1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vai trò quan trọng đến tăng trưởng
kinh tế cũng như giải quyết việc làm và ổn định chính trị - xã hội.
Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, nông nghiệp, nông dân,
nông thôn trên địa bàn thành phố Cần Thơ đã đạt được những thành tựu đáng
kể: nông nghiệp có tốc độ tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng,
vật nuôi chuyển dịch theo hướng tích cực; cơ khí hóa có bước tiến bộ; giá trị
xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản tăng nhanh; nông thôn đã có bước khởi sắc, kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tập trung xây dựng, củng cố, nâng cấp; đời
sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn có bước cải thiện; công
tác xoá đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm, xoá nhà tạm thu được một số kết
quả; hệ thống chính trị cơ sở được tăng cường, quyền dân chủ được phát huy,
an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nông thôn được giữ vững.
Tuy nhiên, nông thôn trong quá trình hoà nhập và đổi mới cũng đặt ra rất
nhiều vấn đề cần được giải quyết, đó là quá trình đô thị hoá diễn ra làm thay
đổi bộ mặt nông thôn và tác động đến kiến trúc, kinh tế, đời sống, văn hoá,
xã hội, chất lượng môi trường và sinh thái nông thôn. Kiến trúc nông thôn
đang phát triển tự phát và thiếu định hướng quy hoạch một cách có hệ thống,
kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất và đời
sống; chất lượng giáo dục, y tế phát triển chưa tương xứng trước yêu cầu đổi
mới. Lao động nông thôn còn thiếu công ăn việc làm và thu nhập chưa ổn
định, tỷ lệ đói nghèo còn cao, khoảng cách thu nhập giữa các tầng lớp xã hội
có xu hướng gia tăng, chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị
ngày càng xa.
2
Trước tình hình đó, việc xem xét một cách toàn diện, đánh giá đúng thực
trạng, rút ra nguyên nhân, bài học kinh nghiệm, đề ra các chủ trương, giải
pháp đúng đắn kịp thời; nhất là tạo sự phát triển một cách đồng bộ, tích cực
nhằm thay đổi một cách căn bản bộ mặt của nông nghiệp, nông thôn phù hợp
với từng giai đoạn phát triển của đất nước.
Đề án “Xây dựng nông thôn mới thành phố Cần Thơ” do Sở Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì xây dựng với sự tham gia của các ban,
ngành, địa phương trong thành phố dựa trên các quan điểm chỉ đạo của Đại
hội X Đảng Cộng sản Việt Nam, Chương trình mục tiêu quốc gia về nông
thôn mới, Quyết định 21/2007/QĐ-TTg, ngày 08/02/2007 của Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố
Cần Thơ đến năm 2020 cũng như xuất phát từ thực tiễn; từ đó nêu lên những
giải pháp nhằm từ nay đến năm 2020 đưa sản xuất nông nghiệp tiến lên một
nền nông nghiệp công nghệ cao, sản xuất hàng hoá hiện đại, có khả năng cạnh
tranh cao; nông thôn hiện đại, văn minh; nông dân có đời sống vật chất và
tinh thần được nâng cao, giảm chênh lệch giữa đô thị với nông thôn, đóng góp
tích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thành phố theo hướng
thương mại, dịch vụ, công nghiệp hoá, hiện đại hóa.
Chương trình xây dựng nông thôn mới là một trong nhiều phương pháp
thúc đẩy công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Và Quyết định
491/QĐ-TTg năm 2009 về Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới do Thủ
tướng Chính phủ ban hành đã chỉ ra những chỉ tiêu nhằm mục đích hướng
chương trình xây dựng nông thôn mới đạt kết quả tốt.
Những thành tựu đã đạt được về chương trình xây dựng nông thôn mới,
chương trình nông thôn mới đã làm thay đổi nếp sống, nếp nghĩ và giúp cho
người dân áp dụng khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi, canh tác nhằm tăng năng
4
chương trình xây dựng nông thôn mới tại xã Mỹ Khánh - Phong Điền - Cần
Thơ.
- Đề xuất được một số giải pháp góp phần thực hiện chương trình xây
dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Phong Điền từ kinh nghiệm thí điểm
tại xã Mỹ Khánh.
3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình và kết quả thực hiện thí
điểm chương trình xây dựng nông thôn mới tại xã Mỹ Khánh - Phong Điền Cần Thơ
3.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi về nội dung nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu vào công tác tổ chức thực hiện chương
trình thí điểm XDNTM và kết quả thực hiện chương trình thí điểm theo các
tiêu chí cuả chương trình thí điểm XDNTM.
Luận văn tập trung nghiên cứu về thực hiện chương trình XDNTM trên
địa bàn Huyện Phong Điền từ kinh nghiệm thí điểm tại xã Mỹ Khánh.
+ Phạm vi về không gian:
Luận văn nghiên cứu trong phạm vi huyện Phong Điền.
+ Phạm vi về thời gian:
Nghiên cứu và thu thập số liệu về quá trình thực hiện chương trình
XDNTM trên địa bàn thí điểm tại xã Mỹ Khánh trong giai đoạn 2010-2011.
6
4. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Cơ sở lý luận về vấn đề: Xây dựng nông thôn mới;
- Thực trạng và kết quả thực hiện thí điểm xây dựng nông thôn mới tại
xã Mỹ Khánh;
- Các bài học kinh nghiệm từ mô hình thí điểm xã Mỹ Khánh.
quan trọng trong an ninh lương thực quốc gia và tạo sinh kế cho hàng triệu
8
người dân. Ngành thủy sản hiện đóng vai trò đầu tàu trong xuất khẩu nông
lâm thủy sản nói riêng và xuất khẩu của cả nước nói chung.
Nông thôn ở nước ta bao gồm những vai trò sau:
- Thứ nhất, nông thôn là địa bàn sản xuất và cung cấp lương thực thực
phẩm cho tiêu dùng của cả xã hội. Người nông dân ở nông thôn sản xuất lương
thực, thực phẩm để nuôi sống họ và cung cấp cho nhân dân cả nước. Sự gia
tăng dân số là sức ép to lớn đối với sản xuất nông nghiệp trong việc cung ứng
đủ lương thực, thực phẩm cho toàn xã hội. Vì vậy, sự phát triển bền vững nông
thôn sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu lương thực và thực phẩm tiêu dùng cho toàn
xã hội và nâng cao năng lực xuất khẩu các mặt hàng này cho quốc gia.
- Thứ hai, với số dân chiếm đa số sống bằng nông nghiệp, khu vực nông
thôn thực sự là nguồn nhân lực dồi dào cho khu vực thành thị. Sự thâm nhập
của lao động vào thành thị cũng như sự gia tăng dân số đều đặn ở các vùng
thành thị là không đủ để đáp ứng nhu cầu lâu dài của phát triển kinh tế quốc
gia. Nếu việc di chuyển nhân công ra khỏi nông nghiệp sang các ngành khác bị
hạn chế thì sự tăng trưởng sẽ bị ảnh hưởng và việc phát triển kinh tế sẽ phiến
diện. Vì vậy, phát triển bền vững nông thôn sẽ góp phần làm ổn định kinh tế
của quốc gia.
- Thứ ba, nông thôn là thị trường quan trọng để tiêu thụ sản phẩm của
khu vực thành thị hiện đại. Trước hết nông thôn là địa bàn quan trọng tiêu thụ
các sản phẩm của công nghiệp. Nếu thị trường rộng lớn ở nông thôn được khai
thông, thu nhập người dân nông thôn được nâng cao, sức mua của người dân
tăng lên, công nghiệp có điều kiện thuận lợi để tiêu thụ sản phẩm sản xuất của
toàn ngành không chỉ hàng tiêu dùng mà cả các yếu tố đầu vào của nông
nghiệp. Phát triển nông thôn sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển công nghiệp và
cường”.
10
Về mục tiêu cụ thể, phấn đấu đến năm 2015 đạt 20% số xã đạt chuẩn
nông thôn mới và đến 2020: 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; 100% số xã
có quy hoạch nông thôn mới được duyệt; 100% cán bộ cơ sở được đào tạo,
tập huấn về kiến thức xây dựng nông thôn mới; thu nhập bình quân của cư
dân nông thôn bằng 2,5 lần so với hiện nay; tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 3%.
Nội dung chính của Chương trình Xây dựng nông thôn mới được xác
định là: (1) Quy hoạch xây dựng nông thôn mới; (2) Phát triển hạ tầng kinh tế
- xã hội; (3) Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập; (4)
Giảm nghèo và an sinh xã hội; (5) Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức
sản xuất có hiệu quả ở nông thôn; (6) Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông
thôn; (7) Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn; (8) Xây dựng
đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn; (9) Cấp nước sạch và
vệ sinh môi trường nông thôn; (10) Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính
quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn; (11) Giữ vững an ninh, trật tự
xã hội nông thôn.
Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới được Thủ tướng Chính phủ ban
hành ngày 16/4/2009. Bộ tiêu chí là căn cứ để xây dựng nội dung Chương
trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới; chỉ đạo thí điểm xây
dựng mô hình nông thôn mới trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa; đồng thời là cơ sở để kiểm tra, đánh giá công nhận xã, huyện, tỉnh đạt
nông thôn mới.
Bộ tiêu chí đưa ra chỉ tiêu chung cả nước và các chỉ tiêu cụ thể theo từng
vùng: Trung du miền núi phía Bắc (TDMNPB), Đồng bằng sông Hồng
(ĐBSH), Bắc Trung Bộ (BTB), Duyên hải Nam Trung Bộ (DHNTB), Tây
Nguyên (TN), Đông Nam Bộ (ĐNB) và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)
về nông thôn mới giai đọan 2010.
- Bộ Nông nghiệp & PTNT, 2009, Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới Hà Nội.
12
thành thị ngày càng lớn, diện mạo của nông thôn còn lạc hậu, còn khoảng
cách khá xa so với thành thị trên nhiều phương diện, nông nghiệp phát triển
còn gặp rất nhiều khó khăn, vấn đề nổi bật là thu nhập ở nông thôn còn thấp,
tăng chậm, trong khi đó ở thành thị thu nhập tăng rất nhanh. Chẳng hạn, năm
1978 chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn là 2,9 lần; sau 10 năm
là 3,31 lần và có xu hướng ngày càng gia tăng. Trước tình hình đó Trung
Quốc đã đưa ra chính sách “Tam nông” nhằm thay đổi bộ mặt của nông thôn.
Mục đích của chính sách “tam nông” là xây dựng xã hội nông thôn Trung
Quốc ngày càng hiện đại, nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn, góp
phần đưa đất nước phát triển.2
♦ Ở Hàn Quốc
Nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến khu vực kinh tế nông thôn khi
thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ I (1962-1966) và thứ II (1966-1971) với
chủ trương công nghiệp hóa hướng đến xuất khẩu, tháng 4 năm 1970, Chính
phủ Hàn Quốc phát động phong trào Saemaul Undong. Mục tiêu của phong
trào này là "nhằm biến đổi cộng đồng nông thôn cũ thành cộng đồng nông
thôn mới: mọi người làm việc và hợp tác với nhau xây dựng cộng đồng mình
ngày một đẹp hơn và giàu hơn. Cuối cùng là để xây dựng một quốc gia ngày
một giàu mạnh hơn"
Theo đó, Chính phủ vừa tăng đầu tư vào nông thôn vừa đặt mục tiêu thay
đổi suy nghĩ ỷ lại, thụ động vốn tồn tại trong đại bộ phận dân cư nông thôn.
Điểm đặc biệt của phong trào NTM của Hàn Quốc là Nhà nước chỉ hỗ trợ một
thuật, quảng bá, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm được xác định là thế mạnh. Sau 20
năm áp dụng OVOP, Nhật Bản đã có 329 sản phẩm đặc sản địa phương có giá
trị thương mại cao như như nấm hương Shitake, rượu Shochu lúa mạch, cam
Kabosu,... giúp nâng cao thu nhập của nông dân địa phương.
♦ Ở Thái Lan
14
Thông qua mô hình OVOP, Chính phủ đã xây dựng dự án cấp quốc gia
"mỗi xã, một sản phẩm" (One Tambon one Product-OTOP) nhằm tạo ra sản
phẩm mang tính đặc thù của địa phương có chất lượng, độc đáo, bán được
trên toàn cầu. Sản phẩm của OTOP được phân loại theo 4 tiêu chí: có thể xuất
khẩu với giá trị thương hiệu; sản xuất liên tục và nhất quán; tiêu chuẩn hóa;
đặc biệt, mỗi sản phẩm đều có một câu chuyện riêng. Các tiêu chí trên đã tạo
thêm lợi thế cho du lịch Thái Lan vì du khách luôn muốn được tận mắt chứng
kiến quá trình sản xuất sản phẩm, từ đó có thể hiểu biết thêm về tập quán, lối
sống của người dân địa phương.3
1.3.2. Ở trong nƣớc
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 26NQ/TW, ngày 5-8-2008 “Về nông nghiệp nông dân, nông thôn” nhằm “không
ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, bảo đảm
hài hòa giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều
khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các
nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ
nông thôn mới. Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng
hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả
và khả năng cạnh tranh cao, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia
cả trước mắt và lâu dài. Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn
nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch;
xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng
4
Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2008, tr. 125-126.
16
thác mọi khả năng đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn, nhất là đầu tư của
các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thu hút nhiều lao động…”5
Với Nghị quyết của Đảng, những quyết sách của Chính phủ và sự vào
cuộc mạnh mẽ với quyết tâm chính trị cao của các bộ, ban, ngành ở Trung
ương, các cấp chính quyền ở cơ sở, việc xây dựng nông thôn mới theo đúng
lộ trình thực sự trở thành một cuộc vận động cách mạng của đất nước trên con
đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh.
Hiện nay, toàn xã hội đã và đang tích cực vào cuộc, cùng thực hiện sự
nghiệp xây dựng nông thôn mới. Cấp ủy, chính quyền từ Trung ương đến cơ
sở đã sớm triển khai Nghị quyết của Đảng; đẩy mạnh công tác tuyên truyền;
bước đầu tạo sự chuyển biến trong nhận thức của cán bộ, người dân. Hầu hết
cấp ủy đảng các cấp đã tổ chức quán triệt Nghị quyết, trong đó nhiều xã tổ
chức phổ biến trực tiếp đến nhân dân tại thôn, bản. Nhìn chung, cán bộ cơ sở
và nhân dân rất phấn khởi, kỳ vọng vào một nông thôn mới phát triển mang
lại sự cải thiện nhanh hơn đời sống vật chất, tinh thần cho người dân nông
thôn thời kỳ CNH, HĐH đất nước. Các bộ, ngành chức năng liên quan đã
nhanh chóng xây dựng, triển khai nhiều cơ chế chính sách để đưa Nghị quyết
vào cuộc sống.
Ở địa phương: tất cả các tỉnh, thành phố đã xây dựng chương trình hành
Chính phủ.
Riêng năm 2011, Nhà nước đã bố trí 1.600 tỉ đồng từ nguồn ngân sách
Trung ương cho Chương trình để tập trung vào 5 nội dung, gồm quy hoạch,
đào tạo, tuyên truyền, phát triển sản xuất và xây dựng một số hạng mục kết
cấu hạ tầng thiết yếu. Nhiều địa phương, như Hà Tĩnh, Lào Cai, Hải Dương,
Vĩnh Long, Phú Thọ, Nam Định, Thái Bình, Sóc Trăng còn chủ động bổ sung
kinh phí lên tới 5.664,8 tỉ đồng từ nguồn ngân sách địa phương cho các xã để
triển khai chương trình ngay trong năm 2011. 10/13 tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương tự túc ngân sách giai đoạn 2011-2015.
19
Với sự vào cuộc tích cực, khẩn trương của các bộ, ban, ngành ở Trung
ương, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương và bản thân
người dân nông thôn, trong gần ba năm qua, mặc dù phải đối mặt với nhiều
khó khăn, thách thức nhưng nông nghiệp, nông thôn đã vững vàng vượt qua
khó khăn, duy trì được tăng trưởng, góp phần ổn định kinh tế - xã hội đất
nước.
Xin nêu một vài dẫn chứng và số liệu được thống kê bước đầu như sau:
Năm 2010, nông nghiệp nước ta đạt mức tăng GDP là 2,78%, sản lượng lúa
tăng thêm 1,17 triệu tấn (đạt 39,9 triệu tấn); sản lượng thịt các loại tăng 725
ngàn tấn, đạt 4,02 triệu tấn; tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng thuỷ sản
tăng 990 ngàn tấn, đạt 5,12 triệu tấn; sản lượng muối tăng 340 ngàn tấn, đạt
1,18 triệu tấn; tỷ lệ che phủ rừng tăng 1,2%, đạt 39,5% diện tích. Tổng kim
ngạch xuất khẩu các loại nông, lâm, thủy sản đạt 19,53 tỉ USD (tăng 3,46 tỉ
USD so với năm 2008).
Giao thông nông thôn được coi là khâu đột phá trong xây dựng hạ tầng
nông thôn. Trong 2 năm, 2009 và 2010 đã huy động gần 33 ngàn tỉ đồng,
trong đó nhân dân đóng góp khoảng 11,2% và trên 24 triệu ngày công lao
21
Chƣơng 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN HUYỆN PHONG ĐIỀN
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên
Huyện Phong Điền được thành lập theo Nghị định 05-NĐ/CP của Chính
phủ và chính thức đi vào hoạt động ngày 01/01/2004. Huyện Phong Điền có
vị trí nằm ở cửa ngõ phía Nam, tiếp cận khu đô thị trung tâm của thành phố
Cần Thơ. Với vị trí án ngữ chính trên trục giao thông vận tải đường thủy của
các tỉnh Miền Tây với thành phố Cần Thơ và các tỉnh phía Nam, kết hợp với
thế mạnh tiềm năng về đất đai, nông nghiệp, huyện có điều kiện thuận lợi phát
triển thương mại - dịch vụ - du lịch và đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá theo
hướng sinh thái trong thời gian tới.
* Vị trí địa lý
Với đặc thù là huyện nông nghiệp nằm ở phía Tây Sông Hậu, trực thuộc
thành phố Cần Thơ, có vị trí:
+ Phía Đông giáp quận Ninh Kiều,
+ Phía Đông - Đông Nam giáp quận Cái Răng,
+ Phía Tây giáp huyện Thới Lai,
+ Phía Bắc giáp quận Bình Thủy,
+ Phía Tây Bắc giáp quận Ô Môn,
+ Phía Nam giáp tỉnh Hậu Giang,
* Địa hình, khí hậu, thủy văn
Huyện Phong Điền với đặc thù là huyện nông nghiệp nằm ở phía Tây
Sông Hậu, trực thuộc thành phố Cần Thơ, có vị trí thuộc địa hình đồng bằng
tương đối bằng phẳng, có hệ thống sông ngòi chằng chịt với những tuyến
22
với tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện. Đất ở là 30% so với tổng diện tích
đất phi nông nghiệp, đất chuyên dùng là 26,38% so với diện tích đất phi nông
nghiệp, đất sông và mặt nước chiếm tỷ lệ 41,14% so với diện tích đất phi
nông nghiệp. Còn lại đất tôn giáo, tín ngưỡng và đất nghĩa trang, nghĩa địa.
2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội
2.1.2.1. Đặc điểm dân cư, lao động
Dân số: 99.966 người (số liệu thống kê năm 2010) [Bảng 2.2 - Phụ lục
1a], trong đó: nam có 49.748 người, nữ có 50.218 người; Dân số phân bổ ở
khu vực nông thôn là 89.179 người, đạt tỷ lệ 89,21%; Dân số trong độ tuổi lao
động 65.568 người, chiếm tỷ lệ 65,59% dân số; Lao động trong nông nghiệp
chiếm tỷ lệ 55,19%
Đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn là chủ trương
lớn của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành và của toàn xã hội, nhằm nâng
cao chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nông nghiệp, nông thôn.
Số người trong độ tuổi lao động 65.568/99.966 người, chiếm 65,6 % dân
số. Trong đó có 60.846 lao động có việc làm, 1.169 lao động chưa có việc
làm.
Lao động có việc làm hoạt động trong lĩnh vực nông lâm, ngư nghiệp
39.005 người, chiếm 59,48 % trên tổng số lao động. Lao động còn lại hoạt
động trong các lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch
vụ và du lịch chiếm tỷ lệ 40,52% lao động.
24
Giai đoạn 2006-2011 thông qua các chương trình đào tạo nghề đã giải
quyết việc làm cho khoảng 34.000 lao động, đào tạo nghề cho 3.378 lao động,
giới thiệu cho 267 lao động đi làm việc ở nước ngoài. Tuy nhiên, mặt bằng
chung về tay nghề, trình độ lao động nông thôn của huyện còn thấp, lao động
Xã Nhơn Ái
16,32
14.075
862
03
Xã Giai Xuân
19,69
15.370
781
04
Xã Tân Thới
17,73
13.726
774
05
125.26
99.966
6.103
Nguồn: Chi cục Thống kê huyện Phong Điền
2.1.2.2. Đặc điểm Y Tế, Văn hoá - Giáo dục
- Về y tế: Công tác chăm sóc sức khỏe được quan tâm, nâng cao chất
lượng phục vụ, công tác phòng ngừa dịch bệnh, chương trình y tế quốc gia, vệ
sinh an toàn thực phẩm được triển khai sâu rộng, đồng bộ đáp ứng nhu cầu
chăm sóc sức khỏe nhân dân, huyện đã xây dựng hoàn thành Bệnh viện đa
khoa (200 giường), 7/7 xã, thị trấn có trạm y tế đạt chuẩn Quốc gia,... các
25
công trình đã và đang hoàn thành sẽ mở ra tiềm năng cho phát triển kinh tế xã hội địa phương.
- Về văn hóa: Hệ thống truyền thanh cũng được từng bước nâng cấp
nhằm phủ sóng trong toàn huyện. Mạng lưới bưu điện được quan tâm đầu tư
phát triển đến địa bàn các xã phục vụ cho thông tin, liên lạc, đến nay đã có 07
điểm bưu điện văn hoá, 01 thư viện. Các hoạt động thể dục, thể thao, văn hoá,
văn nghệ đã thu hút đông đảo mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thanh thiếu
niên, học sinh và các đoàn thể tham gia hoạt động sinh hoạt sôi nổi....
- Về giáo dục: Trong những năm qua, sự nghiệp giáo dục của huyện
không ngừng phát triển cả về quy mô và chất lượng, đáp ứng khá tốt yêu cầu
đào tạo nguồn nhân lực.
- Kết quả thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập trung học cơ sở
đạt chuẩn phổ cập từ năm 2004 và được tái công nhận hàng năm.