ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA THÔNG TIN - THƯ VIỆN
PHẠM THỊ LAN ANH (02/07)
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THƯ VIỆN CÁC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀO TẠO KHỐI NGÀNH KHOA HỌC
XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Ở HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH : THÔNG TIN – THƯ VIỆN
KHÓA : 54 ( 2009-2013)
HỆ
: CHÍNH QUY
Hà Nội, 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA THÔNG TIN - THƯ VIỆN
PHẠM THỊ LAN ANH (02/07)
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THƯ VIỆN
CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀO TẠO KHỐI NGÀNH
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Ở HÀ NỘI.
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
-
-
Bảng chữ cái viết tắt tiếng Việt
CNH-HĐH
Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa
CSDL
Cơ sở dữ liệu
ĐHHN
Đại học Hà Nội
ĐHSPHN
Đại học sư phạm Hà Nội
KHXH
Khoa học xã hội
NCT
Nhu cầu tin
NDT
1. Danh mục các biểu đồ
Tên biểu đồ
Trang
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu cán bộ theo giới tính
35
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu cán bộ theo độ tuổi
36
Biểu đồ 2.3: Trình độ học vấn của cán bộ
37
2. Danh mục các bảng
Tên bảng
Trang
Bảng 1.1: Đặc điểm NCT của các nhóm NDT
21
Bảng 1.2: Mức dộ sử dụng thông tin của NDT
32
Đại học Hà Nội
Hình 2.3: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trung tâm Thông tin Khoa học Học viện
34
Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..................................................................................................................8
NỘI DUNG.............................................................................................................13
1. Anh/chị đã tốt nghiệp ngành nào?....................................................................80
2. Anh/chị đang làm tại bộ phận nào của thư viện?............................................80
3. Anh/chị sử đang dụng ngoại ngữ nào?.............................................................81
4. Khả năng sử dụng ngoại ngữ của anh/chị ở mức độ nào?..............................81
5. Khả năng sử dụng máy tính trong công việc của anh/chị như thế nào?........81
6. Khả năng sử dụng Các phần mềm của anh/chị?.............................................81
7. Công việc chuyên môn hàng ngày của anh/chị là gì? (nêu công việc chính). 81
8. Anh/chị có thể giao tiếp hoặc đọc tài liệu bằng tiếng nước ngoài không?.....81
9 . Để đáp ứng yêu cầu công việc hiện tại anh/chị có cần phải nâng cao trình độ
không?....................................................................................................................81
10. Anh/chị có nhu cầu học thêm những nội dung nào sau đây không?............81
11. Lý do anh chị cần học thêm là vì?..................................................................82
12. Anh/chị sẽ theo học hình thức đào tạo nào để nâng cao trình độ?...............82
13. Anh/chị có gặp những thuận lợi và khó khăn sau trong công việc của mình
không?....................................................................................................................82
14. Theo anh/chị những yếu tố nào sau đây ảnh hướng/hạn chế đến hiệu quả
học nói riêng.
ThS. Lê Ngọc Oánh đã viết: “những thư viện trên thế giới ngày nay đã thoát
khỏi khía cạnh tĩnh của những kho chứa sách để trở nên năng động hơn với ba vai
trò chính yếu sau đây:
- Thư viện là một cơ quan truyền thông đại chúng;
- Thư viện là một trung tâm phát triển văn hóa;
- Thư viện là một động lực đóng góp vào việc đổi mới giáo dục.
Giữa ba vai trò trên, thư viện trường đại học đã làm nổi bật vai trò là một
động lực đóng góp vào việc đổi mới giáo dục.” 1
Chính vì vậy, có thể nói rằng thư viện các trường đại học chính là con thuyền
mang tri thức, thông tin đến với bạn đọc; là động lực thúc đẩy giáo dục đào tạo phát
triển; là công cụ đắc lực của giáo dục trong việc truyền bá tri thức, cung cấp thông
tin phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu, giải trí của mọi tầng lớp nhân dân. Hơn
nữa, thư viện cũng có những tác động nhất định đối với xã hội nói chung và đối với
từng cá nhân nói riêng.
Nhận thấy được tầm quan trọng của mình, các thư viện trường đại học đã và
đang không ngừng phấn đấu, phát triển, đầu tư nhiều hơn nữa vào công tác xây
dựng, phát triển tổ chức và hoạt động của thư viện để nâng cao chất lượng và hiệu
quả hoạt động của mình, hướng tới chuẩn thư viện; góp phần vào công cuộc đổi
mới và nâng cao chất lượng giáo dục với vai trò như giảng đường thứ hai của sinh
viên.
Đặc biệt, tổ chức và hoạt động của thư viện các trường đào tạo các ngành
Khoa học Xã hội và Nhân văn có vai trò hết sức quan trọng trong bối cảnh nguồn
thông tin gia tăng mạnh mẽ như hiện nay. Nó không những phục vụ nhu cầu tra cứu
của các nhà khoa học, giảng viên, học viên, sinh viên và những những người quan
tâm khác mà còn đảm nhiệm vai trò lưu trữ và bảo tồn các giá trị văn hoá, khoa học
của dân tộc và thế giới.
Tuy nhiên hiện nay ở nước ta, việc đánh giá hiệu quả và tác động của công
tác tổ chức và hoạt động thông tin thư viện trong thư viện các trường đại học chưa
thao Hà Tây” của tác giả Vũ Thị Thu Hà; “Tổ chức và hoạt động của Trung tâm
TThông tin – Thư viện trường Đại học Lao Động Xã Hội” của tác giả Đào Thị
Thanh Bình; hay “Công tác tổ chức và hoạt động của Trung tâm Thông tin – thư
viện Đại học Quốc gia Hà Nội” của tác giả Hà Thị Thanh Chung;…
Ngoài ra, cũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu trực tiếp thư viện các trường
đại học đào tạo khối ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn từ nhiều khía cạnh khác
nhau như: “Tìm hiểu công tác xử lý tài liệu tại Trung tâm Thông tin –Thư viện
trường Đại học Sư phạm Hà Nội” của tác giả Phạm Quỳnh Trang; “Tự động hóa
hoạt động thông tin thư viện trường Đại học Hà Nội.Thực trạng và giải pháp” của
tác giả Bùi Thị Linh; “Nâng cao hiệu quả công tác phục vụ người dùng tin tại
Trung tâm Thông tin Khoa học Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí
Minh” của tác giả Trần Thị Hiền; “Tìm hiểu sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện
tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Sư phạm Hà Nội” của tác giả Thân Thị
Đoan; “Hoạt động marketing tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại Học
Hà Nội” của tác giả Phạm Thị Ngân;… đến một số đề tài nghiên cứu toàn bộ công
tác tổ chức và hoạt động như: “Nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động của Thư
viện Đại học Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị Hương Chi; “Tổ chức và hoạt động
thông tin tại Trung tâm Thông tin Khoa học Học viện Chính trị - Hành chính Quốc
gia Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Thị Nguyên; “Tìm hiểu tình hình tổ chức và
hoạt động của Trung tâm Thông tin – Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội”
của tác giả Nguyễn Thị Hà;…
Những đề tài này đã đi sâu nghiên cứu và chỉ ra được những mặt mạnh, mặt
yếu và đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao công tác tổ chức và hoạt
động của từng đơn vị cụ thể.
Tuy nhiên, các đề tài trên mới chỉ dừng lại nghiên cứu một khía cạnh của
công tác tổ chức và hoạt động của một đơn vị cơ quan Thông tin – Thư viện cụ thể.
Chưa có một đề tài nào nào nghiên cứu một cách toàn diện, chi tiết công tác tổ chức
và hoạt động của thư viện các trường đại học theo khối ngành, đặc biệt là các
mặt hạn chế cần khắc phục của các thư viện, đồng thời đóng góp những giải pháp
kiến nghị cho công tác tổ chức và hoạt động của các thư viện. Kết quả nghiên cứu
sẽ góp phần vào việc tăng cường hiệu quả tổ chức và hoạt động của các thư viện
trường đại học đào tạo khối ngành khoa học xã hội và nhân văn ở Hà Nội.
8. Bố cục
Ngoài lời cảm ơn, phần mở đầu, kết luận, mục lục và phụ lục, danh mục chữ
cái viết tắt, tài liệu tham khảo. Khóa luận được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn tổ chức và hoạt động của thư viện các
trường đại học đào tạo khối ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn ở Hà Nội
Chương 2: Thực trạng công tác tổ chức và hoạt động của thư viện các
trường đại học đào tạo khối ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn ở Hà Nội
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động của thư viện
các trường đại học đào tạo khối ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn ở Hà Nội.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA THƯ VIỆN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀO TẠO KHỐI NGÀNH
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Ở HÀ NỘI
1.1. Những khái niệm chung
1.1.1. Khái niệm tổ chức
Theo từ điển Tiếng Việt: “ Tổ chức chính là sự xếp đặt, bố trí các mối quan
hệ giữa các bộ phận với nhau”
Tổ chức thường là những công việc hạt nhân khởi đầu để dẫn tới việc hình
thành một tổ chức, một cơ quan hoặc một xí nghiệp…
Tổ chức thường là công việc của cán bộ lãnh đạo, quản lý, và các chuyên gia.
Những người được giao nhiệm vụ tổ chức đòi hỏi phải là người có chuyên môn sâu
dung và yêu cầu của tổ chức quản lý văn hóa.
Cơ quan thông tin – thư viện là một thiết chế văn hóa giáo dục và thông tin
khoa học, đảm bảo tổ chức sử dụng, sưu tầm, bảo quản và khai thác vốn tài liệu-tri
thức nhân loại một cách hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả nhất.
Vậy tổ chức cơ quan thông tin thư viện là nhằm thiết lập một cơ cấu tổ chức
thích hợp cho thư viện đó tồn tại và phát triển. Muốn tổ chức một cơ quan thông tinthư viện đòi hỏi cán bộ phải có chuyên môn sâu về thư viện thông tin và có đầu óc
về tổ chức quản lý. Nói cách khác, tổ chức công tác thông tin – thư viện là tổ chức
hai nhóm công việc: công tác kỹ thuật nghiệp vụ và công tác quản trị.
Hoạt động thông tin - thư viện là hoạt động khoa học nhằm thu thập, xử lý,
phân tích. tổng hợp, lưu trữ , bảo quản và cung cấp thông tin đến người dùng tin .
Động cơ của hoạt động thông tin - thư viện là xuất phát từ nhu cầu sử dụng
nguồn tin của người dùng tin. Nhu cầu tin là tính chất của một đối tượng cá nhân,
tập thể hoặc một hệ thống nào đó thể hiện sự cần thiết nhận thông tin phù hợp với
hành vi hay công việc mà đối tượng đó đang thực hiện. Như vậy, để thực hiện trọn
vẹn một nhu cầu cần phải có một quá trình hoặc thông qua hàng loạt yêu cầu, đồng
thời có sự điều chỉnh và trao đổi qua lại giữa người dùng tin và cơ quan thông tinthư viện
Vậy, công tác tổ chức và hoạt động thông tin – thư viện chính là công việc
của một hay nhiều người lãnh đạo, quản lý có chuyên môn sâu về chuyên ngành
thông tin – thư viện nhằm thực hiện những nhiệm vụ trong một cơ quan thông tin –
thư viện như bổ sung, xử lý, sắp xếp, bảo quản, phục vụ bạn đọc
Tổ chức và quản lý hoạt động thông tin – thư viện là sự tổng hợp các phương
pháp lao động khoa học nhằm mục đích tối đa chất lượng phục vụ nhu cầu tin
(NCT) của người dùng tin (NDT) với thời gian và chi phí tối thiểu.
1.2. Vai trò của tổ chức và hoạt động thông tin thư viện
1.2.1. Vai trò của tổ chức và hoạt động thông tin thư viện nói chung
Tổ chức và hoạt động thông tin thư viện có vai trò rất quan trọng trong đời
sống, nó có ý nghĩa quyết định đến chất lượng hoạt động trong toàn bộ chu trình
hoạt động thông tin – thư viện.
quan thông tin - thư viện từng bước hiện đại hoá cơ sở vật chất, trang thiết bị, tăng
cường mọi nguồn lực, tích cực phục vụ cho việc đổi mới toàn bộ nội dung, phương
pháp dạy và học tập ở mọi cấp, bậc học; gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học và
sản xuất nhằm đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao cho đất nước. Khi đó tổ
chức và hoạt động thông tin – thư viện chính là cầu nối mang thông tin giáo dục đào
tạo đến với các trường đại học, góp phần vào công cuộc đổi mới giáo dục và nâng
cao chất lượng đào tạo.
Bên cạnh đó, tổ chức và hoạt động thông tin - thư viện còn phục vụ cho công
tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong các trường đại học, thông
tin nhanh chóng và kịp thời các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ mới nhất
ở trong và ngoài nước đến với NDT.
Trong hoạt động của mình, cơ quan thông tin - thư viện khẳng định vị trí,
chức năng, nhiệm vụ trong xã hội. Tuy nhiên, đáp ứng được nhu cầu của NDT
không có nghĩa là đã thoả mãn được NCT của người dùng mà đây mới chỉ là một
phần của nhu cầu và giúp họ làm việc có hiệu quả nhất.
1.3. Các yếu tố tác động đến hoạt động thông tin thư viện đại học
1.3.1. Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là một trong bốn yếu tố cấu thành nên một thư viện hoàn
chỉnh, do vậy nó có vai trò hết sức quan trọng trong tổ chức và hoạt động thông tin
thư viện. Đồng thời nguồn nhân lực cũng có những tác động mãnh mẽ đến công tác
tổ chức hoạt động của thư viện.
Một thư viện phát triển tốt là thư viện có đội ngũ cán bộ, nguồn nhân lực
biết tổ chức, quản lý tốt hoạt động thông tin thư viện, quyết định đến sự phát triển,
tồn tại và duy trì hoạt động của thư viện.
Thư viện có nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, có kỹ năng
nghiệp vụ tốt, cùng với những yếu tố khác như sự sáng tạo, nhiệt tình, tâm huyết
với nghề, và khả năng tổ chức tốt thì cơ quan sẽ phát triển một cách toàn diện.
1.3.2. Nguồn lực thông tin
viện có đối tượng NDT và NCT khác nhau. Trình độ của NDT sẽ tác động đến NCT
của họ, và những NCT này lại ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các cơ quan,
trung tâm thông tin – thư viện.
NDT với nhiều trình độ khác nhau với những nhu cầu tin khác nhau. NDT
có trình độ văn hóa cao, hiểu biết rộng thường có nhu cầu nhận thức cao hơn. Do
đó, NCT của họ sâu hơn và rộng hơn trong từng lĩnh vực. Đối với NDT có trình độ
văn hóa chưa cao so với mặt bằng chung của xã hội thường có nhu cầu tin hướng
tới các lĩnh vực đời sống, xã hội một cách đơn giản hơn.
Trình độ người dùng tin và nhu cầu tin sẽ tác động đến việc đưa ra các
loại hình sản phẩm, dịch vụ cũng như đầu tư về nguồn thông tin, các chính sách
phát triển, nâng cao hoạt động của thư viện, là nhân tố điều chỉnh và định hướng
cho hoạt động thông tin – thư viện. Khi NDT sử dụng các sản phẩm và dịch vụ của
thư viện để thỏa mãn NCT của mình, NDT sẽ phân tích, đánh giá chất lượng các
sản phẩm, dịch vụ đó và thông tin mà họ thu hoạch được. Những ý kiến đánh giá
này giúp điều chỉnh hoạt động thông tin – thư viện để phù hợp và có hiệu quả hơn
trong công tác phục vụ NDT.
Cơ quan thông tin thư viện phải đưa ra được những loại hình sản phẩm,
dịch vụ sao cho phù hợp với trình độ của người dùng tin, và đồng thời cũng phải
thỏa mãn được NCT của NDT. Đây cũng là một thách thức đối với công tác tổ chức
và hoạt động thông tin thư viện. Khi thư viện thỏa mãn được NCT của các đối
tượng có trình độ, NCT khác nhau thì khi đó tổ chức và hoạt động của thư viện đã
đạt tới sự thành công nhất định.
1.3.5. Ứng dụng các chuẩn nghiệp vụ
Hiện nay, hầu hết các cơ quan thông tin - thư viện đều đã và đang dần áp
dụng các chuẩn nghiệp vụ vào hoạt động thư viện của mình. Điều này đánh giá sự
chuyên nghiệp trong công tác nghiệp vụ thư viện.
Ứng dụng các chuẩn nghiệp vụ là việc không hề đơn giản, đó là cả một quá
trình nên nó có tác động không nhỏ đến hoạt động thông tin thư viện của bất kỳ cơ
đem lại những nguồn lợi đáng kể cho hoạt động thông tin thư viện của cơ quan.
Thông qua các chương trình hợp tác quốc tế, chia sẻ đối ngoại mà thư viện
có thể mở rộng được quy mô hoạt động, tăng cường nguồn lực thông tin.
1.4.
Đặc điểm của thư viện các trường đại học đào tạo khối ngành
Khoa học Xã hội và Nhân văn
1.4.1. Chức năng và nhiệm vụ của thư viện
Thư viện các trường đại học đào tạo khối ngành Khoa học Xã hội và
Nhân văn cũng như tất cả các thư viện trường đại học khác, đều có chức năng và
nhiệm vụ được quy định theo Quy chế mẫu về tổ chức và hoạt động thư viện trường
đại học (Ban hành kèm Quyết định số 13/2008/QĐ-BVHTTDL ngày 10/3/2008 của
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch). Chỉ khác là vốn tài liệu và nhu cầu tin
của những người dùng tin tại các thư viện này chủ yếu về các lĩnh vực Khoa học Xã
hội và Nhân văn.
Chức năng và nhiệm vụ chung được quy định như sau:
Chức năng:
Thư viện trường đại học có chức năng phục vụ hoạt động giảng dạy, học tập,
đào tạo, nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ và
quản lý của nhà trường thông qua việc sử dụng, khai thác các loại tài liệu có trong
thư viện (tài liệu chép tay, in, sao chụp, khắc trên mọi chất liệu, tài liệu điện tử,
mạng Internet...).
Nhiệm vụ:
Tham mưu giúp giám đốc, hiệu trưởng trường đại học (sau đây gọi chung là
hiệu trưởng) xây dựng quy hoạch, kế hoạch hoạt động dài hạn và ngắn hạn của thư
viện; tổ chức điều phối toàn bộ hệ thống thông tin, tư liệu, thư viện trong nhà
trường;
Bổ sung, phát triển nguồn lực thông tin trong nước và nước ngoài đáp ứng
nhu cầu giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của
Trung tâm Thông tin-Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Trung tâm có chức năng tiến hành công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, thu
thập, bổ sung, xử lý, thông báo nhằm cung cấp tài liệu, thông tin về các lĩnh vực
khoa học cơ bản, khoa học giáo dục và ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật, đáp ứng
nhu cầu học tập, giảng dạy và nghiên cứu khoa học của cán bộ, giáo viên và sinh
viên trong và ngoài trường ĐHSPHN.
Trung tâm có nhiệm vụ:
-
Tham mưu lập kế hoạch dài hạn, ngắn hạn cho Ban Giám hiệu về công tác
thông tin tư liệu phục vụ học tập, giảng dạy, nghiên cứu khoa học và học tập trong
từng giai đoạn phát triển của nhà trường.
-
Tiến hành Thu thập, bổ sung, trao đổi và xử lý tài liệu nhằm cung cấp những
thông tin cần thiết phục vụ nhu cầu tra cứu tìm tin của bạn đọc.
-
Tổ chức sắp xếp, lưu trữ và bảo quản
-
Nguồn tư liệu của trường bao gồm các loại hình ấn phẩm và vật mang tin.
Trung tâm Thông tin – Thư viện trường Đại học Hà Nội
Trung tâm Thông tin – Thư viện trường Đại học Hà Nội có 4 chức năng cơ
bản, đó là: chức năng thông tin, chức năng văn hoá, chức năng giáo dục và chức
năng nghiên cứu
Trong đó, chức năng giáo dục là chức năng chủ yếu. Ngoài ra, trung tâm còn
có chức năng thu thập, xử lý, bảo quản, cung cấp và phổ biến thông tin tư liệu bằng
nhiều hình thức khác nhau.
Trung tâm có nhiệm vụ sau:
- Tham gia đóng góp ý kiến cho Ban Giám hiệu về công tác thông tin, tư liệu
phục vụ cho quá trình đào tạo, giảng dạy và nghiên cứu khoa học của trường.
- Thu thập, bổ sung, trao đổi thông tin tư liệu cần thiết, tiến hành xử lý, cập
nhật dữ liệu đưa vào hệ thống quản lý và tìm tin tự động. Tổ chức cơ sở hạ tầng
thông tin.
- Phục vụ thông tin tư liệu cho bạn đọc là cán bộ, giảng viên, sinh viên trong
công tác giảng dạy, nghiên cứu và học tập.
- Hướng dẫn giúp người dùng tin tiếp cận cơ sở dữ liệu và khai thác các
nguồn tin trên mạng.
- Kết hợp với các đơn vị chức năng trong trường hoàn thành tốt quản lý, sử
dụng có hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật, vốn tài liệu của
Trung tâm.
Trong suốt quá trình hoạt động, Trung tâm luôn xác định rõ chức năng,
nhiệm vụ để từ đó đề ra các kế hoạch cụ thể nhằm hoàn thành tốt các công việc
được giao, góp phần không nhỏ vào sự nghiệp đào tạo và nghiên cứu khoa học của
trường.
Trung tâm Thông tin Khoa học Học viện Chính trị - Hành chính Quốc
gia Hồ Chí Minh
Trung tâm Thông tin khoa học thực hiện các chức năng: quản lý, bảo đảm
Tổ chức biên soạn, biên dịch các tài liệu nước ngoài, xuất bản và phát hành
các ấn phẩm thông tin: tạp chí “Thông tin khoa học chính trị - hành chính” (tiếng
Việt), tạp chí “Thông tin khoa học” (tiếng Anh), bản tin phục vụ lãnh đạo… theo
quy định của pháp luật và của Giám đốc Học viện.
-
Quản lý và tổ chức hoạt động của Thư viện. Bổ sung tài liệu theo kế hoạch
đã duyệt, thực hiện đúng các quy tắc, nghiệp vụ, quy trình hoạt động của Thư viện
để phục vụ các đối tượng dùng tin theo quy định.
- Quản lý, vận hành, phát triển mạng thông tin điện tử nội bộ và Thư viện điện tử.
-
Phát hành các loại sách, báo, tạp chí, tài liệu học tập, nghiên cứu, giảng dạy
và tham khảo khác tại Trung tâm Học viện, đáp ứng tốt nhu cầu của cán bộ, học
viên. Thu, phát, ghi, gỡ, sao, nhân băng ghi âm, ghi hình các hoạt động khoa học,
đào tạo và các hoạt động quan trọng khác của Học viện.
-
Tổ chức lưu trữ và bảo quản thông tin khoa học với các loại hình vật mang
tin khác nhau trong Học viện (dạng giấy, CD-ROM, DVD, VCD, vi phim…) theo
quy định về lưu trữ quốc gia.
-
NDT là người sử dụng thông tin để thỏa mãn nhu cầu tin của mình. NDT
trước hết là người có NCT, là chủ thể của NCT, và đồng thời cũng là người tiếp
nhận và sử dụng thông tin .
NDT là thành phần không thể thiếu trong bất kỳ hoạt động của một cơ quan
thông tin thư viện nào, có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động thông tin thư
viện, không có người dùng tin sẽ không tồn tại hoạt động thông tin thư viện. Hơn
nữa, NDT và NCT cũng là những nhân tố điều chỉnh, định hướng cho toàn bộ hoạt
động thông tin thư viện. Do đó, nắm vững nhu cầu thông tin và đặc điểm NDT của
thư viện để đáp ứng kịp thời, đầy đủ, chính xác nhu cầu thông tin của người dùng
tin là một trong những nhiệm vụ quan trọng của thư viện nói chung và thư viện các
trường đại học nói riêng.