thư viện phải trở thành đầu mối khai thác, cung cấp, chia sẻ thông tin
với các thư viện khác trong khu vực và trên thế giới.
1.3. Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức của Thư viện hiện tại được bố trí theo chức năng và
nhiệm vụ của từng bộ phận.


Phòng Dịch vụ thông tin tư liệu chịu trách nhiệm: Mở rộng và phát
triển các loại hình dịch vụ thư viện, đặc biệt là các dịch vụ cung cấp và hỗ trợ
thông tin từ xa; tạo điều kiện tốt nhất để người dùng tin của Thư viện cũng
như các thư viện và cơ quan thông tin khác trong cả nước có thể tiếp cận và
khai thác nguồn lực thông tin của Thư viện một cách có hiệu quả nhất.
 Phòng Công nghệ Thư viện Điện tử:
Phòng Công nghệ thư viện điện tử gồm 11 cán bộ, gồm 4 bộ phận sau:
Bộ phận nghiên cứu phát triển, Bộ phận kỹ thuật, Bộ phận phục vụ đa phương
tiện, Bộ phận xây dựng dự án, hành chính tổng hợp.
Phòng Công nghệ Thư viện Điện tử chịu trách nhiệm chính:
+ Xây dựng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin hiện đại, ứng dụng các
công nghệ thư viện điện tử, thư viện số, đảm bảo khả năng truy cập, chia sẻ,
trao đổi dữ liệu, trong và giữa các thư viện, cơ quan thông tin cũng như với
người dùng tin.
+ Xây dựng các hệ thống thông tin số đạt chuẩn, chất lượng cao đáp
ứng được nhu cầu khai thác các nguồn thông tin số của người dùng tin và các
cơ quan thông tin – thư viện .
SV: Đỗ Thị Hoàn ( 02/03/1990 )

8


Khóa luận tốt nghiệp

K53 – TT-TV

Hình 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Thư viện Tạ Quang Bửu
1.4. Đội ngũ cán bộ
Thư viện Tạ Quang Bửu hiện nay có 44 cán bộ, trong đó:
+ 09 Thạc sỹ về Thông tin thư viện và Công nghệ thông tin (chiếm 20,4%)

Thư viện đã trang bị 150 máy vi tính với 30 máy tính nối mạng LAN,
150 máy tính được nối mạng Internet. Thư viện sử dụng hệ thống mạng Bknet
với công nghệ hãng Nortl. Máy chủ phần mềm thư viện và máy chủ cơ sở dữ
liệu của thư viện do hãng Sun Micro system cung cấp hệ quản trị cơ sở dữ
liệu: Oracle, máy chủ khác, sử dụng phần mềm HP.
SV: Đỗ Thị Hoàn ( 02/03/1990 )

10


Khóa luận tốt nghiệp

K53 – TT-TV

Thư viện còn có 10 máy in, 5 máy photocoppy, 3 máy scanner, 2 cổng
từ và một cổng RFID và một hệ thống gồm 10 phòng đọc và kho mở với mỗi
phòng được trang bị:
+ 70 đến 150 Ghế ngồi cho bạn đọc.
+ 320 đến 550 khoang giá đựng tài liệu.
+ Mỗi phòng đọc có từ 1 đến 2 máy tính để bạn đọc tra cứu tài liệu.
+ Mỗi cán bộ thư viện có một máy tính để làm chuyên môn, nghiệp vụ và
hướng dẫn cho bạn đọc sử dụng thư viện.
1.6.

Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin.
1.6.1. Đặc điểm người dùng tin
Căn cứ vào số lượng NDT thực tế sử dụng thư viện và tính chất công

việc, có thể chia đối tượng NDT tại Thư viện Tạ Quang Bửu trường ĐHBK
HN thành ba nhóm chính sau:

SV: Đỗ Thị Hoàn ( 02/03/1990 )

11


Khóa luận tốt nghiệp

K53 – TT-TV

ra những nguồn thông tin khoa học có giá trị cao cho Thư viện. Họ là những
người quản lý, cần những thông tin chuyên sâu về các lĩnh vực khoa học kĩ
thuật. Những thông tin cung cấp cho họ cần chính xác, kịp thời, mang tính
chất chuyên sâu thuộc nhiều lĩnh vực, đặc biệt về khoa học công nghệ để phục
vụ tốt cho quá trình lãnh đạo quản lý cũng như ra quyết định của mình. Hình
thức phục vụ là các tổng quan, tổng luận, bản tin chọn lọc…
Ngoài ra, họ còn là những giảng viên – những người chuyển giao tri thức
khoa học đến cho sinh viên, tham gia trực tiếp vào quá trình đào tạo của
trường, vừa là chủ thể thông tin vừa là NDT thường xuyên của thư viện. Vì
tham gia giảng dạy nên họ thường xuyên cập nhật những kiến thức mới, công
nghệ mới chuyên sâu liên quan trực tiếp tới lĩnh vực mà họ giảng dạy, nghiên
cứu. Nhóm người dùng tin này luôn dành thời gian trong việc tìm tài liệu
tham khảo tại Thư viện. Thông tin cho nhóm này là những thông tin chuyên
sâu có tính thời sự về KHCN thuộc các lĩnh vực đào tạo của trường. Hình
thức phục vụ thông tin cho nhóm này là các danh mục tài liệu chuyên ngành
mới hoặc sắp xuất bản, các thông tin thư mục chuyên đề, thông tin chọn lọc
về khoa học và công nghệ, tài liệu chuyên ngành là sách cũng như tạp chí
KHKT nước ngoài, các CSDL và các tài liệu điện tử...


Nhóm sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh:

nhóm NDT khá đặc biệt của Thư viện, số lượng ít. Nhưng họ đều là những
người quan tâm và muốn tìm hiều về các lĩnh vực khoa học kĩ thuật.
Có thể nói mỗi nhóm NDT lại có những đặc điểm khác nhau. Việc
phân chia NDT thành các nhóm nhỏ, thuận tiện cho việc quản lý bạn đọc cũng
như việc bổ sung tài liệu cho Thư viện sát thực hơn với nhu cầu thông tin của
từng nhóm người. Thư viện cũng có kế hoạch bổ sung tài liệu phù hợp với
từng nhóm NDT, sao cho đáp ứng tối đa nhu cầu thông tin của bạn đọc. Đồng
thời, nâng cao hiệu quả phục vụ của Thư viện.

CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN VỐN TÀI LIỆU TẠI
THƯ VIỆN TẠ QUANG BỬU – ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
SV: Đỗ Thị Hoàn ( 02/03/1990 )

13


Khóa luận tốt nghiệp

K53 – TT-TV

2.1. Loại hình tài liệu tại Thư viện
Nguồn lực thông tin trong hoạt động thư viện chính là cơ sở cho việc đáp
ứng nhu cầu thông tin của NDT. Thông tin là động lực góp phần thúc đẩy các
hoạt động kinh tế và sản xuất, đóng vai trò hàng đầu trong giáo dục và đào
tạo, NCKH và là cơ sở để các cấp lãnh đạo, quản lý đưa ra quyết định. Nhờ có
nguồn lực thông tin mà các thư viện, các cơ quan thông tin thực hiện tốt chức
năng và nhiệm vụ của mình. Nguồn lực thông tin càng phong phú và đa dạng,
càng có khả năng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dùng. Căn cứ theo loại
hình vật mang tin thì nguồn lực thông tin của thư viện Trường ĐHBK HN

2

Sách tham khảo

3
4

K53 – TT-TV
4.100

257.000

42%

128.570

155.460

25 %

Sách tra cứu

6.850

7.000

1%

Tài liệu nội sinh (luận án, luận


cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản, có hệ thống về các môn học theo
chương trình đào tạo của trường, giúp họ có được nền tảng vững chắc trước
khi đi vào nghiên cứu chuyên sâu. Đây là nguồn tài liệu có giá trị, được bạn
đọc đặc biệt là sinh viên khai thác và sử dụng với cường độ lớn.
Qua bảng thống kê trên đã cho thấy giáo trình chiếm một tỷ lệ rất lớn
trong tổng số tài liệu có trong thư viện (42%). Hiện nay, sách giáo trình có
khoảng 257.000 cuốn sách giáo trình với 4.100 tên. Sách giáo trình tại thư
viện chủ yếu do các Giáo sư, Tiến sỹ, các cán bộ giảng dạy tại các khoa trong
trường biên soạn, thuộc nhiều chuyên ngành đào tạo khác nhau của trường
như: Điện tử viễn thông, Điện, Công nghệ thông tin, Vật lý, Hóa học, Công
nghệ thực phẩm, Dệt may… Có nhiều giáo trình của trường ĐHBK HN trở
thành giáo trình học tập của nhiều trường kĩ thuật trong cả nước như: Toán
cao cấp, Cơ học, Chi tiết máy, Kĩ thuật điện tử… Ngoài ra còn có rất nhiều
loại giáo trình nhận lưu chiểu của các trường đại học trong cả nước. Đây

SV: Đỗ Thị Hoàn ( 02/03/1990 )

15


Khóa luận tốt nghiệp

K53 – TT-TV

chính là nguồn thông tin sẵn có của nhà trường, giúp NDT có điều kiện tham
khảo các tài liệu về ngành của mình đang được giảng dạy tại các trường khác.
Số lượng giáo trình của các khoa có trong Thư viện không đồng đều,
phụ thuộc vào lịch sử phát triển cũng như quy mô đào tạo của từng ngành.
Bên cạnh đó, trong kho mượn hiện nay vẫn còn nhiều tài liệu giáo trình cũ,
những tài liệu in bản Rônêô do các giáo viên trong trường viết từ rất lâu


Khóa luận tốt nghiệp

K53 – TT-TV

năm 1990 trở lại đây, tài liệu tiếng Nga được bổ sung ít dần vì chỉ có một
phần nhỏ các cán bộ và giảng viên được đào tạo ở bên Nga về sử dụng.
Chúng ta biết rằng nền khoa học công nghệ ở Việt Nam phát triển chậm
so với tốc độ phát triển nhanh chóng của nền khoa học công nghệ thế giới.
Các nhà khoa học cho rằng các tài liệu khoa học công nghệ của Việt Nam lạc
hậu hơn khoảng 50 năm so với các tài liệu khoa học trên thế giới. Nhất là
trong thời điểm các tài liệu khoa học kĩ thuật đang phát triển với tốc độ chóng
mặt như hiện nay thì việc cập nhật thường xuyên những thông tin tư liệu về
khoa học công nghệ mới là rất cần thiết. Là một thư viện chuyên ngành khoa
học công nghệ, Thư viện không chỉ quan tâm bổ sung các sách khoa học kĩ
thuật trong nước mà còn hợp tác, trao đổi với các tổ chức, thư viện các trường
đại học lớn trên thế giới nhằm tranh thủ sự giúp đỡ đáng kể cho việc tăng
cường nguồn lực khoa học kĩ thuật. Trong những năm gần đây, TV TQB đã
tận dụng và khai thác triệt để nguồn kinh phí được cấp để bổ sung tài liệu
ngoại văn mà chủ yếu là tài liệu bằng tiếng Anh để đáp ứng yêu cầu của bạn
đọc đồng thời đáp ứng kịp thời công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất
nước. Một số ngành mũi nhọn được Thư viện chú trọng bổ sung sách tham
khảo nước ngoài, đặc biệt là tiếng Anh: Tin học, Công nghệ thông tin, Điện tử
viễn thông, Công nghệ môi trường,... đáp ứng nhu cầu tham khảo sách nước
ngoài của NDT trong trường.
 Sách tra cứu: Tài liệu tra cứu trong Thư viện hiện nay có khoảng 7.000
cuốn sách tra cứu với 6.850 tên chiếm 1% tổng số tài liệu có trong Thư viện,
bao gồm : Bách khoa toàn thư, Cẩm nang, Sổ tay tra cứu và Từ điển các ngôn
ngữ khác nhau. Một số bộ Bách khoa toàn thư quí hiếm mà Thư viện có như:
Encyclopedia of Sciences and Technology, Macmillan Encyclopedia of

Luận văn, luận án là những tài liệu rất hữu ích cho NDT tham khảo để
thực hiện công trình nghiên cứu khoa học hoặc để định hướng, triển khai khóa
luận tốt nghiệp. Không thể thực hiện một đề tài nghiên cứu hay một đề tài tốt
nghiệp mà không tham khảo một công trình nào của người đi trước. Những
luận văn, luận án đang được lưu trữ và phục vụ tại trường đều có nội dung
liên quan đến các chuyên ngành đào tạo của nhà trường nên mức độ phù hợp
nội dung là rất lớn. NDT khó có thể tìm thấy và khai thác những luận văn,
luận án thuộc các chuyên ngành này tại một nơi nào khác ngoài trường.
Nguồn thông tin trong loại tài liệu này có giá trị cao, được cập nhật thường
xuyên những thông tin mới. Vốn tài liệu này được lưu chiểu hàng năm và chỉ
được lưu hành nội bộ trong trường. Là nguồn thông tin quí giá đối với NDT,

SV: Đỗ Thị Hoàn ( 02/03/1990 )

18


Khóa luận tốt nghiệp

K53 – TT-TV

đặc biệt với sinh viên, luận án, luận văn là loại hình tài liệu không thể thiếu
được trong vốn tài liệu của bất kì trường đại học nào.
Hiện tại số luận án, luận văn Thư viện đang lưu giữ là: 5.200 đầu luận
án, luận văn, chuyên đề, đề tài NCKH…chiếm 1.1% tổng số tài liệu có trong
Thư viện. Từ năm 1991 đến nay, nhà trường đào tạo đối tượng cao học và
hàng năm Trung tâm bồi dưỡng sau đại học lại nộp lưu chiểu số luận văn cao
học vào Thư viện. Số tài liệu này được bạn đọc rất quan tâm, đặc biệt là các
học viên cao học và các sinh viên làm đồ án tốt nghiệp. Các bản luận án và
luận văn này có số vòng quay rất lớn và được sao chụp nhiều.

viện cần có chiến lược bổ sung thêm các tạp chí ngoại, đặc biệt là tạp chí
tiếng Anh.
Đối với tạp chí tiếng Việt, tuy số lượng ít nhưng được cập nhật thường
xuyên nên đáp ứng được nhu cầu về tạp chí tiếng Việt của NDT. Trung bình
mỗi năm Thư viện nhập khoảng gần 200 tên tạp chí tiếng Việt.
 Tài liệu truyền thống tại Thư viện chia theo chuyên ngành như sau:

Hình 3: Thống kê tài liệu truyền thống theo chuyên ngành tại Thư viện
Trường ĐHBK HN là trường đại học đào tạo về KHKT lớn trong cả
nước. Do đó, các loại hình tài liệu về lĩnh vực KHCN được Thư viện quan
tâm bổ sung nhiều nhất (81%). Ngoài ra, các tài liệu về KHXH và VHNT
cũng chiếm (19%). Đây là nguồn tài liệu tham khảo giúp bạn đọc giải trí, mở
mang kiến thức sau những giờ học căng thẳng. Là những người ham hiểu biết,
sinh viên khối kĩ thuật luôn thích tìm hiểu các vấn đề xã hội và họ sử dụng
các tài liệu chính trị xã hội, văn hoá nghệ thuật, khoa học thường thức với
mục đích nâng cao hiểu biết, tích luỹ kiến thức xã hội. Một số cuốn sách như:
Âm dương đối lịch, Kinh dịch, Almanach những nền văn minh thế giới…
được bạn đọc sinh viên tìm hiểu rất nhiều.
SV: Đỗ Thị Hoàn ( 02/03/1990 )

20


Khóa luận tốt nghiệp

K53 – TT-TV

 Xét về khía cạnh nội dung tài liệu, tài liệu truyền thống tại Thư viện
Tạ Quang Bửu bao gồm các lĩnh vực sau:
Nội dung


Tỉ lệ (%)
8,4%
7,8%
7,3%
10,8%
6,6%
7,3%
10%
2,7%
2,1%
5,6%
4,9%
5,5%
21,0%
100%

Bảng 3: Thống kê tài liệu truyền thống phân chia theo nội dung tài liệu
Bảng thống kê trên phản ánh số loại và số cuốn tài liệu theo các ngành
được đào tạo trong trường. Qua bảng thống kê trên ta có thể thấy số lượng tài
liệu của mỗi khoa có sự khác nhau, điều đó phụ thuộc vào lịch sử hình thành
của từng khoa, các khoa như: Khoa Điện, Cơ khí có khá nhiều cả về chủng
loại và số lượng (Khoa Điện có 66.417 bản tài liệu chiếm 10.8%; Khoa Cơ
khí có 61.948 bản tài liệu chiếm 10%). Vì đây là những khoa có từ những
năm thành lập trường và hiện nay các khoa này có số lượng tuyển sinh đông
hơn các khoa khác. Hiện nay, một số khoa có rất nhiều giáo trình mới đáp ứng
được nhu cầu về tài liệu của sinh viên: Khoa Điện, Cơ khí, Điện tử viễn
thông. Trong khi đó một số khoa mới được thành lập trong những năm gần
đây nên số lượng giáo trình rất ít như khoa Sư phạm kỹ thuật, khoa Ngoại
Ngữ ... Khoa Công nghệ thông tin có tốc độ phát triển khá nhanh trên nền của

44.355
31.512
12.215
10.095
617.160

Tỉ lệ (%)
54,%
14,2%
16,0%
7,1%
5,1%
2,0%
1,6%
100%

Bảng 4: Thống kê tài liệu truyền thống theo ngôn ngữ tại Thư viện
Từ thống kê trên, có thể thấy tài liệu tiếng Việt vẫn chiếm một khối
lượng lớn trong toàn bộ nguồn lực thông tin của Thư viện. Hiện nay, tài liệu
bằng ngôn ngữ tiếng Việt có 331.068 bản tài liệu,chiếm 54% tổng số tài liệu
của Thư viện. Do vậy, tài liệu bằng ngôn ngữ tiếng Việt vẫn là loại tài liệu
được ưu tiên bổ sung để phục vụ tốt hơn nhu cầu của đa số NDT tại Thư viện.
Nhu cầu về tài liệu tiếng Việt cao bởi lẽ sử dụng tiếng mẹ đẻ bao giờ cũng
thuận tiện hơn cả và không phải NDT nào cũng có khả năng đọc tài liệu nước
ngoài. Mặt khác, tài liệu tiếng Việt chiếm tỉ lệ lớn trong vốn tài liệu của Thư
viện, lại được cập nhật thường xuyên hơn các tài liệu viết bằng ngôn ngữ
khác, nên tần suất NDT các tài liệu tiếng Việt cao hơn.
Tuy nhiên, theo các phương tiện thông tin đại chúng, các công trình
nghiên cứu về vấn đề học tập, nhu cầu sử dụng tài liệu viết bằng ngôn ngữ
không phải là tiếng Việt của NDT đã tăng đáng kể trong thời gian qua. Xu

cầu sử dụng sách tiếng Nga của NDT ít dần. Nhu cầu này chỉ còn tập trung ở
một số cán bộ giảng dạy được đào tạo từ Liên Xô cũ trở về. Mặc dù, hiện nay
tiếng Nga không còn phổ biến với mọi đối tượng như trước nhưng đối với
Thư viện, đây vẫn là loại tài liệu có giá trị NCKH và cần được duy trì bởi hầu
hết các tài liệu khoa học kĩ thuật được xuất bản bằng tiếng Nga và những tài
liệu này đều có giá trị thông tin khoa học cơ bản. Vì vậy, vốn tài liệu khoa
học kĩ thuật bằng tiếng Nga tuy đã cũ nhưng Thư viện vẫn giữ gìn và phát
triển nhằm phục vụ cho một số đối tượng cán bộ nghiên cứu và giảng dạy
trong trường.
Đối với các tài liệu được viết bằng các thứ tiếng khác chưa có số lượng
nhiều hoặc không được bổ sung về Thư viện.
 Theo thời gian xuất bản, tài liệu truyền thống tại Thư viện bao gồm:
SV: Đỗ Thị Hoàn ( 02/03/1990 )

23


Khóa luận tốt nghiệp

K53 – TT-TV

Thời gian

Số lượng bản tài

Tỉ lệ (%)

liệu
92.575
191.318

Loại hình
CSDL

Mô tả

Số lượng

- CSDL thư mục do Thư Hơn 50.000 biểu ghi
viện xây dựng
- CSDL toàn văn do Thư Hơn 500 biểu ghi
viện xây dựng
- CSDL đặt mua:
+ CSDL ScienceDirect

Bao gồm 118 đầu tạp chí về

(Computer Science

khoa học máy tính.

Collection)
SV: Đỗ Thị Hoàn ( 02/03/1990 )

24


Khóa luận tốt nghiệp

K53 – TT-TV


Băng
Casette

Băng học ngoại ngữ

130 băng

Bảng 6 : Thống kê nguồn tài liệu điện tử tại Thư viện
Tài liệu điện tử là tài liệu mà phần thông tin trên đó có cấu trúc, được
tổ chức bao gói hay được lưu trữ trên các vật mang tin mà người dùng có thể
truy cập thông qua máy tính hoặc mạng máy tính. Ưu điểm của loại tài liệu
này là lưu trữ được nhiều thông tin trên một đơn vị diện tích, không cần nhiều
kho tàng, truy cập nhanh. Ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật có
sự hỗ trợ của CNTT và điện tử viễn thông, loại hình tài liệu này đang phát
triển mạnh. Các thư viện đang có xu hướng phát triển nguồn lực thông tin
dạng này, tuy nhiên giá cả và rào cản ngôn ngữ khiến loại tài liệu này không
phải thư viện nào cũng có được.
So với loại hình tài liệu truyền thống, tài liệu điện tử của Thư viện mới
chỉ bắt đầu được quan tâm đầu tư từ năm 2005 - nay. Do vậy, về số lượng còn
rất hạn chế. Thư viện cần đặc biệt quan tâm và phát triển loại tài liệu này. Tài
SV: Đỗ Thị Hoàn ( 02/03/1990 )

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status