MỤC LỤC
ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC
MÔN ĐẠO ĐỨC LỚP 5 TRƯỜNG TIỂU HỌC TRẦN QUỐC TOẢN
A. MỞ ĐẦU
Trang 2
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Trang 4
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
Trang 8
CHƯƠNG 3:
NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỀ RA NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN ĐẠO ĐỨC LỚP 5
Trang 9
C. KẾT LUẬN – ĐỀ XUẤT
Trang 19
ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC
Trang 1
và những người xung quanh theo chuẩn mực đã học; kỹ năng lựa chọn và thực
hiện các hành vi ứng xử phù hợp chuẩn mực trong các mối quan hệ và tình
huống đơn giản, cụ thể của cuộc sống; biết nhắc nhở bạn bè cùng thực hiện.
Trang 2
- Từng bước hình thành thái độ tự trọng, tự tin và khả năng của bản thân,
có trách nhiệm với hành động của mình; yêu thương tôn trọng con người; yêu cái
thiện, cái đúng, cái tốt; không đồng tình với cái ác, cái sai, cái xấu.
3. Đối tượng nghiên cứu: - Học sinh khối lớp 5.
4. Khách thể và phạm vi nghiên cứu:
4.1. Khách thể: Tập thể học sinh lớp 5c được rải đều trên các khối (thuộc
phường Tân Hoà), môi trường tiếp xúc của các em rất rộng lớn. Từ đó các chuẩn
mực hành vi đạo đức nói chung không đều. Đó là vấn đề giáo viên phải hết sức
quan tâm để khắc phục những hành vi đạo đức không lành mạnh để làm hành
trang cho các em bước vào đời.
4.2. Phạm vi: Nội dung giáo dục môn Đạo đức là để các em có một nếp
sống lành mạnh, có hành vi ứng xử trong giao tiếp đối với thầy cô, bạn bè và mọi
người xung quanh.
Giúp học sinh nhận thức được học môn Đạo đức là cần thiết để các em có
thái độ học tập tốt, để vận dụng những kiến thức đã học áp dụng vào cuộc sống
thực tế, tạo thói quen thường xuyên trong giao tiếp.
5. Các phương pháp nghiên cứu:
5.1. Phương pháp đọc sách và tài liệu:
- Đọc sách và tài liệu là một phương pháp không thể thiếu được của việc
nghiên cứu, nó được sử dụng ngay từ khi chọn đề tài, xây dựng đề cương nghiên
cứu và trong suốt cả quá trình nghiên cứu.
- Thực chất phương pháp này là giúp ta tìm hiểu, tham khảo, nắm bắt
những gì có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của ta, vấn đề đó được giải quyết
với lứa tuổi học sinh lớp 5 trong quan hệ của các em với quê hương đất nước, tổ
tiên; với phụ nữ, cụ già, em nhỏ; với bạn bè và những người xung quanh; với
hành vi việc làm của bản thân; với tài nguyên thiên nhiên.
- Biết nhận xét, đánh giá các ý kiến, quan niệm, hành vi, việc làm có liên
quan đến các chuẩn mực đã học, biết lựa chọn cách ứng xử phù hợp trong các
tình huống và biết thực hiện các chuẩn mực đã học trong cuộc sống hằng ngày.
- Biết yêu quê hương, đất nước, biết ơn tổ tiên, kính trọng người già, yêu
thương em nhỏ, tôn trọng phụ nữ, đoàn kết hợp tác với bạn bè và những người
xung quanh, có ý thức vượt khó, vượt lên trong cuộc sống, có trách nhiệm về
hành động của mình, yêu hòa bình, có ý thức bảo vệ tài nguyên thiên nhiên…
- Thông qua việc dạy - học môn Đạo đức các giá trị, chuẩn mực đạo đức
của xã hội được chuyển thành niềm tin, tình cảm, hành vi đạo đức của học sinh,
tạo cho học sinh được thực hành bài học trong thực tiễn cuộc sống.
Mục đích là hình thành phẩm chất đạo đức cho học sinh. Một phẩm chất
đạo đức bao giờ cũng có 3 khía cạnh là: ý thức, thái độ, tình cảm và hành vi, thói
quen. Do đó, để đạt được mục đích đặt ra, dạy – học môn Đạo đức phải giải
quyết 3 nhiệm vụ tương ứng: hình thành ý thức, hình thành thái độ, tình cảm và
hình thành hành vi, thói quen.
- Giáo dục ý thức đạo đức:
Trang 4
Môn Đạo đức cung cấp cho học sinh hệ thống tri thức đạo đức sơ đẳng,
trên cơ sở đó bước đầu hình thành niềm tin đạo đức, hình thành năng lực, định
hướng các giá trị đạo đức cho học sinh tiểu học. Điều đó giúp các em phân biệt
được đúng – sai, tốt – xấu, thiện - ác … để từ đó theo cái đúng, cái tốt, tránh cái
sai, đấu tranh với những biểu hiện sai trái, xấu xa, độc ác.
- Giáo dục thái độ, tình cảm đạo đức:
Giúp học sinh có thái độ rõ ràng đối với các chuẩn mực đạo đức nói riêng,
2. Yêu cầu sau khi học xong chương trình Đạo đức lớp 5:
Sau khi học xong chương trình môn Đạo đức lớp 5, học sinh cần biết thực
hiện tốt các chuẩn mực hành vi đạo đức, biết cách cư xử dùng lời lẽ đúng trong
mọi tình huống đối với các mối quan hệ với bản thân, gia đình, nhà trường, cộng
đồng và môi trường tự nhiên.
3. Nội dung chương trình môn Đạo đức và mối quan hệ giữa môn Đạo đức
với các môn học khác:
- Chương trình môn Đạo đức bao gồm một hệ thống chuẩn mực hành vi
đạo đức và pháp luật cần thiết nhất, phù hợp với lứa tuổi học sinh tiểu học, được
trình bày theo 5 mối quan hệ từ lớp 1 đến lớp 5. Cụ thể ở lớp 5:
1 tiết / tuần × 35 tuần = 35 tiết.
* Quan hệ với bản thân:
- Tự ý thức được về mình, biết phát huy những điểm mạnh, khắc phục
những điểm yếu của bản thân.
- Ham học hỏi, có ý thức vượt khó, vươn lên.
- Biết bảo vệ lẽ phải.
* Quan hệ với gia đình:
- Biết ơn tổ tiên, nhớ về cội nguồn của mình.
- Yêu quý những người thân trong gia đình. Lễ phép, vâng lời người lớn,
nhường nhịn em nhỏ.
- Có trách nhiệm với những người thân trong gia đình.
- Hiếu thảo với ông bà, cha mẹ.
* Quan hệ với nhà trường:
- Biết tin cậy và xây dựng tình bạn, tôn trọng, hòa hợp với bạn khác giới.
* Quan hệ với cộng đồng xã hội:
- Sống hòa hợp và biết hợp tác với mọi người trong công việc chung. Kính
già, yêu trẻ, tôn trọng phụ nữ.
- Yêu mến, tự hào về truyền thống quê hương đất nước.
- Tích cực tham gia các hoạt động phù hợp với khả năng để xây dựng và
- Thông qua các bài đạo đức, nhằm từng bước hình thành cho học sinh một
số kĩ năng sống cơ bản như: Kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng
xác định giá trị, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng kiên định, kỹ năng đặt mục tiêu.
- Hằng ngày các em có thói quen học tập tốt, biết giữ im lặng khi nghe thầy
cô giảng bài, biết giúp bạn bè trong học tập…Áp dụng các bài học làm vốn kiến
thức hiểu biết để cư xử đúng, tôn trọng, lịch sự trong giao tiếp, áp dụng tốt các
hành vi chuẩn mực của lứa tuổi học sinh tiểu học.
5. Một số vấn đề có liên quan về tâm lí học, giáo dục học:
* Tâm lý học: Bản thân học sinh ngay từ nhỏ như một tờ giấy trắng, các
em rất hiếu động, thích bắt chước các hành vi mà chính bản thân các em không
nhận thức được là đúng hay sai, là phù hợp hay không. Các em như búp măng
non. Muốn thân tre ngày sau mọc thẳng hay cong thì người trồng phải biết chăm
sóc suốt quá trình phát triển của măng cũng như lúc còn nhỏ các em sống trong
môi trường gia đình, các em chịu sự quản lý giáo dục của cha mẹ và người thân.
Khi các em đến tuổi đi học các em lại được giáo dục trong một môi trường rộng
hơn, có bạn, có thầy cô và nhất là được sự giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu
học, có ảnh hưởng rất lớn đối với việc hình thành nhân cách cho học sinh sau
này.
* Giáo dục học: Sau các bài đạo đức trong chương trình lớp 5, đều có một nội
dung bài học mang tính giáo dục cao. Từ nội dung bài học các em có nhận thức
đúng các hành vi chuẩn mực đạo đức tốt trong quan hệ và giao tiếp khi học hết
lớp 5. Các em được học tiếp môn Đạo đức dưới dạng Giáo dục công dân, nội
Trang 7
dung cũng mang tính giáo dục hình thành nhân cách các em trong giai đoạn
trưởng thành.
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
nội dung bài dạy đòi hỏi một phương pháp thích hợp, các kĩ năng giao tiếp không
thể hình thành và phát triển bằng con đường truyền giảng thụ động, muốn phát
Trang 8
triển được kĩ năng này, học sinh phải được hoạt động trong môi trường giao tiếp
dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh chỉ làm chủ được kiến thức khi các
em chiếm lĩnh chúng bằng những hoạt động có ý thức của mình.
CHƯƠNG 3
NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỀ RA NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG
DẠY MÔN ĐẠO ĐỨC LỚP 5
1. Giáo dục học sinh bằng sự gương mẫu của giáo viên:
- Người giáo viên cần mẫu mực, thận trọng trong giao tiếp, trong quan hệ,
không những ở trên lớp mà còn ngay ở gia đình, hàng xóm, láng giềng xung
quanh,…Cần thể hiện tốt các hành vi chuẩn mực đạo đức của người giáo viên vì
nhân cách của giáo viên có ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức hành vi chuẩn mực
của học sinh dù nhiều hay ít. Những cử chỉ, thái độ của thầy cô sẽ để lại ấn tượng
tốt hay xấu cho học sinh về sau. “Mỗi thầy cô là một tấm gương sáng cho học
sinh noi theo”.
- Trong quan hệ gia đình người giáo viên cần hòa thuận, thương yêu con
cháu. Trong quan hệ xã hội, giáo viên cần cân nhắc trong cư xử và giao tiếp. Ở
trường người giáo viên cần lên lớp đúng giờ. Hứa gì với học sinh cần đúng hẹn.
Giao tiếp với các bạn bè đồng nghiệp trước mặt học sinh phải lịch sự, nhã
nhặn… để các em có biểu tượng tốt về người thầy, của mình.
2. Một số yếu tố cơ bản khi soạn giáo án:
Việc soạn giáo án cũng không kém phần quan trọng cho một bài đạo đức.
Nếu bạn không kỹ, ít đầu tư thì sẽ thiếu những yếu tố cơ bản cần truyền thụ cho
học sinh. Vậy người giáo viên cần những yếu tố cơ bản sau:
+ Giáo viên phải xác định 3 mục tiêu của bài đạo đức: Về tri thức, thái độ
và kỹ năng, hành vi đạo đức. Từ đó xác định nội dung, phương pháp, hình thức
Bày tỏ thái độ.
Thực hiện trò chơi.
Liên hệ thực tế.
Điều tra.
Rèn luyện.
- Mỗi bài đạo đức được dạy trong 2 tiết, giáo viên cần chú trọng các tiết
thực hành, để dẫn đến nhận thức đúng. Từ đó làm cơ sở hình thành hành vi, thái
độ tích cực cho các em sau này. Vì dạy học đạo đức không chỉ là truyền thụ cho
các em bài học về kiến thức mà còn dạy học sinh cách sống và ứng xử trong các
mối quan hệ gần gũi, quen thuộc hằng ngày, phải gắn bó chặt chẽ với thực tiễn
cuộc sống của các em như: Qua các câu chuyện các tấm gương người tốt, việc
tốt. Các tranh ảnh băng hình, các tình huống … được sử dụng để dạy đạo đức
gắn liền với cuộc sống thực tiễn của các em, phản ánh những mối quan hệ, những
tình huống ứng xử cụ thể, quen thuộc với các em. Sau mỗi bài học, giáo viên
phải tạo điều kiện cho học sinh liên hệ, tự liên hệ, phân tích đánh giá hành vi của
bản thân và người khác đối chiếu với các chuẩn mực hành vi đã học.
Ví dụ: Khi dạy bài “Tôn trọng phụ nữ” .
Học sinh liên hệ bản thân: Học sinh tự kể một việc làm nào đó thể hiện
mình đã tôn trọng các bạn nữ trong lớp hoặc tôn trọng mẹ và chị mình,…
Hoặc cho các em kể về hành vi nào đó mà các em đã chứng kiến hoặc
được nghe về một người đã xúc phạm danh dự, hành hung phụ nữ.
- Từ những hành vi trên, giáo viên tạo điều kiện cho các em tập xử lý các
tình huống cụ thể, phổ biến trong cuộc sống.
- Bước đầu tạo điều kiện cho học sinh tập điều tra tìm hiểu, phân tích
những vấn đề trong cuộc sống ở lớp, ở trường, ở địa phương có liên quan đến
chủ đề bài học.
Ví dụ: Dạy bài “Kính già, yêu trẻ”, giáo viên cho học sinh theo dõi nhau
như: Bạn mình có lễ phép, chào hỏi người lớn tuổi không, có biết giúp đỡ người
già và em nhỏ khi gặp khó khăn không…
Đến tiết 2 các em báo cáo về bản thân và đối chiếu với các hành vi đã học.
+ Yêu cầu chuẩn mực hành vi đạo đức tương ứng với câu hỏi “Qua câu
chuyện trên, các em rút ra bài học gì? ”.
+ Sự cần thiết: Ý nghĩa, tác dụng của việc thực hiện và tác hại của việc
làm trái với chuẩn mực hành vi đạo đức đó tương ứng với câu hỏi “ Vì sao ? ”.
+ Cách thực hiện các chuẩn mực hành vi: Những việc cần làm và những
việc cần tránh theo chuẩn mực hành vi quy định tương ứng với câu hỏi “ … như
thế nào ? ”.
* Đây cũng chính là nội dung đầy đủ của bài học đạo đức.
3.3. Để tạo hứng thú cho cả lớp, giáo viên nên gọi những học sinh nào khi
đặt câu hỏi đàm thoại?
Khi yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi, giáo viên có thể hỏi một học sinh nào
đó mà không nên phân biệt em đó có giơ tay xin phát biểu hay không. Sai lầm
của nhiều giáo viên là: Chỉ hỏi những em xung phong, (khi đó, giáo viên chỉ biết
được nhận thức của một số em khá giỏi mà thôi và quan trọng là không tạo điều
Trang 11
kiện cho những em nhút nhát sự tự tin cần thiết) mà giáo viên cần phải lựa chọn
được câu hỏi phù hợp cho từng em học sinh.
3.4. Giáo viên cần làm gì khi học sinh không trả lời được câu hỏi ?
Khi học sinh không trả lời được câu hỏi, giáo viên nên nêu những câu hỏi
gợi ý mà không được trả lời thay cho các em. Trong thực tiễn dạy học môn Đạo
đức, những câu hỏi mà học sinh gặp khó khăn khi trả lời thường là hai câu hỏi
“Tại sao” và “như thế nào”.
Ví dụ: Câu hỏi: “Tại sao chúng ta phải tôn trọng phụ nữ ?”. Giáo viên có
thể gợi ý như sau: “Trong gia đình người phụ nữ thường làm những việc gì? –
Ngoài xã hội người phụ nữ giữ những chức vụ gì ? – Vậy chúng ta cần tỏ thái độ
như thế nào đối với phụ nữ?”
+ Giáo viên tránh những biểu hiện như chê bai, chế diễu, quát nạt, dọa
dẫm học sinh.
Tránh diễn đạt khô khan mà nên sử dụng những lời nói quen thuộc hằng ngày
sao cho câu chuyện dí dỏm, gây xúc cảm. Để cung cấp đầy đủ các hành vi chuẩn
mực đạo đức thuộc phạm vi bài học, giúp học sinh dùng các biểu tượng để vạn
dụng vào thực hành.
3.6. Giáo viên sử dụng phương pháp đóng vai trong dạy học đạo đức để làm
gì ?
* Phương pháp này có lợi ở chỗ:
- Học sinh được rèn luyện, thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái
độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn.
- Gây hứng thú và chú ý cho học sinh.
- Tạo điều kiện làm nảy sinh óc sáng tạo của học sinh.
- Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo chuẩn mực hành
vi đạo đức.
- Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các
vai diễn.
* Cách tiến hành:
- Giáo viên chia nhóm, giao nhiệm vụ đóng vai cho từng nhóm và quy
định thời gian chuẩn bị.
- Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai 3 phút – 5 phút.
- Các nhóm lên đóng vai 5 phút – 10 phút.
- Lớp thảo luận, nhận xét:
+ Cách ứng xử của các vai diễn phù hợp hay chưa phù hợp? Chưa phù hợp
ở chỗ nào?
+ Cảm xúc của học sinh khi thực hiện cách ứng xử? Khi nhận được cách
ứng xử đúng hoặc sai.
- Giáo viên kết luận về cách ứng xử cần thiết trong tình huống.
Ví dụ: Dạy bài: “Có trách nhiệm về việc làm của mình”.
Giáo viên tổ chức đóng vai thảo luận nhóm. Truyện “Chuyện của bạn Đức”.
Mỗi nhóm cử 3 bạn đóng vai bà Doan, bạn Đức và bạn Hợp.
học môn Đạo đức?
Ngày nay các phương tiện kỹ thuật hiện đại đang được đưa vào dạy học ở
tiểu học nói chung và dạy học môn Đạo đức nói riêng. Phương tiện gồm các loại
sau:
+ Phương tiện in vẽ: Các loại tranh, ảnh, hình vẽ… minh họa cho các tình
tiết, tình huống, hành vi của truyện kể đạo đức (để học sinh rút ra bài học đạo
đức), hoặc được đưa ra để học sinh đánh giá, xử lý trong quá trình thực hành.
+ Các phương tiện là đồ vật, mô hình: Ví dụ để sắm vai cụ già cần có gậy,
kính, mũ nón …
+ Các phương tiện nghe nhìn như Video, đầu đĩa …
Ví dụ: Video cho học sinh xem phim có nội dung: Trật tự an toàn giao
thông, 15 phút ở bệnh viện Chợ Rẫy, Tác hại của tiêm chích ma túy, phong cảnh
của Tổ quốc Việt, …
3.9. Trong dạy học môn Đạo đức giáo viên nên sử dụng những hình thức tổ
chức nào ?
Dạy môn Đạo đức có thể phân biệt rõ tiết 1 và tiết 2. Ngoài hình thức bài
lên lớp, giáo viên có thể vận dụng những hình thức tổ chức sau:
+ Dạy học tại hiện trường: Ví dụ tiến hành dạy bài “Kính già, yêu trẻ”
các em biết giúp đỡ các em lớp 1, lớp 2 như xếp hàng khi chào cờ, tập thể dục
giữa giờ …
+ Tham quan: Khi dạy bài “Nhớ ơn tổ tiên” Ngoài việc giáo dục các em
viếng mộ ông bà, giáo viên còn tổ chức cho các em viếng thăm bà mẹ Việt Nam
anh hùng, thăm khu di tích, … Tham quan Ủy ban nhân dân xã khi dạy bài “Ủy
ban nhân dân xã (phường) em”.
+ Dạy học theo nhóm: Ví dụ thảo luận theo nhóm, điều tra theo nhóm.
Trang 14
Ví dụ: Tổ chức cho học sinh điều tra theo nhóm để tìm hiểu về các hoạt
động bảo vệ hòa bình, chống chiến tranh gặp các cựu chiến binh ở địa phương.
diễn, hoạt cảnh, trò chơi…
- Giáo viên tăng cường hoạt động thực hành thay cho việc đọc, ghi nhớ
máy móc…
- Để học sinh thực hiện tốt việc tự học, giáo viên cần đưa nội dung tự học
vừa sức, tích cực, giúp các em hiểu rõ nhiều công việc cần làm và cách thực hiện,
phối hợp với gia đình tạo điều kiện thuận lợi cho việc tự học của các em. Đặc
biệt là đối với những công việc điều tra sưu tầm, tham gia hoạt động ngoại
khóa…
Ví dụ: Theo bài “Nhớ ơn tổ tiên”, học sinh có thể:
Trang 15
- Tự trả lời những câu hỏi như: Các em cần làm làm gì để tỏ lòng nhớ ơn
tổ tiên?
- Học sinh ghi lại những việc đã làm vào phiếu rèn luyện, thực hành.
- Chuẩn bị những dụng cụ, đồ vật cho trò chơi sắm vai theo yêu cầu của
giáo viên.
3.12. Trong dạy học môn Đạo đức có 3 tiết dành cho địa phương, giáo viên
có thể tổ chức thành các hoạt động ngoại khóa:
Để vận dụng được hình thức này, giáo viên cần lưu ý: Tính chất bài đạo
đức phù hợp với hoạt động; hoạt động vừa sức với khả năng, hứng thú của học
sinh.
Ví dụ: Với những bài sau, có thể vận dụng hình thức này: Bài “Tình bạn”
– Học sinh học giỏi giúp đỡ học sinh yếu, bênh vực bạn có sức khỏe yếu.
Bài “Tôn trọng phụ nữ”, học sinh nam không lấn lướt, coi thường các
bạn nữ trong lớp.
Bài: “Em yêu hòa bình” học sinh biết giúp đỡ những gia đình thương
binh, liệt sĩ gặp khó khăn, quyên góp giúp đỡ những nạn nhân chiến tranh bị ảnh
hưởng chất độc màu da cam, tham gia phong trào “Áo lụa tặng bà”…
Sau khi hoạt động được tổ chức giáo viên nên tạo điều kiện cho học sinh
- Hãy đánh dấu + vào 1 ô mà em cho là đúng nhất.
+ Nếu bạn bè không quan tâm giúp đỡ nhau thì:
Cô giáo sẽ không hài lòng.
Bạn bè sẽ không cho mình quà.
Khó khăn không được chia sẻ, chậm tiến bộ, tình bạn không gắn bó.
4.2. Để kiểm tra thái độ, tình cảm đạo đức của học sinh thì giáo viên làm thế
nào ?
* Giáo viên kiểm tra, đánh giá thái độ tình cảm học sinh bằng những cách sau:
+ Kiểm tra nói: Giáo viên có thể đề nghị học sinh bày tỏ thái độ, tình cảm
của mình khi thực hiện những hành vi công việc theo chuẩn mực quy định qua
việc giải thích động cơ việc mình làm.Ví dụ: Bài “Nhớ ơn tổ tiên” sau khi học
sinh nêu một số việc mình đã làm để chăm sóc ông bà, cha mẹ trong thời gian
qua, giáo viên có thể hỏi học sinh: Vì sao em làm những công việc đó ?
Khi đó, học sinh sẽ nói lên động cơ là tình cảm của bản thân đối với những
người trong gia đình, trong dòng họ.
- Giáo viên có thể đưa ra một vài hành vi: “Đôi bạn cùng nhau đi trong
rừng, bổng xuất hiện trước mắt họ một con gấu. Một người lập tức bỏ chạy và
leo tót lên cây ẩn nấp. Người kia đứng lại, anh liền ngã lăn ra đất giả vờ chết.
Gấu chỉ ngửi vào mặt anh rồi bỏ đi”.
Giáo viên hỏi: Các em có tán thành với thái độ của người bỏ chạy không?
Vì sao?
+ Trong trường hợp này, học sinh bày tỏ thái độ của mình cần đối xử tốt
với bạn bè gặp nguy hiểm…
+ Kiểm tra viết: Giáo viên đưa ra một số câu dẫn hay phát biểu và yêu cầu
học sinh bày tỏ thái độ với các mức như đồng ý (tán thành), phân vân, không
đồng ý (không tán thành)…
Ví dụ: Bài “Em yêu quê hương”.
- Hãy đánh dấu ( + ) vào những trường hợp thể hiện tình quê hương phù hợp với
thái độ của em.
STT
di tích, xây dựng các công
trình công cộng ở quê.
Không về thăm quê
Tham gia trồng cây ở đường
làng, ngõ xóm.
Chỉ có người giàu mới cần
trách nhiệm đóng góp xây
dựng quê hương.
4.3. Làm thế nào để kiểm tra đánh giá hành vi của học sinh?
Giáo viên quan sát việc học sinh thể hiện hành vi, thực hiện công việc liên
quan bài học đạo đức và tình cảm của mình.
Những hành vi, công việc có thể được thực hiện một cách “bình thường”
trong cuộc sống của mình ở mọi lúc, mọi nơi.
Ví dụ như vệ sinh trường, lớp học, vệ sinh cá nhân… Chào hỏi người lớn
có thể là đứng nghiêm, cất mũ, nón, tươi cười, nói lời phù hợp…
Có thể thông qua các hoạt động thường ngày của học sinh mà giáo viên
biết được hành vi của các em đối với thầy cô giáo, bạn bè, trường lớp …
* Mặc dù hành vi của các em lại chưa bền vững. Người giáo viên cần phải
kiên trì theo dõi, nhắc nhở thường xuyên, kịp thời.
Ngoài ra, việc kiểm tra đánh giá hành vi học sinh cũng có thể được thực
hiện thông qua bạn bè, gia đình học sinh, các tổ chức xã hội … cần để đánh giá
thêm khách quan công bằng.
- Giáo viên nêu thêm một số hành vi đạo đức tốt có liên quan đến nội dung
từng bài học cho học sinh rút kinh nghiệm cho bản thân.
- Thường xuyên lồng trong bài học gương các danh nhân nổi tiếng về lòng
hiếu thảo, tính nhân hậu … để học sinh có biểu tượng về hành vi đạo đức.
- Chủ động phối hợp với Tổng phụ trách Đội sinh hoạt giáo dục đạo đức
học sinh theo 5 điều Bác Hồ dạy.
- Các em luôn liên hệ thực tế với nội dung bài học, để phân tích, phê phán
trên. Giúp các em có thói quen sử dụng tốt những hành vi chuẩn mực có hiệu quả
trong giao tiếp. Tôi nghĩ rằng việc giúp học sinh học tốt môn Đạo đức lớp 5,
ngoài việc phát triển các hành vi đạo đức cho các em cần có yêu cầu cao hơn, là
để học sinh trở thành các công dân tốt cho xã hội, là thành viên tốt trong gia
đình. Vì vậy không chỉ một mình giáo viên mà thực hiện tốt được mà người giáo
viên cần chủ động phối hợp tốt với bạn bè học sinh, thầy cô giáo trong trường,
phụ huynh học sinh và các tổ chức xã hội.
Mặc dù, số học sinh đã đạt ở mức hoàn thành, nhưng tôi nhận thấy mình
cần duy trì và phát huy hơn nữa. Bằng cách học hỏi ở đồng nghiệp, tìm tòi ở sách
báo để học hỏi những biện pháp giáo dục tích cực, nhằm phục vụ cho việc dạy
đạo đức có sức thuyết phục hơn nữa. Để cuối năm học sinh đạt ở mức độ hoàn
thành tốt 100%.
Trang 19
2. Đề xuất:
- Nhà trường cần giúp đỡ nhiều đến số học sinh nghèo, thiếu sách vở, đồ
dùng học tập bằng cách rà soát kỹ, cấp sách kịp thời, để các em yên tâm học tập.
- Hội khuyến học cần quan tâm đúng mức đến những học sinh có hoàn
cảnh quá khó khăn bằng vật chất để động viên các em tích cực học tập.
- Hội chữ thập đỏ trường học tận tình giúp đỡ các em trong và ngoài hội
lúc các em gặp khó khăn.
- Gia đình cần tạo điều kiện cho các em thực hiện tốt giờ học ở nhà cũng
như ở lớp. Dự họp phụ huynh đầy đủ khi có thư mời. Đảm bảo thông tin liên lạc
giữa gia đình và nhà trường.
- Các tổ chức xã hội kiểm tra các băng đĩa có nội dung không lành mạnh,
quy định giờ giấc kinh doanh của các quán, tiệm … để học sinh không la cà, lêu
lổng… ảnh hưởng đến nhân cách đạo đức của các em.
Tôi mong rằng những đề xuất này sẽ được nhà trường, gia đình học sinh
và các tổ chức xã hội đáp ứng kịp thời, nhằm phục vụ tích cực, để giáo dục học