Mục lục
Trang
1
Mở đầu:
Chơng I:
Xã hội hoá văn hoá và quản lý hoạt động văn hoá trong cơ chế
thị trờng.
5
1.1
Tổ chức và quản lý hoạt động văn hoá trong cơ chế thị trờng.
5
1.1.1
Tổ chức và quản lý hoạt động văn hoá nh một hệ thống sản xuất.
5
1.1.2
Hoạt động văn hoá trong cơ chế thị trờng.
9
1.1.3
Quản lý hoạt động văn hoá trong cơ chế thị trờng.
12
1.2
Xã hội hoá văn hoá ở nớc ta hiện nay.
17
1.2.1
Xã hội hoá văn hoá.
17
1.2.2
Đờng lối chính sách của Đảng và Nhà nớc về xã hội hoá văn hoá.
Chơng III: Nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động văn hoá trong xu thế xã hội hoá
ở tỉnh Bắc Kạn hiện nay.
57
3.1
Những yêu cầu khách quan và qui luật tất yếu của quản lý hoạt động
văn hoá trong xu thế xã hội hoá.
57
3.1.1
Chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nớc về xây dựng và
phát triển kinh tế xã hội ở nớc ta hiện nay.
59
3.1.2
Chính sách và pháp luật về quản lý hoạt động văn hoá thông tin.
62
3.2
Nâng cao hiệu quả quản lý hoạt đông văn hoá trong xu thế xã hội
hoá ở tỉnh Bắc Kạn hiện nay.
66
3.2.1
Quản lý hoạt động văn hoá trong xu thế xã hội hoá.
66
77
3.2.2
Tổ chức hoạt động văn hoá trong xu thế xã hội hoá.
81
Kết luận
TàI liệu tham khảo
83
bớc đi thích hợp để đáp ứng xu thế của thời đại. Xã hội hoá các hoạt động văn hoá
cũng là hoạt động mới mẻ, đã có bớc tiến mới với triển vọng mới, nhng cũng có nhiều
khó khăn phức tạp đan xen giữa xã hội hoá và thơng mại hoá cùng với sự tác
động của cơ chế thị trờng đã ảnh hởng không nhỏ tới t tởng, hành vi của các chủ thể
tham gia vào hoạt động xã hội hoá.Trớc hết là đáng lo ngại về tính tự phát trong việc
quay lại cái cũ, nhân danh trở về nguồn và cả tính tự phát trong việc đón nhận
cái mới .xen lẫn trong những phong tục lành mạnh, đã khôi phục không ít nhng tập
tục xấu nh: Bói toán, dồng bóng, rợu chè, mê tín, lễ lạt, cờ bạc cả ở nông thôn và
thành thị. Trong khi đó, sự du nhập ồ ạt những băng hình, tranh ảnh,đĩa hát nớc ngoài,
không đợc kiểm soát đến nơi đến chốn, đã đầu độc đáng ngại đến nhận thức và thẩm
2
mỹ trong thế hệ trẻ, bắt đầu gây ra những diễn biến xấu về lối sống. Bị mê hoặc về sắc
thái thời thợng của văn hoá nớc ngoài, nhiều chơng trình điện ảnh, sân khấu, âm nhạc,
sách báo rơi vào con đờng câu khách chạy theo thị hiếu rẻ tiền, lai căng, hoặc có khi
bị tê liệt không tìm thấy phơng hớng đến với công chúng. Nhiều lĩnh vực nghệ thuật bị
tiếp tục chao đảo, cha tìm đợc hớng đi tích cực.
Trớc thực trạng trên, vấn đề đặt ra cho chúng ta là: Làm sao vừa mở rộng xã hội
hoá lại vừa nâng cao đợc chất lợng nghệ thuật, đồng thời tăng cờng hiệu quả công tác
quản lý nhà nớc nhằm tạo ra đợc một môi trờng văn hoá phong phú, lành mạnh, văn
minh, đầy tính nhân văn. Trớc yêu cầu của quá trình hội nhập và những đòi hỏi ngày
càng đa dạng phong phú các loại hình hoạt động xã hội hoá văn hoá cần chúng ta những nhà quản lý quan tâm nghiên cứu và làm thế nào để tạo điều kiện mở rộng xã
hội hoá các hoạt động văn hoá mà vẫn đảm bảo định hớng.
Trong cơ chế thị trờng, rõ ràng cần phải thay đổi các cách thức quản lý để tác
động thúc đẩy các hoạt động văn hoá nhạy cảm hơn, năng động hơn theo kịp nhu cầu
xã hội. Bản thân là cán bộ quản lý của nghành văn hoá thể thao và du lịch tỉnh Bắc
Kạn với suy nghĩ và mong muốn đợc đóng góp một số ý kiến của mình vào công tác
quản lý văn hoá trong xu thế xã hội hoá ở địa phơng, nên tôi chọn đề tài: Quản lý
văn hoá trong xu thế xã hội hoá trên địa bàn tỉnh bắc kạn hiện nayđể làm khoá
Chơng III
Nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động văn hoá trong xu thế xã hội hoá ở tỉnh Bắc
Kạn hiện nay.
Chơng I
Xã hội hoá văn hoá và Quản lý hoạt động văn hoá trong
cơ chế thị trờng
1.1. Tổ chức và quản lý hoạt động văn hoá trong cơ chế thị trờng.
1.1.1. Tổ chức và quản lý hoạt động văn hoá nh một hệ thống sản xuất:
Điểm xuất phát để nhìn nhận hoạt động văn hoá nh một hệ thống tổ chức sản xuất
là t tởng của học thuyết Mác- xít về sản xuất vật chất là hai hình thái cơ bản của hoạt
động ngời. Trong Hệ t tởng Đức Mác và Ăng ghen viết về hai phơng diện hoạt động.
Sự chế tác thiên nhiên bởi con ngời và chế tác con ngời bởi con ngời. Trong tập bốn bộ
T Bản Mác nói đến hai trờng hợp sản xuất phi vật chất và nhiều lần ông trở lại t tởng
này. Chẳng hạn Mác viết Trong nền sản xuất phi vật chất, ngay cả nếu chỉ đ ợc tiến
hành để trao đổi, sản xuất hàng hoá, vẫn có hai trờng hợp.
+ Những hàng hoá tồn tại tách biệt khỏi ngời sản xuất, do đó có thể trong khoảng
cách giữa sản xuất và tiêu dùng trở thành hàng hoá.
+ Những sản phẩm gắn liền với hành động của ngời sản xuất (Mác K. Ăng ghen.
Ph. Tuyển tập, trang 49, Trang 103. Lý thuyết giá trị thặng d. Bản tiếng Nga. Gạch dới
dạng ý nhấn mạnh là của chúng tôi).
4
Sản xuất tinh thần không những tạo ra các giá trị tinh thần đợc khách quan hoá
mà còn bao hàm cả việc hình thành văn hoá cá nhân, văn hoá cộng đồng và sự giao
tiếp văn hoá. Sản xuất cũng có thể phân ra đối tợng lao động, quá trình lao động và kết
quả lao động. Tuy nhiên ở đây đối tợng lao động có thể là những quan hệ xã hội và
quá trình t duy nhân loại còn sản phẩm nhân loại có thể tồn tại không tách khỏi hành
động sáng tạo của con ngời sản xuất trực tiếp.
tinh thần. Tầng lớp đặc biệt, tầng lớp Hệ t tởng của xã hội đã hình thành để thực
5
hiện nhiệm vụ đó (Mác.K sách đã dẫn trang 109). Chính tầng lớp này đóng vai trò
quyết định trong sản xuất các giá trị tinh thần. Hoạt động văn hoá của họ là chuyên
nghiệp, hiểu theo nghĩa rộng nhất của từ này, diễn ra nh quá trình lao động xã hội. Trái
lại, với đại bộ phận nhân dân, thời gian lao động xã hội trực tiếp sản xuất ra của cải vật
chất. Nhân dân tham gia sản xuất tinh thần chủ yếu dới hình thái hoạt động rỗi, nghĩa
là tự biểu hiện trong nghỉ ngơi, giải trí. Vì vậy có thể gọi quá trình thực hiện bản chất
ngời ấy là giải trí- sáng tạo văn hoá.
Trớc chủ nghĩa xã hội, văn hoá dân gian là hiện tợng tự phát của nhân dân lao
động.và là hoạt động tinh thần của ngời lao động. Một sự thật phổ biến nh không khí,
lâu dài nh lịch sử loài ngòi là: Sáng tạo văn hoá là quyền năng của mỗi cá nhân với t
cách con ngời xã hội - đơn vị cấu thành xã hội. Giải phóng quyền năng sáng tạo ấy và
sự nở rộ các hoạt động ngời chỉ có dới chủ nghĩa xã hội, trớc hết và cơ bản là mở rộng
số lợng và tăng chất lợng thời gian rỗi.
Hoạt động là một phơng thức tri thức của cá nhân, là điều kiện thiết yếu tiến hành
sản xuất tinh thần cho sự phát triển toàn diện cá nhân. Văn hoá quần chúng ngày nay
là cái tơng ứng với văn hoá dân gian trớc đây.
Tuy nhiên có những khác biệt:
Nếu văn hoá dân gian là hiện tợng tự phát dới các chế độ chính trị khác, thì dới
chế độ xã hội chủ nghĩa, văn hoá quần chúng là đồi sống tinh thần của nhân dân đợc
Nhà Nớc tổ chức quản lý, đợc Đảng lãnh đạo và hệ thống các cơ quan chuyên môn tổ
chức chỉ đạo. ở đây có hai mặt gắn bó chặt chẽ và quy định lẫn nhau: Một mặt là hoạt
động tự thoả mãn nhu cầu cơ bản của quần chúng lao động . Mặt khác là trách nhiệm
tổ chức quản lý của Nhà Nớc. Chủ nghĩa xã hội tạo cơ sở khách quan cho sự thống
nhất hai mặt này. Đây là bản chất văn hoá quần chúng, sản phẩm của sự thống nhất
quyền lợi chính trị - kinh tế giữa Nhà Nớc và nhân dân.
Khi so sánh lịch đại sự khác nhau giũa văn hoá dân gian và văn hoá quần chúng là
2. Cá nhân sáng tạo văn hoá.
3. Cá nhân nh đại biểu mang văn hoá, có quan hệ giao lu trao đổi văn hoá, có
quan hệ giao lu trao đổi văn hoá với nhau.
Tổ chức quản lý vận động văn hoá theo chiều ngang này nh là một lĩnh vực sản
xuất tinh thần, hệ thống công tác văn hoá quần chúng bao gồm từ bộ máy quản lý Nhà
nớc các cấp đến mạng lới các đơn vị sự nghiệp. Bộ máy quản lý là Bộ văn hoá ở cấp
Trung ơng. Sở văn hoá tỉnh thành, Ban văn hoá quận huyện. Chức năng cơ bản loại
hình hoạt động này là quản lý nhà nớc về hành chính pháp chế (Đờng lối của Đảng, tổ
chức, kế hoạch, kinh phí).
Sản xuất tinh thần cũng đợc tổ chức thành hoạt động cụ thể do các thiết chế sự
nghiệp nh những đơn vị cơ sở tiến hành. Hoạt động văn hoá nh một quá trình sản
xuất. Chức năng quản lý chỉ xuất hiện từ yêu cầu tổ chức và điều hành sản xuất. Các
cơ quan quản lý văn hoá chỉ phát huy tác dụng của mình thông qua những đơn vị sản
xuất nhằm tăng cờng hiệu quả kinh tế văn hoá của chúng. Chỉ có bộ máy quản lý hành
chính pháp chế gồm những bộ, sở, ban, phòng tức là cha có đơn vị sản xuất trực
tiếp , tạo ra sản phẩm. Vì vậy, nếu giáo dục phải có trờng học, y tế phải có bệnh viện
thì văn hoá quần chúng phải có thiết chế sự nghiệp nh cung văn hoá, nhà văn hoá, th
viện, bảo tàng với t cách là đơn vị sản xuất, chủ thể trực tiếp của công tác văn hoá
quần chúng.
Có thể phác thảo lợc đồ hệ thống tổ chức sản xuất văn hoá nh sau:
7
Cấp quản lý
Trung ơng
Bộ máy quản lý
Bộ văn hoá(cục-vụ-viện)
Tỉnh, thành
mà không thấy sản phẩm văn hoá có những nét riêng, dẫn đến tình trạng thơng mại
hoá các hoạt động văn hoá, chỉ chạy theo doanh thu, không quan tâm tới hiệu quả xã
hội. Chính vì vậy, trên thị trờng văn hoá đã xuất hiện nhiều loại sản phẩm độc hại ảnh
hởng xấu tới t tởng, tình cảm ngời đọc, ngời xem. Hớng khác cho rằng hoạt động văn
hoá đã phục vụ chính trị, xây dựng con ngời mới thì ắt Nhà nớc phải bao cấp, phải lo
đảm bảo mọi điều kiện hoạt động. Từ đó dẫn đến thái độ trông chờ, ỷ lại khiến cho
hoạt động văn hoá bị ngng trệ.
Phải nói rằng cơ chế thị trờng có những tác động tích cực tới hoạt động văn hoá
làm cho năng động, tuân thủ quy luật giá trị của sản xuất hàng hoá, đáp ứng kịp thời
nhanh nhạy nhu cầu của ngời tiêu dùng sản phẩm văn hoá. Nếu nh trớc kia có những
hình thức hoạt động mòn cũ hàng chục năm không thay đổi, thì nay không thể tồn tại
trong cơ chế thị trờng. Cơ chế thị trờng là cơ chế điều tiết khách quan theo quy luật giá
trị và quy luật cung cầu. Trong cơ chế bao cấp, các hoạt động văn hoá thờng xem nhẹ
những quy luật này. Dựng một vở kịch, một bộ phim, ngời ta ít quan tâm đến yếu tố
ngời xem vì số ngời xem đông hay vắng không ảnh hởng tới ngời làm ra sản phẩm,
kinh phí đã có Nhà Nớc lo rồi ! Nhng trong cơ chế thị trờng, khách đông hay vắng, ảnh
hởng trực tiếp tới túi tiền ngời làm và số phận cơ sở làm ra sản phẩm. Cho nên mọi
hoạt động văn hoá trong cơ chế thị trờng đều phải xuất phải từ nhu cầu tiêu dùng văn
hoá của nhân dân. Sản phẩm văn hoá phải đánh trúng sự mong mỏi và thị hiếu lành
8
mạnh của mọi ngời. Đã đến lúc ngành văn hoá cần rà soát lại các hình thức hoạt động
ở mỗi lĩnh vực, tìm ra u điểm, nhợc điểm để sáng tạo ra những hình thực hoạt động
thích hợp trong thời kỳ mới, có khả năng thu hút đông ngời tham gia. Các hình thức
hoạt động văn hoá chỉ có thể tồn tại trên cơ sở chất lợng cao và đáp ứng đúng nhu cầu
văn hoá của nhân dân. Từ đó văn hoá vẫn có khả năng làm kinh tế. Thực tế đã diễn ra
trong lúc nhiều nhà văn hoá đình đốn, thì có một số nhà văn hoá lại hoạt động sầm uất
đông vui hơn trớc; trong lúc nhiều đoàn nghệ thuật sống dở, thì một số đoàn lại làm ăn
khấm khá, đi lên. Tất cả đều do các cơ sở có chịu năng động đổi mới hình thức hoạt
nhân dân. Trớc đây, chúng ta đã đề ra phơng châm Nhà nớc và nhân dân cùng làm,
thiết nghĩ trong cơ chế thị trờng phơng châm này càng phải đợc thực hiện triệt để. Có
nhiều lĩnh vực văn hoá có thể giao cho nhân dân, kể cả t nhân nuôi dỡng. Nhà nớc chỉ
quản lí nội dung và chất lợng. Nguồn kinh phí ít ỏi của Nhà nớc không nên đầu t tràn
lan mà tập chung vào những vấn đề cốt lõi, ra tấm ra miếng.
Hoạt động văn hoá trong cơ chế thị trờng đang gặp rất nhiều khó khăn, đòi hỏi tất
cả các cơ sở văn hoá năng động, sáng tạo tìm lối ra để tồn tại và phát triển.
1.1.3. Quản lý hoạt động văn hoá tromg cơ chế thị trờng:
* Quản lý nhà nớc về văn hoá:
Quản lý nhà nớc về văn hoá là hoạt động của bộ máy nhà nớc trong lĩnh vực hành
pháp nhằm giữ gìn, xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam. Với vai trò là thiết
chế trung tâm trong hệ thống chính trị, Nhà nớc đại diện cho nhân dân, đảm bảo cho
mổi công dân đều đựơc thực hiện các quyền cơ bản của mình, trong đó có các quyền
về văn hoá nh quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí, quyền học tập, sáng tác,
phê bình văn học nghệ thuậtNhà nớc có trách nhiệm điều tiết để đảm bảo sự hài hoà
giữa các thành tố văn hoá, điều tiết lợi ích văn hoá của các giai tầng, các yêu cầu phát
triển và thoả mãn nhu cầu văn hoá của toàn xã hội. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay,
Nhà nớc đóng vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết các mâu thuẫn giữa phát
triển kinh tế và văn hoá.
Xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là sự nghiệp
của toàn xã hội. Nhà nớc thực hiện hoạt động quản lý đối với văn hoá điều đó không
có nghĩa Nhà nớc là ngời sáng tạo ra nền văn hoá mà Nhà nớc có vai trò định hớng cho
sự phát triển của nền văn hoá theo hớng đã đợc xác định là nền văn hoá tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc. Nhà nớc thực hiện những hoạt động nhằm hớng vào sự thống nhất
t tởng, tuyên truyền các chủ trơng chính sách của Đảng và Nhà nớc, tăng cờng hoạt
động giáo dục xây dựng lối sống đạo đức lành mạnh.
Quản lý Nhà nớc về văn hoá đòi hỏi phải tiến hành những hoạt động cụ thể, do đó
cần giới hạn phạm vi khái niệm văn hoá để có thể xác định đợc những mảng hoạt động
chính sách đầu t, tài trợ, hợp tác với nớc ngoài, ban hành quyết định quản lý nhà nớc
và các chế độ chính sách khác về văn hoá. Với cơng vị là ngời đứng đầu Chính phủ,
Thủ tớng Chính phủ ký các quyết định, nghị định của Chính phủ, ra quyết định, chỉ thị
về quản lý văn hoá và hớng dẫn, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó đối với tất cả các
ngành, địa phơng và cơ sở; thủ tớng Chính phủ có quyền đình chỉ việc thi hành hoặc bãi
bỏ những quyết định về quản lý văn hoá của Bộ trởng Bộ văn hoá - thông tin và uỷ ban
nhân dân, chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ơng trái với Hiến
pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nớc cấp trên.
Các văn bản pháp luật tạo ra một hành lang pháp lý cho hoạt động văn hoá khi
thực hiện xã hội hoá hoạt động văn hoá trong nền kinh tế thị trờng, Đồng thời pháp
luật cũng quy điịnh những vùng cấm trong hoạt động văn hoá đợc quy định rõ để định
hớng văn hoá, khái quat ở 5 điểm sau:
- Nghiêm cấm hoạt động phản động về chính trị ;
- Nghiêm cấm hoạt động làm băng hoại về đạo đức, phá hoại nhân phẩm;
- Nghiêm cấm hoạt đông xâm phạm quyền tác giả;
Quản lý hoạt động văn hoá theo pháp luật sẽ góp phần tích cực vào việc lập lại
trật tự kỷ cơng trong tình hình văn hoá xã hội hiện đang có nhiều lộn xộn; gữi gìn bản
sắc văn hoá dân tộc trong điều kiện toàn cầu hoá và mở rộng quan hệ quốc tế, đảm
bảo quyền lợi và trách nhiệm của các văn nghệ sĩ và nghệ nhân; tăng cờng hợp tác
11
giữa các cơ quan công quyền, các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội và toàn dân
tham gia vào các hoạt động và phát triển văn hoá..
* Quản lý hoạt động văn hoá:
Xã hội hoá quản lý văn hoá là xu thế tự nhiên của bất kỳ xã hội nào. Ngoài hình
thức Nhà nớc trong việc quản lý văn hoá cần thực hiện các hình thức tự quản của nhân
dân trong việc bảo vệ và phát triển văn hoá, đảm bảo đợc tính đa dạng của văn hoá và
đáp ứng đợc nhu cầu văn hoá của toàn dân.
Thế giới đã quá quen thuộc với khái niệm thị trờng chỉ thuộc kinh tế. Và trên lĩnh
6. Lãnh đạo, quản lý văn hoá trong phát triển, một mặt cần tránh đầu óc cục bộ
địa phơng, khu vực hoá, làm ngành nào chỉ biết ngành đó, thiên vị ngành mình, địa
phơng mình, không hay biết gì đến các ngành, lĩnh vực khác.
7. Nâng cao dân trí và phát triển khoa học, công nghệlà những nhiệm vụ hàng đầu
trong quản lý văn hoá.
8. Trong quản lý văn hoá cần ngăn ngừa và khác phục sự lãnh đạo mệnh lệnh, độc
đoán, quan liêu, đồng thời đòi hỏi ngời lãnh đạo văn hoá có một nhãn quan mẫn cảm
và tầm nhìn rộng lớn trong thời đại hiện nay. Trong tình hình hiện nay thì bảo thủ, trì
trệ, thiếu năng động cần tránh, nhng cấp tiến, nóng vội, phóng tay là cũng có tội.
9. Quản lý văn hoá ở bất cứ quốc gia nào cũng phải tuân theo nguyên tắc (từ trờng quyền lực theo cách gọi của alvin Tohler nhà văn, nhà nghiên cứu ngời Mỹ) gồm 3
thành tố cũng là 3 công cụ của hoạt động văn hoá.
- Hệ thống hành chính, pháp luật.
- Các thiết chế và phơng tiện vật chất.
- Tri thức văn hoá.
Vì vậy cần:
- Nghiên cứu để tổ chức lại bộ máy Nhà nớc về văn hoá đủ mạnh từ trung ơng đến
cơ sở, nhất là cần tăng cờng quản lý văn hoá ở cấp huyện, xã.
- Hoạt động văn hoá thông tin là hoạt động sự nghiệp gồm nhiều ngành nghiều
nghề trong mỗi ngành, nghề có đặc thù, có nội dung, có phơng pháp, kỹ thuật riêng và
có đội ngũ đợc đào tạo chuyên sâu.
- Đảm bảo cho Văn hoá Nhà nớc đóng vai trò chủ đạo và đồng thời mạnh dạn
xã hội hoá các hoạt động văn hoá, vận dụng cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà
nớc, cơ chế nhiều thành phần và cơ chế mở trong hoạt động văn hoá, nhằm khai thác
mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài
- Những sản phẩm văn hoá là loại sản phẩm hàng hoá đặc biệt mà giá trị của
chúng không chỉ bằng tiền.
Phân biệt đợc cơ chế kinh doanh trong lĩnh vực văn hoá là không lấy lợi nhuận làm
mục đích, mà tất cả vì sự hởng thụ và sáng tạo tinh thần ngày càng cao của nhân dân.
- Gia tăng công tác đối ngoại, mở rộng giao lu văn hoá với nớc ngoài, đi đôi với
bởi một lẽ hiển nhiên là nền tảng tinh thần của bất kỳ cộng đồng dân tộc nào cũng đợc
sản sinh và xây dựng trong chính cuộc sống thờng nhật của mỗi ngời dân chứ không
thể chỉ bằng món ăn ngoại nhập từ ngoài vào hay trên xuống. Nền tảng tinh thần ấy là
bản sắc dân tộc và diện mạo đích thực của họ ở mỗi chặng đờng thăng trầm của lịch
sử.
Trong công cuộc xây dựng một tổ quốc Việt Nam giàu mạnh, Đảng ta chủ trơng
lãnh đạo toàn dân xây dựng một nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc. Một trong những t tởng chỉ đạo của Đảng để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cao cả
đó là :
Văn hoá văn nghệ là sự nghiệp của toàn xã hội. Phát triển các hoạt động văn
hoá văn nghệ của nhà nớc, tập thể và cá nhân theo đờng lối của Đảng và sự quản lý
của nhà nớc, khắc phục tình trạng hành chính hoá các tổ chức văn hoá nghệ thuật,
và xu hớn thơng mại hóa trong lĩnh vực này (Văn kiện Hội nghị lần thứ t Ban chấp
hành Trung ơng Đảng cộng sản Việt Nam khoá VII, trang 55 ).
Nếu trên lĩnh vực kinh tế, vai trò quản lý của nhà nớc là sự điều tiết theo định hớng xã hội chủ nghĩa thì trên lĩnh vực văn hoá có khác. ở đây không có sự phân chia
14
quyền lợi văn hoá giữa nhà nớc và công dân, không có đa dạng hoá hình thức sở hữu
các giá trị văn hoá
Nhng việc sản xuất, bảo quản, lu thông và tiêu dùng các sản phảm văn hoá lại
không nhất thiết và không thể bao cấp nhà nớc hoàn toàn. Đảng ta chủ trơng phát triển
các hình thức hoạt động văn hoá , văn nghệ của nhà nớc , tập thể và cá nhân.
Xã hội hoá hoạt động văn hoá ở nớc ta hiện nay là nhằm huy động tiềm năng,
nguồn lực, mọi lực lợng, mọi thành phần kinh tế, xã hội cùng tham gia sáng tạo và
phát triển sự nghiệp văn hóa, là đa dạng hoá, dân chủ hoá nhng không thơng mại hoá
hoạt động văn hoá. Xã hội hoá hoạt động văn hoá là chuyển một phần công việc của
Nhà nớc cho nhân dân, tổ chức tập thể, t nhân làm, nhng Nhà nớc không giảm nhẹ
trách nhiệm. Xã hội hoá hoạt động văn hoá đợc thực hiện theo phơng thức Nhà nớc và
nhân dân cùng làm, các tổ chức, cá nhân, các thành phần kinh tế liên doanh liên kết
công tác xã hội hoá hoạt động văn hóa vào một trong những nhiệm vụ trọng tâm.
- Các hình thức xã hội hoá hoạt động văn hoá:
Qua quá trình thực hiện chủ trơng xã hội hoá hoạt động văn hoá, nhiều cơ sở, đơn
vị tham gia hoạt động văn hoá đã đợc hình thành với các hình thức: Bán công, dân lập,
t nhân theo đúng tinh thần Nghị quyết 90/CP và Nghị định 73/CP của Chính phủ. Đặc
biệt còn có nhiều hình thức phogn phú khác nh nhân dân và các tổ chức xã hội tự
nguyện tham gia đóng góp sức ngời, sức của để tổ chức các hoạt động văn hoá, đầu t
cơ sở vật chất, thiết chế văn hoá, xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở. Công tác xã hội
hoá văn hoá đã đợc hình thành và phát triển theo phơng thức:
+ Chuyển đổi một số đơn vị công lập sang, cơ sở bán công, cổ phần hoá.
+ Liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá nhân các thành phần kinh tế Nhà nớc.
+ Các thành phần kinh tế t nhân, hộ gia đình tham gia các hoạt động văn hoá và
dịch vụ văn hoá.
+ Các tổ chức, t nhân, tập thể các thành phần kinh tế đứng ra thành lập các cơ sở
hoạt động văn hoá nghệ thuật.
+ Nhân dân và các lực lợng xã hội tham gia đóng góp cho hoạt động văn hoá
trong phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa.
+ Huy động nguồn lực từ các thành phần kinh tế, tổ chức xã hội và các nhà tài trợ
cho hoạt động văn hoá.
+ Phối hợp liên kết mở rộng công tác đào tạo.
Thực hiện chủ trơng xã hội hoá hoạt động văn hoá hầu hết các lĩnh vực thuộc
ngành văn hoá thông tin đều mở ra các cơ chế thu hút các tổ chức, cá nhân, các thành
phần kinh tế tham gia các hoạt động văn hoá trong thời gian đã đạt đựoc nhiều thành
tích trên nhiều mặt, góp phần quan trọng trong việc phát triển văn hoá của đất nớc. Cụ
thể là:
+ Tạo ra lực lợng đông đảo của xã hội tham gia hoạt động văn hoá.
+ Xã hội hoá hoạt động văn hoá đã tạo ra mối liên kết và sự phối hợp chặt chẽ
giữa ngành VHTT với các ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội, nhất là với các hội sáng tạo
văn học, nghệ thuật.
+ Huy động nguồn lực xã hội phục vụ văn hoá
Nhiều xuất bản phẩm mê tín dị đoan, sách kinh dị, bạo lực xa rời định hớng chính trị
xuất hiện nhiều trên thị trờng; t nhân núp bóng Nhà nớc để trốn thuế khá phổ biến
+ Về biểu diễn nghệ thuật: Chơng trình, nội dung biểu diễn nghệ thuật của nhiều
đoàn, nhóm còn tuỳ tiện, tìm mọi cách câu khách, bị d luận phê phán. Tệ các bầu sô
lũng loạn hoặc hình thành những câu lạc bộ trá hình, hoặc đầu t xây dựng trái phép vi
phạm pháp luật xuất hiện ở nhiều nơi.
+ Về mỹ thuật: Từ nhu cầu mua tranh, bán tranh phát triển, nên trên thị trờng
ngày càng bung ra việc sao tranh, chép tranh dẫn đến tình trạng tranh thật, tranh giả
lẫn lộn, gây nên sự lộn xộn trong thi trờng tranh trong cả nớc. Tình hình đó đã làm mất
lòng tin đối với ngời mua tranh, nhất là đối với khách nớc ngoài.
+ Về kinh doanh dịch vụ văn hoá: Do thị trờng kinh doanh băng đĩa, văn hoá
phẩm và dịch vụ văn hoá ngày càng mở rộng, thu hút đông đảo các thành phần kinh tế
17
t nhân tham gia, nên nảy sinh một số t nhân vì hám lợi mà vi phạm quy định của nhà
nớc: in sang băng đĩa hình, đĩa nhạc lậu, đĩa CD, VCD không nhãn kiểm soát, buôn
bán trôi nổi khắp nơi. Cấc hiện tợng tiêu cực, thiếu lành mạnh trái với thuần phong mĩ
tục dân tộc xảy ra phổ biến trong nhiều hoạt động dịch vụ văn hoá: karaoke, vũ trờng,
biểu diễn thời trang, quán cafe Intenet, quán ăn sân khấu hát với nhau, cafe bar rợu có vũ nữ biểu diễn múa khêu gợi, điểm trò chơi điện tử mang nội dung bạo lực,
kích động, cờ bạcgây nên bao nhức nhối cho d luận xã hội nhiều năm nay.
1.2.2 Đờng lối chính sách pháp luật của Đảng Nhà nớc về xã hội hoá văn hoá:
Cơng lĩnh của Đảng ta đã chỉ rõ chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc con ngời là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong s nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Một trong những quan điểm quan trọng về công nghiệp hoá
hiện đại hoá của đại hội lần thứ VIII của đảng ta là lấy việc phát huy nguồn lực con
ngời làm yếu tố cho s phát triển nhanh và bền vững. Nguồn lực con ngời bao gồm các
yếu tố về thể chất và tinh thần, trí tuệ và phẩm chất. Trong việc chăm sóc, bồi dỡng
đào tạo và phát huy sực mạnh của nguồn lực, văn hoá đóng vai trò quan trọng.
Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ơng Đảng khoá VII tại Đại hội lần thứ
VIII của Đảng ta đã khẳng định: Xuất phát từ nhận thức rằng chăm lo cho con ngời,
hoá ngày 21/8/1997. Chính Phủ có Nghị quyết số 90/CP Về phơng hớng chủ trơng xã
hội hoá văn hoá, y tế, giáo dục, thể dục thể thao. Ngày 19/8/ 1999 Chính Phủ có
Nghị định số 73/NĐ-CP Về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối vớicác hoạt động
trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục, y tế, thể dục thể thao. Ngày 18/4/ 2005 Chính Phủ
có Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP Về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động văn hoá,
giáo dục, y tế, thể dục thể thao Trong đó đã đa ra quan điểm và định hớng chung nh
sau:
Thực hiện xã hội hoá nhằm hai mục tiêu lớn:
- Thứ nhất là phát huy tiềm năng, trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy động
toàn xã hội chăm lo cho sự nghiệp văn hoá.
- Thứ hai là tạo điều kiện để toàn xã hội,đặc biệt là các đối tợng chính sách,ngời
nghèo đợc hởng thụ thành quả văn hoá ngày càng cao.
Nhà nớc tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý, đẩy mạnh việc hoàn thiện chính
sách,tăng nguồn lực đầu t, đồng thời đổi mới mục tiêu phơng thức, cơ cấu và nguồn
đầu t.
Chuyển các cơ sở công lập đang hoạt động theo cơ chế sự nghiệp mang nặng tính
hành chính bao cấp sang cơ chế tự chủ cung ứng dịch vụ công ích không bao cấp tràn
lan và không nhằm lợi nhuận (gọi tắt là cơ chế cung ứng dịch vụ ).
Phát triển mạnh các cơ sở ngoài công lập với hai loại hình: Dân lập và t nhân.
Quyền sở hữu của các cơ sở ngoài công lập đợc xác định theo bọ luật dân sự. Tiến tới
không duy trì loại hình bán công. Tiến hành chuyển một số cơ sở thuộc loại hình công
lập sang loại hình ngoài công lập để tập thể, cá nhân hoàn vốn cho Nhà nớc.
Chơng II
Thực trạng quản lý hoạt động văn hoá
trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn
19
2.1. Diện mạo đời sống kinh tế xã hội tỉnh Bắc Kạn.
Hỷ (thuộc tỉnh Thái Nguyên). Diện tích 572 km2. Dân số 38.757 ngời huyện Chợ Mới
gồm thị trấn Chợ Mới và 15 xã.
- Huyện Na Rì: Huyện ở phía Đông của tỉnh, phía Đông giáp tỉnh Lạng Sơn, phía
Nam giáp huyện Bạch Thông, Chợ Mới, diện tích 864,4 km2. Dân số 39.998 huyện Na
Rì gồm thị trấn Yến Lạc và 21 xã.
20
- Huyện Ngân Sơn: ở phía Đông Bắc tỉnh Bắc Kạn, phía Bắc và phía Tây giáp
tỉnh Cao Bằng, phía Tây giáp huyện Ba Bể, phía Nam giáp 2 huyện Bạch Thông và Na
Rì, diện tích 644,4 km2. Dân số 30.157 ngời, gồm thị trấn Nà Phặc và 10 xã.
- Thị xã Bắc Kạn: Là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh, diện tích 132,2 km2. Dân số
33.852 ngời gồm 4 phờng và 4 xã.
Bắc Kạn là tỉnh miền núi vùng cao, địa hình mang những đặc trng của khu vực
miền núi phía bắc, đây là vùng có môi trờng tự nhiên mang tính nhiệt đới . Đặc điểm
nổi bật của khu vực này là cấu tạo địa hình cánh cung. Các cánh cung đều tụ lại ở dãy
Tam Đảo, đồi núi Bắc Kạn chiếm trên 80% diện tích toàn tỉnh, độ cao trung bình so
với mặt nớc biển 500m. Đỉnh Phja Dạ 1.640m (cao nhất), điểm trung bình (thị xã Bắc
Kạn) 200 mét, điểm thấp nhất ở xã Quảng Chu huyện Chợ Mới: 80m. Toàn bộ Bắc
Kạn chịu tác động từ cơ tầng địa hình đồi núi chi phối từ hai cánh cung: Sông Gâmphía tây và Ngân Sơn - phía đông làm bình độ Bắc Kạn cao hơn các tỉnh lân cận (Lạng
Sơn, Tuyên Quang). Xen vào giữa hai hệ thống cánh cung gồm nhiều tiểu vùng lõm tạo
thành thung lũng đồng bằng nhỏ thuộc lu vực các sông lớn nh: Sông Cầu (Tả Lông),
sông Năng (Tả Slo) và sông Bắc Giang (Tả Lơng Thợng). Các thung lũng tạo nên địa
điểm c trú bản địa của ngời Tày và là vùng trồng lúa chủ yếu. Diện mạo
tự nhiên Bắc Kạn theo hớng từ tây sang đông, nổi bật trớc hết là cánh cung sông Gâm,
kéo dài từ núi Phja Dạ (tên cổ là Phja già) thuộc huyện Pác Nặm (hớng Tây Bắc-Đông
Nam) chạy về phía đông sông Gâm xuống các huyện Ba Bể, Bạch Thông rồi đến
huyện Chợ Đồn. Đây là hệ thống gồm các ngọn núi đá, núi đất xen kẽ nhau với hai
dãy núi tiêu biểu: Phja Dạ và Phja Bióoc.
Do địa hình cao, nhất là các dãy núi thuộc cánh cung sông Gâm, Ngân Sơn, toàn
loại cá quý: cá măng, chày đất, chép, võng, nheo, chiên... đặc biệt là cá sờn xanh
(tiếng Tày là pja pạu), vào mùa sinh sản hàng đàn cá (có đàn hàng trăm con) bơi ngợc
lên khe suối thợng nguồn, mỗi con khoảng 2kg giống nh cá chày, cá trắm có giá trị
dinh dỡng cao, tạo nên nguồn lợi cho ngời dân nơi đây.
Hệ thống sông, suối phong phú là nguồn tài nguyên thuỷ lợi, thuỷ năng, thuỷ sản,
giao thông, góp phần quan trọng điều hoà khí hậu. Nhng do đặc điểm địa hình đồi núi
cao, khí hậu gió mùa, lợng nớc các sông suối hàng năm không đều. Mùa ma nớc thờng
dâng cao bất thờng, gây lũ lụt lớn là nạn hồng thuỷ tại các vùng trũng nh thung lũng
sông Năng, sông Nam Cờng.
Điểm nhấn nổi bật nhất trong cảnh quan môi trờng tự nhiên Bắc Kạn đợc thiên
nhiên ban tặng là hồ Ba Bể , một trong 20 hồ nớc ngọt đẹp nhất thế giới. Tiếng Tày cổ
từ xa xa gọi hồ này là Nặm Pé (nớc biển). Kiến tạo địa chất hình thành hồ Ba Bể là hệ
quả của hiện tợng bào mòn chân núi đá vôi (catxtơ), gây sụt lở vách núi, chặn dòng
chảy ở Đầu Đẳng, nớc dâng lên thành hồ. Hồ có độ sâu trung bình khoảng 25 mét, cao
150 mét so với mặt nớc biển.
Hồ Ba Bể hiện nay thuộc xã Nam Mẫu, diện tích 500 ha nằm giữa khu bảo tồn
thiên nhiên vờn quốc gia Ba Bể (tổng diện tích 6.710 ha là rừng nguyên sinh độc đáo
rất nhiêù loại gỗ quý) Hồ Ba Bể gồm ba hồ nhỏ nối nhau liên tiếp: Pé Lèng, Pé Lù và
Pé Lồm, chiều rộng: 700 m, chiều dài: 8000m, phía cuối hồ nối với sông Năng đổ
xuống thác Đầu Đẳng chảy vào sông Gâm. Giữa hồ nổi lên hai hòn đảo, đảo lớn là An
Mã, đảo nhỏ là Pò Giả Mải (gò Bà Goá). Xung quanh hồ có ba con sông nhỏ chảy vào:
Pác Ngòi, Nam Cờng và Tả Han. Phía đông trong khu núi đá vôi có ao Tiên (Buốc
22
Cỏng Kíu). Giữa bốn bề núi non trùng điệp, cây cối xanh tơi một vùng hồ nớc trong
xanh biếc với ba hồ hợp thành tạo nên quần thể phức hợp động thực vật kỳ thú.
Hồ Ba Bể hầu nh có đủ các loài thuỷ sản nớc ngọt miền Bắc Việt Nam, trong đó
có hơn 50 loài cá quý nh cá dầm xanh, anh vũ, chép kính, chiên, chày đất, võng cá
mơng nhiều, kết nổi thành đám lớn. Lỡng ng, bò sát có ba ba gai, kỳ đà, rái cá... song
Ngày 16 tháng 7 năm 1990, giải thể thị trấn Bắc Kạn thuộc huyện Bạch Thông,
thành lập thị xã Bắc Kạn thuộc tỉnh Bắc Thái.
23
Ngày 01 tháng 01 năm 1997, thực hiện nghị quyết của Quốc Hội Nớc
CHXHCNVN khoá IX, tỉnh Bắc Kạn đợc tái lập trên cơ sở tách từ hai tỉnh Bắc Thái và
Cao Bằng, trở lại địa gới nh trớc tháng 4 năm 1965.
Ngày 6 tháng 7 năm 1998, Thủ tớng Chính phủ ký Nghị định số 46/1998/NĐCP tách thị trấn Chợ Mới và 15 xã phía Nam huyện Bạch Thông để thành lập huyện
Chợ Mới.
Ngày 25 tháng 8 năm 2003, Thủ tớng Chính phủ tiếp tục ký Nghị định số
56/2003/NĐ-CP tách 10 xã phía Bắc huyện Ba Bể để thành lập huyện Pác Nặm.
Tỉnh Bắc Kạn tính đến thời điểm hiện nay có 7 huyện và 1 thị xã với 122 xã 4 phờng và 6 thị trấn, gồm 7 nhóm tộc ngời.Dân số 302.786 ngời (dân số năm 2006).
Mặc dù hoàn cảnh lịch sử tác động làm biến đổi ít nhiều bộ mặt địa lý hành chính
Bắc Kạn qua các thời kỳ, nhng một phần đất Vũ Định của các bộ tộc Tày cổ, buổi đầu
thời kỳ dựng nớc cơ bản trùng hợp với vùng đất Bắc Kạn ngày nay, vì vậy tính chất,
dáng vẻ cổ kính luôn đợc giữ gìn.
Trên phơng diện khảo cổ học và lịch sử c dân Đông Nam á, Việt Bắc nói chung
Bắc Kạn nói riêng là một trong nơi c trú đầu tiên của con ngời từ thời nguyên thuỷ
đến buổi đầu dựng nớc. Phía Đông Nam Bắc Kạn liền với trung tâm văn hoá khảo cổ
học Thần Sa (Võ Nhai- Thái Nguyên), văn hoá Bắc Sơn (Bình Gia- Lạng Sơn) nổi tiếng
(cách đây hàng chục vạn năm đến sáu bảy nghìn năm). Phía tây- tây bắc huyện Chợ
Đồn- Ba Bể liên quan với nền văn hoá đồ đá mới- đồng thau Sông Gâm (Nà HangChiêm Hoá thuộc Tuyên Quang và Bắc mê thuộc Hà Giang). Gần đây (2001) các nhà
khảo cổ học đã phát hiện ở Thẳm Miều xã Lam Sơn huyện Na Rì các hiện vật hậu kỳ
đồ đá cũ cách đây hàng vạn năm, đồ đá ở hang Tiên- Ba Bể cách đây gần một vạn năm
đồng niên đại văn hoá sơ kỳ đồ đá mới Hoà Bình. Ngoài ra nhiều hiện vật nh: rìu đá
mài nhẵn thuộc hậu kỳ đá mới ở Ba Bể, Bạch Thông. Đặc biệt tìm thấy mũi tên đồng
thuộc loại hình Cổ Loa ở Nà Buốc- Pắc Nặm. Phía đông bắc là vùng còn lu giữ nhiều
dấu tích truyện kể, truyền thuyết về nàng Sao Cải đợc coi là bà tổ của ngời Tày giống
nh Phiêng Pha, nơi khởi nguồn của nghề trồng lúa nớc.
Mặc dù các tộc ngời thuộc bốn nhóm tiếng nói khác nhau, nhng hầu hết đều nói
đợc tiếng Tày và Việt, ngôn ngữ Tày là tiếng phổ thông thứ hai sau Việt. Còn từ ngàn
xa văn hoá Tày là yếu tố nền tảng trong quá trình giao thoa, sống đan xen, đợc các tộc
ngời tôn trọng, thừa nhận và tiếp thu. Tục kết tồng (hình thức liên kết, thoả thuận cùng
chung sống) giữa các nhóm c dân là một nét đẹp lâu đời.
Ngời Tày Bắc Kạn có truyền thống sản xuất nông nghiệp từ xa xa và tơng đối
phát triển, những khu vực có khả năng gieo cấy, chăn nuôi: Thung lũng ven đồi, bên
suối...đều đợc tận dụng và trở thành đất trồng trọt nh Bạch Thông, Ngân Sơn, Chợ
Đồn, Na Rìngoài làm ruộng lúa nớc, ngời Tày trồng lúa nơng nhằm tạo ra nhiều
chủng loại sản phẩm đa dạng phục vụ đời sống. Chăn nuôi tiểu gia cầm (đơn vị gia
đình) phổ biến, là nguồn cung cấp thức ăn chủ yếu, tại các nơi nh hồ Ba Bể, các sông
suối..nghề đánh bắt cá tơng đối phát triển. Các nghề thủ công nh đan lát, kéo sợi, nuôi
tằm dệt vải là nghề cổ truyền đợc tiêu thụ ngay trong nhiều vùng. Chợ họp theo phiên
là nơi tiêu thụ hàng hoá, tại nhiều xã xa xôi, điều kiện đi lại khó khăn ngời Tày vẫn giữ
tập quán đổi hiện vật. Bản (ngoài ra còn các tên gọi cổ khác nh: chiềng, piềng, piêng,
nà, khuổi) là nơi tập trung các gia đình sống tập trung thuận tiện sinh hoạt, sản xuất
nh ven suối, dới chân núi hoặc giáp với cánh đồng, nhà cửa của ngời Tày phần lớn là
nhà sàn, số ít làm nhà đất. Trang phục của ngời Tày làm bằng chất liệu vải chàm, nữ
tuỳ theo vùng có cách ăn mặc khác nhau nhng thông dụng nhất là áo dài tới bắp chân,
25