Header Page 1 of 89.
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Cảm xúc của cá nhân là một động lực cơ bản thôi thúc con người làm
việc bất kể họ làm gì. Cảm xúc còn có thể đem lại cho cá nhân những ý
tưởng, những lựa chọn đầy sáng tạo. Đời sống cảm xúc là lĩnh vực trong đó
người ta có thể chứng tỏ năng lực của mình. Theo Caroll E. Izard [1992]- nhà
tâm lý học nghiên cứu hàng đầu về cảm xúc cho rằng cảm xúc tạo nên hệ
thống động cơ chính của con người. Các cảm xúc có ý nghĩa phi thường trong
hoạt động của cá nhân và hoàn toàn không nên coi chung là cái đối lập với trí
tuệ. Đúng hơn là bản thân các cảm xúc là cấp bậc cao của trí tuệ [39].
Cảm xúc có tính hai mặt, một mặt, cảm xúc là động lực thúc đẩy cá
nhân hoạt động có hiệu quả, mặt khác, nếu không được quản lý và định hướng
đúng đắn, cảm xúc sẽ làm lệch hướng, thậm chí phá hủy nhận thức và hành
động của cá nhân, dẫn đến việc nhận thức và hành động của cá nhân trở nên
“mù quáng” và sai lầm. Vì vậy, quản lý và định hướng cảm xúc để trở thành
động lực tích cực là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo hiệu quả
hoạt động. Thực tế cho thấy, những người hiểu được các cảm xúc của mình,
nắm được và làm chủ được chúng, đoán được những cảm xúc của người khác
và biết hòa hợp với họ một cách hữu hiệu, là những người có lợi thế trong tất
cả các lĩnh vực của cuộc đời để thành công và hạnh phúc. Ngược lại, những
người không kiểm soát được đời sống cảm xúc của mình sẽ thường xuyên
phải chịu những xung đột nội tâm, từ đó năng lực tập trung chú ý và tư duy
của họ sẽ bị phá vỡ và điều này chắc chắn có ảnh hưởng xấu đến hiệu quả
hoạt động cũng như cuộc sống của họ.
Cảm xúc và quản lý cảm xúc của con người hình thành, phát triển và
thay đổi trong các giai đoạn lứa tuổi. Những thành công, niềm vui, hạnh phúc
hoặc những thất bại, khó khăn, đau khổ… của mỗi con người phụ thuộc rất
nhiều vào cảm xúc, trong đó quản lý cảm xúc của bản thân đóng vai trò rất
trẻ tại gia đình tăng gấp ba lần).
Có nhiều nguyên nhân như yếu tố xã hội, tác động của văn hóa truyền
thông, hành vi lây lan nhưng trong đó một nguyên nhân chủ yếu là lớp trẻ
thiếu kỹ năng quản lý các cảm xúc của bản thân. Từ góc độ giáo dục có thể
Footer Page 2 of 89.
2
Header Page 3 of 89.
thấy, nhìn chung, các học sinh, sinh viên còn ít được quan tâm trong việc hình
thành, nuôi dưỡng, phát triển những kỹ năng kiểm soát, kỹ năng biểu hiện
một cách có văn hoá cảm xúc của mình. Điều này làm cho họ lúng túng,
vụng về trong hợp tác với những người xung quanh, trong việc bày tỏ thái
độ của mình với những người cùng giao tiếp và có thể dẫn đến những hậu
quả đáng tiếc.
Sinh viên sư phạm là những giáo viên trong tương lai. Nhân cách của
họ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách của học
sinh khi họ trở thành người giáo viên thực thụ. Một mặt người giáo viên phải
làm chủ cảm xúc để làm chủ các tình huống sư phạm diễn ra rất đa dạng,
phong phú. Mặt khác, họ phải định hướng và giáo dục cho học sinh kỹ năng
quản lý cảm xúc giúp các em làm chủ cảm xúc của mình nhằm phát triển nhân
cách hài hòa, thuận lợi. Vì vậy, tác động hình thành cho sinh viên sư phạm kỹ
năng quản lý cảm xúc là hết sức cần thiết và có ý nghĩa to lớn. Đây là lý do để
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân
của sinh viên sư phạm”.
2. Mục đích nghiên cứu
Phát hiện thực trạng kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân của sinh viên sư
sinh viên sư phạm.
4.3. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân
của sinh viên sư phạm như: khí chất, giới tính, năng lực học tập, khách thể
giao tiếp trong đó năng lực học tập (kết quả học tập) và khách thể giao tiếp
(giảng viên và bạn bè) có ảnh hưởng nhiều nhất đến kỹ năng quản lý cảm xúc
bản thân của sinh viên sư phạm.
4.4. Có thể cải thiện kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân của sinh viên sư
phạm bằng việc tổ chức lớp bồi dưỡng về kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân
cho sinh viên.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu về kỹ năng quản lý cảm xúc
bản thân của sinh viên sư phạm, xác định những khái niệm cơ bản của vấn đề
nghiên cứu như: cảm xúc, kỹ năng, kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân của
sinh viên sư phạm.
5.2. Xác định thực trạng biểu hiện và mức độ kỹ năng quản lý cảm xúc bản
thân của sinh viên sư phạm, các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng quản lý cảm xúc
bản thân của sinh viên sư phạm.
Footer Page 4 of 89.
4
Header Page 5 of 89.
5.3. Đề xuất một số biện pháp tác động nhằm cải thiện kỹ năng quản lý
cảm xúc bản thân của sinh viên sư phạm.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1. Về nội dung nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu, luận án chỉ tập trung nghiên cứu biểu hiện
Header Page 6 of 89.
8. Đóng góp mới của luận án
Luận án đã hệ thống hóa và xác định rõ một số vấn đề lý luận về cảm
xúc, kỹ năng, kỹ năng quản lý cảm xúc của sinh viên sư phạm, cụ thể hóa
được 4 kỹ năng thành phần trong kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân của
sinh viên sư phạm (Kỹ năng nhận diện cảm xúc bản thân, kỹ năng kiểm
soát cảm xúc bản thân, kỹ năng điều khiển cảm xúc bản thân, kỹ năng sử
dụng cảm xúc bản thân).
Luận án chỉ ra được thực trạng biểu hiện mức độ kỹ năng quản lý cảm
xúc bản thân của sinh viên sư phạm ở mức trung bình với 4 kỹ năng thành
phần và những yếu tố ảnh hưởng tới các kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân
của sinh viên sư phạm (khí chất, giới tính, năng lực học tập, khách thể giao
tiếp). Kết quả của thực trạng giúp cho sinh viên sư phạm chú ý học tập và
luôn luôn cải thiện kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân được tốt hơn.
Kết quả nghiên cứu của luận án là tài liệu tham khảo bổ ích cho các
giảng viên, sinh viên trong giảng dạy, học tập và làm việc ở các trường đại
học sư phạm, cao đẳng sư phạm, nhất là khi giảng dạy kỹ năng và kỹ năng
quản lý cảm xúc cho sinh viên.
9. Cấu trúc của luận án
Luận án bao gồm: mở đầu, 3 chương, kết luận, kiến nghị, danh mục tài
liệu tham khảo và phụ lục.
Footer Page 6 of 89.
6
Header Page 7 of 89.
7
Header Page 8 of 89.
Shebilsue [2007], đã đề cập tới hàng loạt vấn đề về cảm xúc, từ việc đi tìm
một định nghĩa phổ biến về cảm xúc, đến việc giới thiệu hàng loạt thuyết tâm
lý học về cảm xúc như thuyết Jemce -Langer về cảm xúc và cho rằng sự xuất
hiện cảm xúc là kết quả của những tác động bên ngoài, của các thay đổi nội
tại trong phạm vi vận động chú ý và không chú ý. Kế thừa và phát triển quan
niệm cảm xúc của Darwin, S. Freud [2002] cho rằng cảm xúc có nguồn gốc từ
các năng lượng tính dục, bản năng. Tổng hợp những cảm giác gắn liền với
những thay đổi đó chính là trạng thái cảm xúc. Theo James, cảm xúc gắn với
phạm vi rộng lớn các thay đổi ngoại biên còn Langer lại cho rằng cảm xúc với
trạng thái phân bổ thần kinh và độ thông của các mạch máu; Thuyết CanonBar; các thuyết về nhận thức, thuyết xoma về cảm xúc, thuyết phản hồi của
Tomkins [1962], sau đó được Izard và Ekman [1977], Friesen [1971] đào sâu
và hiện vẫn là một lĩnh vực nghiên cứu năng động….
1.1.1.2. Nghiên cứu cảm xúc với tư cách là một động lực thúc đẩy cá nhân
trong hoạt động và trong cuộc sống
Cảm xúc với tư cách là một động lực tâm lý được đề cập trong hầu hết
công trình nghiên cứu tâm lý học cá nhân, tâm lý học phát triển. Từ các thực
nghiệm của B.Skinner [1953], S. Freud [2002], A.Maslow[1970], Carrol E.
Izard [1992], Goderfroid [1998], Richard J. Gerrig và Philip G.Zimbardo
[2013], Nicky Hayes [2005], Helen Greathead (2007), James L. Gibson
[2011], Daniel Goleman [2002, 2007],Virender Kapoor [2012], Strongman
K.T [1987], Keith Oatley & Fennifer M.Jenkins [1995], Maurice
Reuchlin[1995]… Trong các công trình này, cảm xúc được nhìn nhận là một
động lực thúc đẩy cá nhân hành động. Vì vậy, vấn đề là làm thể nào để duy
trì, thỏa mãn hay củng cố những cảm xúc của cá nhân. Nếu S. Freud quy kết
1,5 tuổi đến 2 tuổi (Lewis, 2002).
Các nghiên cứu về khả năng giao tiếp bằng cảm xúc và nghiên cứu cảm
xúc của trẻ được thể hiện qua các cung bậc khác nhau. Chẳng hạn, nghiên cứu
về như “Khóc” của Klein, & Marshall [1992]; các nghiên cứu về “cười” của
Emde, Gaensbauer, Harmon [1976]; Lewis, Hitchcock, & Sullivan [ 2004];
các nghiên cứu về sự “Sợ” của Emde, Gaensbauer, & Harmon [1976]. Các
nghiên cứu này đã phát hiện khá nhiều điều thú vị về cảm xúc của trẻ sơ sinh.
Chẳng hạn, nhà hành vi học John Watson (1928) cho rằng cha mẹ dành quá
nhiều thời gian phản ứng với trẻ sơ sinh khóc, điều đó giống như phần
thưởng và càng làm tăng tỷ lệ khóc của trẻ. Nghiên cứu của Jacob Gewirtz
(1977) cho thấy rằng, sự đáp ứng nhanh chóng, nhẹ nhàng của người chăm
Footer Page 9 of 89.
9
Header Page 10 of 89.
sóc càng làm trẻ tăng số lần
khóc. Ngược lại, các nghiên cứu
Mary
Ainsworth (1979) và John Bowlby (1989) về trẻ sơ sinh cho rằng, trẻ sơ sinh
được mẹ trả lời nhanh chóng khi chúng đã khóc lúc 3 tháng tuổi đã khóc ít
hơn ở giai đoạn sau này trong năm đầu tiên của cuộc sống (Ainsworth, 1972).
Các nghiên cứu về “cười” của Emde, Gaensbauer, Harmon [1976]; Lewis,
Hitchcock, & Sullivan [ 2004] phát hiện, “cười” xã hội không xảy ra cho đến khi
Schudlich [2003] phát hiện khía cạnh giới của các nguy cơ rối nhiễu cảm xúc
trẻ em tuổi ấu thơ. Em gái có nhiều nguy cơ bị rối loạn nội tâm, chẳng hạn
như sự lo lắng và trầm cảm, trong đó cảm giác xấu hổ và tự phê bình thường
rõ ràng (Cummings, Braungart-Rieker, & Du Rocher-Schudlich, 2003).
Các nghiên cứu về sự phát triển cảm xúc và nhận dạng các cảm xúc của
trẻ em như nghiên cứu của Kucbli [1994], Ridgeway, Waiters và Kuczaj
[1985], Denham [1998]; Denham và những người khác [2003]; Bruce, Olen
và Jensen, [1999]; Havighurst, Harley [2004]; Thompson [2006]. Chẳng hạn,
trẻ từ 2 đến 4 tuổi, số lượng các thuật ngữ mà trẻ sử dụng để mô tả cảm xúc
tăng lên (Ridgeway, Waiters, và Kuczaj, 1985). Trẻ cũng học về những
nguyên nhân và hậu quả của cảm xúc (Denham, 1998; Denham và những
người khác, 2003). Khi được 4-5 tuổi, khả năng phản ánh về cảm xúc ở trẻ
tăng, trẻ thấy cần phải quản lý cảm xúc của mình để đáp ứng các tiêu chuẩn
xã hội (Bruce, Olen, và Jensen, 1999); phụ huynh, giáo viên, và người lớn
khác có thể giúp trẻ hiểu và điều chỉnh cảm xúc của bản thân (Havighurst,
Harley, 2004; Thompson, 2006, Thompson, 2005).
Trong một nghiên cứu tiến hành trong bối cảnh tương tác cùng bạn bè
hàng ngày, cho thấy sự phát triển khả năng tự điều chỉnh cảm xúc xã hội của
trẻ (Fabes & những người khác 1999). Những trẻ em kiểm soát phản ứng cảm
xúc tốt có nhiều khả năng ứng xử theo tiêu chuẩn xã hội trong một tình huống
cảm xúc đầy khiêu khích (như khi một trẻ khác nói xấu hoặc lấy một cái gì đó
của trẻ).
* Sự phát triển cảm xúc của trẻ ở giai đoạn tuổi nhi đồng
Một khía cạnh quan trọng của sự trưởng thành xã hội liên quan đến sự
hiểu biết về cảm xúc. Các nghiên cứu của P.L Harris [1994], Saarni, Mumme,
& Campos [1998] về việc sử dụng tên gọi của các cảm xúc để nói về cảm xúc
của mình; Nghiên cứu của Josephs [1994], Saarni[1998] về sự che dấu cảm
xúc; Nghiên cứu của Kuebli [1994]; Wintre & Vallance [1994] về sự thay đổi
cảm xúc của trẻ em tuổi nhi đồng. Chẳng hạn P.L Harris, Saarni, Mumme, &
cảm xúc khó chịu. Điều chỉnh cảm xúc cũng có thể liên quan đến việc gia
tăng cường độ thức tỉnh cảm xúc nhằm để đạt được một mục tiêu. Ví dụ, trẻ
có thể gia tăng sự tức giận nhằm để có được can đảm đứng trước một kẻ bắt
nạt, hoặc trẻ có thể gia tăng các cảm xúc tích cực bằng cách nhớ lại hoặc tái
diễn lại một kinh nghiệm vui vẻ. Thực chất, điều chỉnh cảm xúc cho phép trẻ
là “ông chủ của chính mình”- theo cách nói của một thân chủ trẻ em. Kuebli,
Footer Page 12 of 89.
12
Header Page 13 of 89.
[1994]; Wintre & Vallance [1994] đã phát hiện trẻ ngày càng phát triển nhận
thức về quản lý và kiểm soát cảm xúc của mình để đáp ứng các tiêu chuẩn xã
hội và có sự thay đổi quan trọng trong sự phát triển cảm xúc: Khả năng hiểu
các cảm xúc phức tạp tăng lên, như là niềm tự hào và sự xấu hổ; tăng khả
năng hiểu được có thể trải nghiệm nhiều cảm xúc hơn là một cảm xúc trong
một tình huống cụ thể; có xu hướng tăng trong việc tính đến các sự kiện dẫn
đến các phản ứng cảm xúc; có những cải tiến trong khả năng ngăn chặn hoặc
che giấu những phản ứng cảm xúc tiêu cực; Xuất hiện việc sử dụng các chiến
lược tự chuyển hóa cảm xúc; xuất hiện khả năng cảm xúc và sự hiểu biết cảm
xúc (Thompson & Goodvin, 2005).
* Sự phát triển cảm xúc của trẻ ở tuổi vị thành niên
Điểm nhấn trong nghiên cứu cảm xúc của trẻ em tuổi thiếu niên là
nghiên cứu sự “biến động” trong cảm xúc của lứa tuổi này: Nghiên cứu về rối
loạn cảm xúc (Hall, 1904); trạng thái "cơn bão và căng thẳng", nhưng có sự
gia tăng các cảm xúc cao và thấp trong giai đoạn đầu tuổi vị thành niên
[Rosenblum & Lewis, 2003]. Nghiên cứu sự mất cân bằng giữa cường độ cảm
Susman và Rogol [2004]).
Các nghiên cứu về sự điều chỉnh cảm xúc ở thanh thiếu niên. Gumora
và Arsenio [2002] cho thấy, từ trẻ từ lớp 6 đến lớp 8 trẻ có những biểu hiện
cảm xúc tiêu cực có điểm trung bình ở thói quen thường xuyên học tập thấp
hơn so với những trẻ có trải nghiệm cảm xúc tích cực hơn, ngay cả khi khả
năng nhận thức được kiểm soát.
* Sự phát triển cảm xúc ở người lớn trưởng thành
Cũng giống như trẻ em, người lớn thích ứng hiệu quả hơn khi có trí tuệ
cảm xúc- khi họ có khả năng nhận thức và thể hiện cảm xúc, hiểu biết cảm
xúc, sử dụng cảm xúc để tư duy và quản lý cảm xúc hiệu quả. Sự thay đổi
cảm xúc tiếp tục phát triển trong những năm ở độ tuổi trưởng thành
Carstensen, Mikels và Mather [2006]; Knight và Mather [2006]. Những thay
đổi liên quan đến một nỗ lực để tạo ra lối sống đáp ứng, dự đoán, và quản lý
cảm xúc, thông qua lựa chọn nghề nghiệp, hôn nhân và các hoạt động khác.
Tất nhiên, không phải tất cả thành công trong việc làm như vậy. Chủ đề của
phát triển tình cảm ở tuổi trưởng thành là sự tích hợp thích ứng của cảm xúc
vào đáp ứng cuộc sống hàng ngày và các mối quan hệ thành công với những
người khác [Thompson và Goodvin, 2005].
Cuộc sống tình cảm của người trưởng thành có khác so với khi còn trẻ
không? Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy rằng trên mẫu nghiên cứu đa dạng,
Footer Page 14 of 89.
14
Header Page 15 of 89.
Na Uy, người Mỹ gốc Phi, Trung Mỹ, châu Âu và châu Mỹ- người trưởng
thành lớn tuổi có khả năng kiểm soát tốt những cảm xúc của họ và có ít cảm
15
Header Page 16 of 89.
cảm xúc xã hội (Socioemotional selectivity Theory). Lý thuyết chọn lọc cảm
xúc xã hội cho rằng, người lớn tuổi trở nên có chọn lọc về các mạng xã hội
của họ, bởi vì họ đặt giá trị cao về sự hài lòng cảm xúc. Người cao niên
thường dành nhiều thời gian hơn với các cá nhân quen thuộc, người mà họ đã
có mối quan hệ thân thiện. Lý thuyết này lập luận rằng những người lớn tuổi
cố ý rút lui khỏi liên hệ với xã hội với cá nhân thuộc phạm vi bên ngoài cuộc
sống của họ, trong khi họ duy trì hoặc tăng cường liên hệ với người bạn thân
và các thành viên gia đình, với người mà họ đã có mối quan hệ thú vị. Sự lựa
chọn này thu hẹp tương tác xã hội, tối đa hóa trải nghiệm cảm xúc tích cực và
giảm thiểu rủi ro về tình cảm khi đã cao tuổi. Theo lý thuyết này, người lớn
tuổi trau dồi có hệ thống mạng xã hội của mình để các đối tác xã hội đáp ứng
nhu cầu tình cảm của họ.
Tóm lại:
Theo hướng nghiên cứu về cảm xúc với tư cách là hiện tượng tâm lý,
các nhà khoa học đã nghiên cứu các vấn đề về định nghĩa cảm xúc, biểu hiện,
độ ổn định, sự xuất hiện và nguồn gốc của cảm xúc, phân loại cảm xúc và sự
ảnh hưởng của các yếu tố tâm- sinh lí cá nhân đến cảm xúc và ảnh hưởng của
cảm xúc đến các hoạt động của cá nhân. cho rằng cảm xúc có nguồn gốc từ
các năng lượng tính dục, bản năng. Tổng hợp những cảm giác gắn liền với
những thay đổi đó chính là trạng thái cảm xúc. Cảm xúc gắn với phạm vi
rộng lớn các thay đổi ngoại biên và cảm xúc gắn với trạng thái phân bổ thần
kinh và độ thông của các mạch máu.
Theo hướng nghiên cứu về cảm xúc với tư cách là động lực thì cảm xúc
được nhìn nhận là một động lực thúc đẩy cá nhân hành động. Vì vậy, vấn đề
là làm thể nào để duy trì, thỏa mãn hay củng cố những cảm xúc của cá nhân
Chia sẻ xã hội, có thể làm giảm khoảng cách vật lý và các đặc điểm cá nhân
và đóng góp vào sự phát triển của quan hệ gần gũi. Thoits [1984], Collins và
Miller [1994] tìm thấy rằng những người chia sẻ cảm xúc của họ và cảm xúc
với những người khác có nhiều hơn những người thích giữ chúng ở lại. Các
nghiên cứu của Zech & Rime [1996] đã phát hiện sự chia sẻ cảm xúc được
đánh giá là có ý nghĩa hơn và thú vị hơn là nói chuyện một cách khách quan
và mô tả.
Dưới góc độ nghiên cứu sự nghiền ngẫm hay ngăn cản cảm xúc,
Nolen-Hoeksema, McBride và Larsen [1997]; Nolen-Hoeksema và Morrow
Footer Page 17 of 89.
17
Header Page 18 of 89.
[1993] kết luận cho thấy nghiền ngẫm về sự tức giận, tội lỗi và những suy
nghĩ lo lắng liên quan đến việc tạo ra những cảm xúc mạnh hơn. (Wegner,
1994).. Kopel & Arkowitz [1974] nghiên cứu sự kìm hãm các biểu hiện đau,
Wegner [1994] nghiên cứu sự ngăn chặn suy nghĩ về cảm xúc đau đã cho thấy
giảm cảm giác do bản thân tự thông báo. McCanne và Anderson [1987] cho
thấy sự ngăn chặn biểu lộ cảm xúc trong khi những hoàn cảnh cảm xúc dễ
chịu hoặc khó chịu làm suy giảm khả năng của những người tham gia để cảm
nhận những cảm xúc tương ứng. Giảm khả năng nhận thức cho sự ngăn chặn
hành vi biểu cảm đến từ một sự nghiên cứu bởi Ginbe, Krull, và Pelham
[1988] đã cho thấy sự kiềm chế cái nhìn làm suy yếu sự thực hiện hành vi
nhận thức. Richards và Gross [1999] cho thấy, ngăn chặn biểu hiện cảm xúc
làm suy yếu bộ nhớ cho thông tin gặp phải trong thời kỳ ngăn chặn. Tuy
nhiên, có rất ít bằng chứng cho thấy sự ngăn chặn biểu hiện cảm xúc tự nhiên
thử nghiệm và mau chóng đưa vào những trắc nghiệm phù hợp nhằm xác định
chỉ số trí tuệ cảm xúc của con người Việt Nam. Các tác giả Nguyễn Công
Khanh, Nguyễn Huy Tú, Trần Trọng Thủy, … được coi là những tác giả tiên
phong trong lĩnh vực này.
Bài viết của tác giả Nguyễn Huy Tú: “Chỉ số thông minh cảm xúc cao một tiêu đề thành công” [81], “Trí tuệ cảm xúc - bản chất và phương pháp
chẩn đoán”[82] và “Các mô hình lý thuyết về trí thông minh cảm xúc” do
Nguyễn Công Khanh (dịch) [54] đã bước đầu tiếp cận đến trí tuệ cảm xúc.
Gần đây, các tác giả Nguyễn Công Khanh, Đinh Thị Kim Thoa và Nguyễn
Thành Đoàn cũng đã bàn đến phương pháp luận nghiên cứu trí thông minh
cảm xúc.
Tác giả Dương Thị Hoàng Yến với đề tài: “Trí tuệ cảm xúc của giáo
viên tiểu học” đã rút ra kết luận: Trí tuệ cảm xúc của giáo viên tiểu học là
một yếu tố quan trọng tạo nên thành công trong sự nghiệp. [ theo 90]
Đề tài cấp Nhà nước của tác giả Nguyễn Công Khanh [theo 54]:
“Nghiên cứu trí tuệ cảm xúc ở học sinh Trung học phổ thông” đã sử dụng trắc
nghiệm MSEIT của J. Mayer, P. Salovey và D. Caruso được Việt hóa đo
lường trên 17000 học sinh. Kết quả cho thấy sự phát triển trí tuệ cảm xúc của
học sinh chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố và là sản phẩm của quá trình tương
tác liên tục giữa bản thân và môi trường sống.
Footer Page 19 of 89.
19
Header Page 20 of 89.
Tác giả Đào Thị Oanh (2010), Nghiên cứu trí tuệ cảm xúc và giáo dục
trí tuệ cảm xúc cho học sinh THCS trong gia đình và nhà trường hiện nay, Đề
tài khoa học cấp bộ, cho thấy [theo 59]: Nhìn chung, biểu hiện trạng thái cảm
Header Page 21 of 89.
xúc. Các nghiên cứu cũng làm sáng tỏ những vấn đề bản chất, cấu trúc của trí
tuệ cảm xúc, cơ sở phương pháp luận nghiên cứu trí tuệ cảm xúc; đồng thời
từng bước thử nghiệm và mau chóng đưa vào những trắc nghiệm phù hợp
nhằm xác định chỉ số trí tuệ cảm xúc của con người Việt Nam.
1.2. Một số vấn đề lí luận cơ bản về kỹ năng quản lý cảm xúc bản thân
của sinh viên sư phạm
1.2.1. Cảm xúc
1.2.1.1 Khái niệm
Theo “Từ điển tiếng Việt” định nghĩa: “Cảm xúc là rung động trong
lòng do tiếp xúc với sự việc gì đó” [Hoàng Phê, 1997][64]
Theo “Từ điển Tâm lý học” [Nguyễn Khắc Viện, 1991]: “Cảm xúc là
phản ứng rung chuyển của con người trước một kích động vật chất hoặc một
sự việc gồm hai mặt: Những phản ứng sinh lý do thần kinh thực vật, như tim
đập nhanh, toát mồ hôi, hoặc run rẩy, rối loạn tiêu hóa; Phản ứng tâm lý, qua
những thái độ, lời nói, hành vi và cảm giác dễ chịu, khó chịu, vui sướng, buồn
khổ có tính bột phát, chủ thể kiềm chế khó khăn. Lúc phản ứng chưa phân
định gọi là cảm xúc, lúc phân định rõ nét gọi là cảm động, lúc biểu hiện với
cường độ cao gọi là cảm kích”. [84]
Theo Từ điển Tâm lý học [Vũ Dũng, 2000], cảm xúc: “là sự phản ánh
tâm lý về mặt ý nghĩa sống động của các hiện tượng và hoàn cảnh, tức mối
quan hệ giữa các thuộc tính khách quan của chúng với nhu cầu của chủ thể,
dưới hình thức những rung động trực tiếp”. [10, tr.29]
Trong tâm lý học, cảm xúc được nhiều nhà nghiên cứu đề cập, dưới
nhiều góc độ khác nhau:
Tiếp cận cảm xúc dưới góc độ nguồn gốc phát sinh có rất nhiều quan
niệm khác nhau như MC. Dougall coi cảm xúc là những cái được di truyền;
B.F.Skinner, J.Dolar và N.E. Miller lại giải thích cảm xúc là cách thức hay
tùy thuộc vào điều chúng ta làm. Thuyết cảm xúc của James khuyên chúng
thực hành “Hãy hành động theo cách mà bạn muốn, bạn cảm thấy”.
Hai nhà tâm lý học người Mỹ là Walter Cannon (1927) và Philip Bard
(1934) lại cho rằng, cảm xúc và những thay đổi sinh lý xảy ra độc lập và
không có quan hệ hệ quả như trong học thuyết của James Lange. Theo
Cannon Bard thì cảm xúc xuất phát từ hệ thần kinh trung ương chứ không
như ở ngoại vi như James Lange.
Footer Page 22 of 89.
22
Header Page 23 of 89.
Cannon Bard tiến hành thực nghiệm tiêm chất hóa học chỉ định vào
máu và kết quả là hoạt động tim mạch bị biến đổi nhưng lại không thấy xuất
hiện những cảm xúc tương ứng với sự biến đổi đó. Từ đó ông đã rút ra được
kết luận đối lập hẳn với quan niệm của James – Lange đó là:
- Khi đem tách các cơ quan nội tạng ra khỏi hệ thần kinh trung ương sẽ
không làm biến đổi hành vi cảm xúc.
- Những biến đổi nội tạng diễn ra quá chậm nên không thể giải thích
được những hiện tượng cảm xúc vốn xảy ra quá nhanh.
- Những biến đổi nội tạng được tạo nên bằng cách nhân tạo sẽ không
gây nên những cảm xúc.
Trong khi đó, theo học thuyết hai yếu tố của hai nhà tâm lý học Stanley
Schacter và Jerome Singer (1962) lại có thêm yếu tố môi trường. Điều này có
nghĩa là, con người phụ thuộc vào môi trường để giải thích những thay đổi
sinh lý trong cơ thể và hình thành cảm xúc. Học thuyết hai yếu tố của
Schacter – Singer cho thấy sự hình thành cảm xúc có sự tham gia của yếu tố
thì các cảm xúc được phân chia theo cường độ của nó: 1) cảm xúc nội tại
hướng vào chủ thể hay nhân cách. 2) Trạng thái cảm xúc . 3) Xúc động là loại
cảm xúc diễn ra rất mạnh và có tác động tổ chức hành vi. Tùy theo nguồn gốc
nảy sinh liên quan đến những điều kiện hoàn cảnh có thể phân ra những kiểu
cảm xúc khác nhau:
- Cảm xúc sơ cấp liên quan trực tiếp đến tri giác đến hoạt động hướng
đích, ví dụ: giận dữ, vui vẻ hay sợ hãi.
- Cảm xúc sống liên quan đến tri giác cơ thể hay đối tượng tạo ra niềm
khoái lạc hay không khoái lạc cơ thể, ví dụ: ốm, đau đớn.
- Cảm xúc với môi trường bên ngoài như căm thù, yêu nước, yêu
người thân…
Theo quan niệm của X.L.Rubinstein thì mọi quá trình cảm xúc chỉ có thể
hiểu được nhờ quan hệ của chúng với hoàn cảnh đặc biệt nó gắn liền giữa
động cơ và nhu cầu của cá nhân và luôn luôn thay đổi trong sự biến đổi của
hoàn cảnh xã hội. Nội dung của cảm xúc chỉ có thể được nhận thức trong sự
phụ thuộc chặt chẽ với các điều kiện xã hội. Qua việc phân tích nguồn gốc, sự
nảy sinh và biểu hiện dưới góc độ lý thuyết hoạt động, ông khẳng định: Cảm
xúc của con người xét về nguồn gốc, chức năng hay sự biểu hiện luôn mang
tính xã hội. [69]
Footer Page 24 of 89.
24
Header Page 25 of 89.
Các nhà tâm lý học mác xít khẳng định tâm lý là kết quả hoạt động của
não, là sự phản ánh hiện thực khách quan. Trong số đó có quan điểm của nhà
nghiên cứu X.L.Rubinstein [1960] cho rằng: “Cảm xúc là một hiện tượng tâm