Giáo dục pháp luật cho học sinh, sinh viên qua thực tiễn trường đại học nội vụ hà nội - Pdf 41

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

PHẠM ĐÌNH KIÊN

GI¸O DôC PH¸P LUËT CHO HäC SINH, SINH VI£N QUA THùC TIÔN TR¦êNG §¹I HäC NéI Vô Hµ NéI
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2016


Công trình được hoàn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS HOÀNG THỊ KIM QUẾ

Phản biện 1: .........................................................................
Phản biện 2: .........................................................................

Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn, họp
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vào hồi .... giờ ...., ngày ..... tháng ..... năm 2016

Có thể tìm hiểu luận văn tại
Trung tâm tư liệu Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội
Trung tâm tư liệu – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội



đặt ra như một yếu tố khách quan. Điều đó không chỉ nhằm mục đích
xây dựng một xã hội có trật tự, kỷ cương, văn minh mà còn hướng đến
bảo vệ và phát triển các giá trị chân chính, trong đó ý thức pháp luật
đóng một vai trò quan trọng. Tại các trường đại học, cao đẳng giáo dục
pháp luật cho sinh viên là một hoạt động giáo dục cụ thể, gắn bó hữu cơ
với hoạt động giáo dục nói chung. Hoạt động giáo dục pháp luật được
thực hiện thông qua các hoạt động, chương trình giáo dục chính khóa và
ngoại khóa, đây là hoạt động có vai trò to lớn đối với sự phát triển toàn
diện của con người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ, trong đó có việc
hình thành ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý trong nhân dân. Giáo dục
pháp luật cho sinh viên các trường đại học là hoạt động có định hướng,
có tổ chức, có chủ đích của các chủ thể giáo dục pháp luật thông qua các
hoạt động giáo dục chính khóa và ngoại khóa bằng các phương pháp
giáo dục khác nhau nhằm trang bị tri thức pháp luật cơ bản, định hướng,
phát triển nhân cách và tư cách công dân, nâng cao nhận thức, góp phần
điều chỉnh hành vi, hình thành thói quen tự giác xử sự đúng pháp luật,
có ý thức tuân thủ pháp luật và có tri thức pháp luật về chuyên môn
nghiệp vụ, ngành nghề lĩnh vực mình được đào tạo.
Về cơ bản, sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên
nghiệp đã được học thì đều hiểu biết về pháp luật. Đại bộ phận sinh viên
có ý thức tôn trọng pháp luật, chấp hành nội quy, quy chế của các nhà
trường, thực hiện tốt các quy tắc và lối sống công cộng, tuy nhiên, vẫn còn
một bộ phận sinh viên có biểu hiện xuống cấp về đạo đức, lối sống, vi
2


phạm pháp luật, thậm chí phạm tội nghiêm trọng làm cho cả xã hội phải
quan tâm, lo lắng. Được thành lập ngày 18 tháng 12 năm 1971 tại huyện
Mê Linh-tỉnh Vĩnh Phúc, đến nay Trường Đại học Nội vụ Hà Nội Hiện có
425 cán bộ, giảng viên và công nhân viên; trong đó có: 15 PGS - TS, 45

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
- Các công trình nghiên cứu về giáo dục pháp luật
Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về giáo dục pháp luật
nhằm làm sáng tỏ khái niệm, chủ thể, mục đích, đối tượng, nội dung,
hình thức, phương pháp của giáo dục pháp luật; các mối quan hệ giữa
3


giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức, học vấn, văn hoá… thể hiện
qua các công trình nghiên cứu như:
1. Hoàng Thị Kim Quế (2011), “Bàn về hiệu quả phổ biến, giáo
dục pháp luật ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Khoa học pháp lý - Trường
Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, (4), tr. 3-8.
2. Hoàng Thị Kim Quế (2006) Quyền con người và giáo dục quyền
con người ở Việt nam hiện nay. Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà
Nội (số 4-2006).
3. Hoàng Thị Kim Quế, Nội dung, hình thức và phương pháp giáo dục
pháp luật trong nhà trường, tạp chí Dân chủ và pháp luật, số tháng 3/ 2015.
4. Hoàng Thị Kim Quế, Cần giáo dục và tổ chức thực hiện Hiến
pháp năm 2013 thật sự hiệu quả, Tạp chí Kiểm sát, Viện kiểm sát nhân
dân tối cao, số 15 (tháng 8 năm 2014), trang: 2- 8.
5. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong thời
kỳ đổi mới, Đề tài khoa học cấp Bộ năm 1994, mã số 92-98-223-ĐT, của
Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp; Giáo dục ý thức pháp
luật, Nguyễn Trọng Bích, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 4/1989; Bàn về giáo
dục pháp luật, Trần Ngọc Đường và Dương Thanh Mai, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà nội, 1995; Cơ sở khoa học của việc xây dựng ý thức pháp
luật và lối sống theo pháp luật, Đề tài khoa học cấp Nhà nước, mã số
KX.07-17, Viện Nhà nước và pháp luật - Trung tâm Khoa học xã hội và
Nhân văn chủ trì…

trọng đặc biệt đó là tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật. Đây là một
biện pháp không thể thiếu được trong quá trình xây dựng và thực hiện
pháp luật, nhằm hình thành một cách bền vững ý thức tôn trọng pháp luật
của người dân. Xác định đúng tầm quan trọng của công tác tuyên truyền,
phổ biến, giáo dục nâng cao ý thức pháp luật nên trong Văn kiện Đại hội
Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, X, XI, Đảng ta nhấn mạnh phải phát huy
dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế, quản
lý xã hội bằng pháp luật, tuyên truyền, giáo dục toàn dân nâng cao ý thức
chấp hành pháp luật. Đây chính là điều kiện đảm bảo cho công cuộc đổi
mới và hội nhập quốc tế thành công, khẳng định vị thế ngày càng cao của
Việt Nam trên trường quốc tế.
Những nội dung liên quan đến lĩnh vực giáo dục pháp luật, thời gian
qua đã có một số người quan tâm nghiên cứu. Trong những năm gần đây ở
những góc độ khác nhau, các tác giả đã cho ra mắt bạn đọc các công trình
nghiên cứu của mình, dưới các hình thức như đề tài khoa học, luận án tiến
sĩ, luận văn thạc sĩ, sách, các bài viết trên các tạp chí, các báo...
Với quan niệm phổ biến, giáo dục pháp luật, đặc biệt là giáo dục
pháp luật cho học sinh trong các nhà trường là giáo dục đạo đức, lối sống,
giáo dục ý thức công dân, ý thức làm người, Do đó Đảng và chính phủ đã
ra nhiều nghị quyết, chỉ thị trong đó khẳng định một hình thức, biện pháp
cơ bản, chiến lược và hữu hiệu để xây dựng và nâng cao ý thức PL của
nhân dân là “đưa việc GDPL vào các trường học, các cấp học, từ phổ thông
đến ĐH, trung học chuyên nghiệp và các trường của các đoàn thể nhân
dân”. Để làm được điều đó thì một trong những vấn đề có tầm quan trọng
đặc biệt là làm cho HSSV dần hình thành được một cách tự giác những
hành vi ứng xử theo những chuẩn mực nhất định rong đó có chuẩn mực
pháp luật. Vì vậy hiểu biết pháp luật là một bộ phận quan trọng không thể
thiếu được của học vấn từ phổ thông đến ĐHCĐ và GDPL cho HS, SV
hiện nay là một nhu cầu bức thiết nhìn dưới góc độ đối tượng giáo dục.
5

Đại học Nội vụ Hà Nội, được tiếp cận theo chuyên ngành Lý luận và lịch
sử nhà nước và pháp luật.
5. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
+ Phương pháp logic - lịch sử: sử dụng phương pháp này nhằm tìm
hiểu, nghiên cứu vấn đề theo trình tự khoa học từ đơn giản đến phức tạp,
từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện;
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp: nhằm phân tích, đánh giá và
khái quát hóa các vấn đề trong tiến trình nghiên cứu đề tài.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
6


+ Phương pháp quan sát: quan sát thực tế vấn đề giáo dục pháp luật
cho học sinh, sinh viên Trường Đại học Nội vụ Hà Nội;
+ Phương pháp thống kê toán học: sử dụng phương pháp này để xử
lý các số liệu thu được về mặt định lượng;
+ Phương pháp điều tra: sử dụng phiếu điều tra với hệ thống các câu
hỏi để thăm dò ý kiến của học sinh, sinh viên, cán bộ giảng viên … về tình
hình giáo dục ý thức pháp luật cho HSSV Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
6. Đóng góp của luận văn
- Về mặt lý luận: góp phần xây dựng cơ sở lý luận về việc nâng cao
hiệu quả giáo dục pháp luật tại Trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
- Về mặt thực tiễn: nhằm nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho
HSSV Trường Đại học Nội vụ Hà Nội thông qua thực hiện các giải pháp
trong thời gian tới, đáp ứng nhu cầu của xã hội về đào tạo nguồn nhân lực
có chất lượng cao, góp phần xây dựng đội ngũ công chức, viên chức có đủ
phẩm chất và năng lực trong giai đoạn hiện nay.
7. Giả thuyết nghiên cứu

những hành vi và thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội...
Xuất phát từ khái niệm giáo dục có thể thấy GDPL là hình thức giáo
dục cụ thể, là “cái riêng”, “cái đặc thù” trong mối quan hệ với giáo dục nói
chung. GDPL với tư cách là một bộ phận trong hệ thống giáo dục vừa
mang những nét của giáo dục, sử dụng các hình thức phương pháp của
giáo dục nói chung vừa có những nét đặc thù. Những nét riêng đó được thể
hiện ở mục đích giáo dục là hình thành tri thức (mục đích nhận thức), hình
thành tình cảm, lòng tin với pháp luật (mục đích cảm xúc) và xây dựng
thói quen thực hiện hành vi hợp pháp (mục đích hành vi).
Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu chúng tôi cho rằng: GDPL là hoạt
động có tổ chức, có mục đích có tính định hươń g tác động lên các đối tươṇ g
giáo dục nhằm làm hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm, niềm tin đối
với pháp luật và hành vi xử sự phù hợp với pháp luật hiện hành.
Từ sự phân tích ở trên có thể rút ra khái niệm giáo dục pháp luật như
sau: giáo dục pháp luật là quá trình tác động một cách có hệ thống, mục
đích và thường xuyên tới nhận thức của con người nhằm trang bị cho mỗi
người trình độ pháp lý nhất định để từ đó có ý thức đúng đắn về pháp luật,
tôn trọng và tự giác xử sự theo yêu cầu của pháp luật.
1.1.2. Khái niệm và mục đích giáo dục pháp luật
- Giáo dục pháp luật là quá trình tác động một cách có hệ thống,
mục đích và thường xuyên tới nhận thức của con người nhằm trang bị cho
mỗi người trình độ pháp lý nhất định để từ đó có ý thức đúng đắn về pháp
luật, tôn trọng và tự giác xử sự theo yêu cầu của pháp luật.
- Mục đích của giáo dục pháp luật
+ Mục đích nhận thức: Tri thức pháp luật có vai trò quan trọng đối
với việc hình thành tình cảm, lòng tin và thái độ đúng đắn đối với pháp
luật. Tri thức pháp luật còn giúp con người tổ chức một cách có ý thức
hành động của mình và tự đánh giá kiểm tra, đối chiếu hành vi với các
chuẩn mực pháp luật.
+ Mục đích cảm xúc: Đây là mục đích quan trọng của giáo dục pháp

thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp
tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc”
1.2. GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH, SINH VIÊN TRƯỜNG
ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của học sinh, sinh viên Trường Đại
học Nội vụ Hà Nội
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội là cơ sở giáo dục đại học công lập
thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, trực thuộc Bộ Nội vụ, có chức năng: Tổ
chức đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độ đại học, sau đại học và
thấp hơn trong lĩnh vực công tác nội vụ và các ngành nghề khác có liên
quan; hợp tác quốc tế; nghiên cứu khoa học và triển khai áp dụng tiến bộ
khoa học công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Trong những năm qua, Trường ĐH Nội vụ Hà Nội không ngừng mở
9


rộng quy mô và trình độ đào tạo. Từ một vài chuyên ngành ban đầu như
Nghiệp vụ Văn thư, Lưu trữ, Hành chính văn phòng.... đến nay Trường đã
đào tạo trình độ 08 chuyên ngành trình độ đại học, 10 chuyên ngành trình
độ cao đẳng, 03 chuyên ngành trung cấp chuyên nghiệp. Các chuyên
ngành đào tạo của Trường bao gồm cả chương trình chuyên về luật là Cao
đẳng Dịch vụ pháp lý và cử nhân Luật. Đây là đặc điểm mang tính lợi thế
đối với hoạt động giáo dục pháp luật cho HSSV trường ĐH Nội vụ vì trình
độ của giảng viên tương đối đồng đều và đạt trình độ cao.
1.2.2. Khái niệm, mục đích của giáo dục pháp luật cho học sinh,
sinh viên Trường ĐH Nội vụ Hà Nội
- GDPL cho HSSV Trường ĐH Nội vụ Hà Nội hiện nay có vị trí
quan trọng trong các hình thức GDPL nói chung, có ý nghĩa đặc biệt trong
công tác giáo dục đào tạo của Nhà trường. Nét đặc thù của GDPL trong

sáng tạo, tính tích cực nhạy bén, năng động trong học tập, nghiên cứu, ứng
dụng cũng như trong các quan hệ xã hội. HSSV có khả năng và mong
muốn trở thành lao động trí óc do đó luôn tò mò, ham hiểu biết, chịu khó
học hỏi, thích cái mới và thường có quyết tâm cao để thể hiện các ý định
của mình. Tuy nhiên, HSSV cũng có những hạn chế nhất định như nông
nổi, bồng bột, dễ bị kích động, khó kiềm chế, đôi khi tự cao, tự mãn hoặc
tự ti, tự phụ, thích tự do phóng khoáng hay đua đòi...
1.3.2. Đặc điểm về nội dung giáo dục
Nội dung GDPL hướng vào những nội dung cơ bản sau:
Một là, hướng vào việc trang bị cho HSSV những kiến thức cơ bản
về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
Hai là, nội dung GDPL tập trung vào việc giáo dục ý thức, thói quen
thực hiện pháp luật cho HSSV.
Ba là, hướng vào việc trang bị cho HSSV những kiến thức về quyền
hạn, trách nhiệm, bổn phận của người học được thể hiện trong các văn bản
pháp luật của nhà trường như quy chế đào tạo, điều lệ trươǹ g ĐHCĐ, quy
chế HSSV.
Bốn là, GDPL trong nhà trường còn được cụ thể hóa thành các nội
dung GDPL cụ thể như: Giáo dục luật an toàn giao thông; giáo dục sức
khỏe, tình yêu và giới tính, giáo dục phòng chống nạn bạo lực học đường;
giáo dục phòng chống các tệ nạn xã hội, giáo dục luật bảo vệ môi trường....
Năm là, bên cạnh việc truyền thụ tri thức pháp luật thì nội dung GDPL
trong trươǹ g ĐHCĐ còn nhằm bồi dươñ g nhận thức, tình cảm về sự công
bằng và nghiêm minh của pháp luật, định hươń g để HSSV tự giác tuân thủ
pháp luật, sử dụng đúng đắn các quyền và nghĩa vụ trong những tình huống
pháp luật cụ thể, tự ý thức đươc̣ trách nhiệm của mình đối với xã hội.
1.3.3. Đặc điểm về hình thức và phương pháp giáo dục pháp luật
1.3.3.1. Hình thức giáo dục pháp luật
1.3.3.2. Phương pháp giáo dục pháp luật
1.4. CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ

(lựa chọn nội dung, hình thức, phương pháp), năng lực huy động và phối
hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài trường, kĩ năng nắm bắt tâm
lý của các đối tượng....
1.4.5. Tính tích cực, chủ động và sáng tạo của HSSV
Tính tích cực và chủ động của HSSV có tác động rất lớn tới kết quả
của công tác GDPL. HSSV là đối tượng của công tác GDPL, vì vậy đây là
hoạt động chính của SV. Khi tổ chức công tác GDPL chủ thể GDPL cần
phải phát huy được tính tự quản, tính tích cực, chủ động và sáng tạo của
HSSV. Ngoài ra các hoạt động này còn phải phù hợp với đặc điểm tâm
sinh lý của HSSV nhằm thu hút, hấp dẫn HSSV tham gia vào các hoạt
động do CBGV tổ chức
1.4.6. Môi trường xã hội
Môi trường xã hội bên ngoài nhà trường có ảnh hưởng lớn đến công
tác GDPL cho HSSV. Khi GDPL cho HSSV nhà trường cần quan tâm đến
yếu tố này để đảm bảo hiệu quả của công tác GDPL. Bên cạnh đó là môi
trường giáo dục của gia đình bao gồm lối sống, hành vi đạo đức, thói quen
thực hiện pháp luật...của gia đình cũng ảnh hưởng lớn đến nhân cách và
việc thực hiện pháp luật của HSSV.
1.4.7. Cơ sở vật chất và trang thiết bị
Muốn nâng cao chất lượng công tác GDPL, không thể tách dời yếu
12


tố cơ sở vật chất-thiết bị dạy học. Cơ sở vật chất - thiết bị dạy học hiện đại
là điều kiện để người giảng viên thực hiện đổi mới phương pháp dạy học,
điều kiện để nâng cao chất lượng đào tạo, chất lượng đội ngũ. Thiết bị dạy
học vừa là công cụ, phương tiện cho việc giảng dạy, vừa là đối tượng của
nhận thức. Nó là thành tố không thể thiếu được trong cấu trúc toàn vẹn của
quá trình giáo dục, giảng dạy, góp phần quyết định nâng cao chất lượng
đào tạo, là cầu nối giữa giảng viên và sinh viên, làm cho hai nhân tố này

pháp luật

2

1,5

0,5

2. Bài 2: Nhà nước và hệ thống pháp luật Việt Nam

3

2,5

0,5

3. Bài 3: Luật Nhà nước

2

1,5

0,5

13

Kiể
m
tra


3

2,5

0,5

9. Bài 8: Luật Hành chính và pháp luật Hình sự

3

2

1

10. Bài 9: Luật phòng chống tham nhũng

5

4

1

11. Kiểm tra

1
22

6

8.

Chương 2: Nhà nước cộng hòa xã hội
Chủ nghĩa Việt Nam

01

0

01

0

Tổng giờ

04
03

Chương 3: Khái quát chung về pháp luật
03
01
0
04
Chương 4: Quy phạm pháp luật – Hệ
04
02
0
05
thống văn bản quy phạm pháp luật
Chương 5: Quan hệ pháp luật
02
01

Chương 1: Khái quát chung về Luật Hành
chính
Chương 2: Các nguyên tắc cơ bản trong
quản lý hành chính nhà nước
Chương 3: Quy phạm pháp luật hành
chính, quan hệ pháp luật hành chính
Chương 4: Cơ quan hành chính nhà nước
Chương 5: Cán bộ, công chức, viên chức
Chương 6: Tổ chức xã hội và cá nhân
Chương 7: Quyết định hành chính
Chương 8: Thủ tục hành chính
Chương 9: Vi phạm pháp luật hành chính
và trách nhiệm pháp lý hành chính
Chương 10: Bảo đảm pháp chế và kỷ luật
nhà nước trong quản lý hành chính nhà nước.
Tổng


thuyết

Bài
tập/
thảo
luận

Thực
hành

Tổng giờ


2
2
0
0
1

0
0
0
0
0

06
06
03
03
03

5

2

0

07

2

1


hài hòa giữa lý luận và thực tiễn, học đi đôi với hành, đồng thời bổ sung
thêm những kiến thức, hiểu biết về các giá trị pháp luật cho sinh viên.
Trong những năm qua, hoạt động ngoại khóa của Nhà trường được mở
rộng bằng rất nhiều hình thức đa dạng như: Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu,
Tổ chức các hoạt động tập thể....
2.3. NHỮNG HẠN CHẾ YẾU KÉM TRONG CÔNG TÁC GIÁO
DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH, SINH VIÊN TRƯỜNG ĐH NỘI
VỤ HÀ NỘI
Mặc dù Trường Đại học Nội vụ Hà Nội đã thực hiện việc triển khai
nội dung giáo dục pháp luật cho HSSV nhằm giúp HSSV nhận thức được
các hành vi vi phạm kỷ luật trong trường và hình thành được thói quen
sống và làm việc theo pháp luật. Cùng với quá trình triển khai nội quy, quy
chế đào tạo của nhà trường thì môn học Pháp luật đại cương, Luật Hành
chính... có mục tiêu chính là giáo dục nhân cách, xây dựng ý thức pháp
luật cho công dân. Giáo dục pháp luật đã thực sự trở thành nội dung giáo
dục văn hóa phổ thông trong Nhà trường. Trong quá trình thực hiện bên
cạnh những thành tích mà công tác giáo dục pháp luật đã đạt được thì vẫn
còn bộc lộ nhiều tồn tại, hạn chế cần phải nghiên cứu xem xét nhằm đưa ra
những giải pháp tích cực góp phần nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật.

Chương 3
QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP CƠ BẢN VỀ GIÁO DỤC
PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH, SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI HIỆN NAY
3.1. QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO
HỌC SINH, SINH VIÊN
3.1.1. Giáo dục pháp luật cho sinh viên, học viên phải góp phần
bảo vệ, bảo đảm các quyền, lợi ích của học sinh, sinh viên
Giáo dục pháp luật cho HSSV Trường ĐH Nội vụ Hà Nội góp phần
vào việc phổ biến giáo dục pháp luật, xây dựng thói quen, ý thức “Sống,

bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp có đủ phẩm chất, trình độ và năng
lực, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân, sự nghiệp phát triển của đất nước
và hội nhập quốc tế.
3.1.4. Giáo dục pháp luật cho học sinh, sinh viên nhằm tạo lập ý
thức tôn trọng, chấp hành pháp luật
Thực hiện giáo dục pháp luật luôn gắn với giáo dục đạo đức và
hình thành cho đối tượng giáo dục có thói quen xử sự bằng hành vi hợp
pháp, phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội. Vấn đề nâng cao đạo
đức trong xã hội hiện nay toàn Đảng toàn dân ta đang đẩy mạnh học tập
và là theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Giáo dục pháp luật cho
17


HSSV phải gắn với giáo dục chính trị, tư tưởng và đạo đức vì nó có tác
động với nhau và nếu làm tốt các nội dung này không chỉ nâng cao chất
lượng trong giáo dục pháp luật mà còn nâng cao chất lượng giáo dục một
cách toàn diện cho HSSV.
3.2. GIẢI PHÁP CƠ BẢN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC
SINH, SINH VIÊN TRƯỜNG ĐH NỘI VỤ HÀ NỘI
3.2.1. Xây dựng chương trình, kế hoạch và nội dung giáo dục
pháp luật cho học sinh, sinh viên
Để hoạt động giáo dục pháp luật cho HSSV của Trường đạt hiệu
quả, ngoài việc giảng dạy học phần Pháp luật đại cương, Luật Hành
chính... theo chương trình chính khoá thì cần phải tiếp tục phổ biến các
văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực và những văn bản mới ban
hành đến toàn thể cán bộ, giảng viên và HSSV nhằm nâng cao nhận thức
và ý thức tự giác chấp hành pháp luật, góp phần phòng ngừa và hạn chế
vi phạm pháp luật.
3.2.2. Đổi mới hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật cho
học sinh, sinh viên

3.2.5. Giáo dục quyền con người cho học sinh, sinh viên
Quyền con người có giá trị chung, tính phổ cập và mang tính đặc thù
của từng dân tộc, quốc gia, sự khác nhau về lịch sử, thể chế chính trị, văn
hóa và tôn giáo.
Hiện nay, tình trạng phân biệt chủng tộc, kỳ thị dân tộc, vấn đề đói
nghèo, tôn giáo, người bóc lột người, thi hành chính sách cực đoan, chống
lại những giá trị cơ bản về quyền con người... vẫn diễn ra ở nhiều nơi trên
thế giới. Do vậy, quyền con người vẫn luôn là khát khao cháy bỏng, là
mục tiêu hàng đầu của toàn nhân loại.
Đối với Trường ĐH Nội vụ Hà Nội, trung tâm đào tạo, bồi dưỡng
nguồn nhân lực ngành nội vụ; công chức hành chính... việc nghiên cứu,
giáo dục quyền con người là đặc biệt quan trọng. Vì vậy, Nhà trường nên
đưa môn học quyền con người trở thành môn học chính thức bắt buộc
trong chương trình khung toàn bộ hệ thống với thời lượng tối thiểu là 30
tiết (02 tín chỉ).
3.2.6. Xây dựng và hoàn thiện các điều kiện đảm bảo chất lượng
giáo dục pháp luật
Để nâng cao hiệu quả và chất lượng của công tác giáo dục pháp luật
thì nhất thiết phải xây dựng và hoàn thiện các điều kiện giáo dục pháp luật.
Điều kiện đầu tiên có tính chất quyết định đối với chất lượng công tác giáo
dục pháp luật là các lực lượng giáo dục pháp luật, bên cạnh đó là giáo
trình, tài liệu tham khảo, tạp chí chuyên ngành pháp luật và các phương
tiện bổ trợ khác.

19


KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
1.1. Giáo dục pháp luật là sự tác động của nhân tố chủ quan được

quả nghiên cứu thực trạng chúng tôi đã đề xuất một số biện pháp:
Biện pháp 1: Xây dựng chương trình, kế hoạch và nội dung giáo dục
pháp luật cho HSSV;
20


Biện pháp 2: Đổi mới hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật
cho HSSV;
Biện pháp 3: Kết hợp giáo dục đạo đức với giáo dục pháp luật cho HSSV;
Biện pháp 4: Giáo dục cho HSSV pháp luật về phòng chống tham nhũng;
Biện pháp 5: Giáo dục quyền con người cho HSSV;
Biện pháp 6: Xây dựng và hoàn thiện các điều kiện đảm bảo chất
lượng giáo dục pháp luật.
Biện pháp 6: Xây dựng và hoàn thiện các điều kiện đảm bảo chất
lượng giáo dục pháp luật.
2. Kiến nghị
2.1. Về phía Bộ Giáo dục và Đào tạo
Bộ Giáo dục Đào tạo điều chỉnh, thay đổi lại nội dung chương trình
môn học cho phù hợp với nhu cầu và thực tiễn xã hội. Việc triển khai các
nội dung giáo dục pháp luật đến với mọi tầng lớp HSSV là vô cùng quan
trọng góp phần hình thành nhận thức, hành vi, thói quen cho các em. Do
đó, nội dung chương trình giáo dục cần phải được bổ sung cụ thể các nội
dung mới và phương pháp giáo dục phù hợp với từng đối tượng.
Với tính chất là một nội dung chính khóa trong nhà trường. Cần tác
động đến các nhận thức của các chủ thể trực tiếp làm công tác giáo dục
pháp luật để họ thấy được vai trò cũng như sự cần thiết của công tác giáo
dục pháp luật trong nhà trường. Bên cạnh đó cần có kế hoạch đào tạo cho
những lực lượng làm công tác giáo dục pháp luật để nâng cao hiệu quả
công tác giáo dục pháp luật cho HSSV.
2.2. Về phía Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ


22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status