Header Page 1 of 89.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Vũ Thúy Nhuần
KỸ NĂNG SỐNG CỦA SINH VIÊN
ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ
TP. HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2014
Footer Page 1 of 89.
Header Page 2 of 89.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Vũ Thúy Nhuần
KỸ NĂNG SỐNG CỦA SINH VIÊN
ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ
TP. HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Tâm Lý Học
Mã số:
Tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô đã nhiệt tình hướng dẫn và giảng
dạy chúng tôi trong thời gian vừa qua. Đồng thời, tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc đến TS. Trần Thị Quốc Minh, đã tận tâm hướng dẫn, động viên, khích lệ
tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Xin cảm ơn đến quý thầy cô thuộc phòng sau Đại học, trường Đại học Sư
phạm Tp. Hồ Chí Minh đã giúp đỡ tôi giải quyết những khó khăn để tôi có thể hoàn
thành xong khóa học của mình.
Xin trân trọng cảm ơn sự nhiệt tình giúp đỡ của nhà trường và sinh viên Đại
học Kỹ thuật Công nghệ TP. Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong
suốt quá trình làm luận văn.
Cảm ơn những bạn bè, đồng nghiệp, gia đình đã động viên, giúp đỡ và ủng hộ
tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!
TP. Hồ Chí Minh, tháng 04 năm 2014.
Footer Page 4 of 89.
Header Page 5 of 89.
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng, biểu đồ
MỞ ĐẦU
..........................................................................................................................1
2.2.2. Phương pháp phỏng vấn............................................................................... 44
2.2.3. Phương pháp thử nghiệm ............................................................................. 45
2.2.4. Phương pháp toán thống kê ......................................................................... 45
2.3. Kết quả nghiên cứu thực trạng .................................................................................................................. 45
2.3.1.
Đặc điểm mẫu khảo sát ............................................................................ 45
2.3.3.
Nhận thức của sinh viên về khái niệm kỹ năng sống ........................... 47
2.3.4.
Mức độ cần thiết của kỹ năng sống theo đánh giá của sinh viên và
giảng viên................................................................................................... 48
2.3.5.
Tự đánh giá của sinh viên và đánh giá của giảng viên về kỹ năng sống
của sinh viên. ............................................................................................. 50
2.3.7.
Kết quả của việc sinh viên có kỹ năng sống tốt .................................... 52
2.3.8.
Đánh giá của sinh viên và giảng viên về mức độ quan trọng của một
Footer Page 7 of 89.
UNICEF
:
Quỹ nhi đồng liên hiệp quốc
UNESCO
:
Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục
UNFPA
:
Quỹ dân số Liên Hợp Quốc
WHO
:
Tổ chức y tế thế giới
T – TEST
:
Đối chứng
TN
:
Thử nghiệm
Header Page 8 of 89.
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1.
Đặc điểm mẫu khảo sát ...........................................................45
Bảng 2.2.
Các mức độ tham gia các khóa huấn luyện kỹ năng sống của
sinh viên.................................................................................46
Bảng 2.3.
Nhận thức của sinh viên về khái niệm kỹ năng sống.................47
Bảng 2.4.
Mức độ cần thiết của kỹ năng sống theo đánh giá của sinh
viên và giảng viên. ..................................................................48
ở nhóm đối chứng và nhóm thử nghiệm trước. .........................70
Bảng 2.17. Kết quả đánh giá của sinh viên về kỹ năng quản lý thời gian
ở nhóm đối chứng và nhóm sau thử nghiệm. ............................71
Bảng 2.18. Kết quả đánh giá của sinh viên sau khi tham gia buổi thử
nghiệm kỹ năng quản lý thời gian ............................................73
Footer Page 8 of 89.
Header Page 9 of 89.
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong quá trình hội nhập kinh tế đã đặt con người trước hàng loạt những
thách thức của cuộc sống. Trước thách thức và những đòi hỏi mới của công cuộc
hội nhập, kỹ năng sống đã trở thành hành trang cực kỳ quan trọng đối với mọi
người. Đặc biệt là đối với sinh viên, là tầng lớp trí thức của xã hội, là đội ngũ trí
thức và là lực lượng then chốt của công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Vì vậy sinh viên
ngoài việc trang bị cho mình những kiến thức chuyên ngành, sinh viên cũng cần
trang bị cho mình những kỹ năng sống cần thiết để thích ứng với những thách thức
và đòi hỏi của xã hội.
Kỹ năng sống là vấn đề được quan tâm đến trong thời gian gần đây. Khi có
kỹ năng sống sinh viên có khả năng sống hòa nhập, biết lựa chọn cách ứng xử phù
hợp, biết ứng phó với sức ép và thách thức trong cuộc sống, dễ dàng tạo được mối
quan hệ thân thiện, cởi mở với thầy cô và bạn bè. Từ đó giúp cho sinh viên có thêm
sự hứng thú tự tin, chủ động sáng tạo trong học tập và trong công việc.
Mặc dù kỹ năng sống có vai trò quan trọng đối với sinh viên như vậy, nhưng
vẫn có không ít các bạn sinh viên dù rất tự tin với những kiến thức đã được trang bị
sống cho sinh viên Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP.Hồ Chí Minh.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Kỹ năng sống của sinh viên Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP.Hồ Chí Minh.
3.2. Khách thể nghiên cứu:
Sinh viên Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP.Hồ Chí Minh
4. Giả thuyết nghiên cứu
Một số kỹ năng sống cần thiết của sinh viên Đại học Kỹ thuật Công nghệ
TP.Hồ Chí Minh chưa cao. Nếu có những biện pháp phù hợp thì có thể phát triển
được các kỹ năng sống cho sinh viên.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về kỹ năng sống, biện pháp rèn luyện
kỹ năng sống cho sinh viên.
5.2. Tìm hiểu thực trạng kỹ năng sống và biện pháp phát triển kỹ năng sống
cho sinh viên Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP.Hồ Chí Minh
Footer Page 10 of 89.
Header Page 11 of 89.
3
5.3. Tổ chức thử nghiệm các biện pháp tác động nhằm phát triển kỹ năng sống
cho sinh viên Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP.Hồ Chí Minh.
6. Giới hạn đề tài
6.1 . Nội dung
- Đề tài nghiên cứu: Dựa trên kết quả của cuộc khảo sát ban đầu, đề tài chọn ra
3 kỹ năng sống được sinh viên Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP.Hồ Chí Minh đánh
giá là quan trọng và cần thiết để đưa vào khảo sát thực trạng như: Kỹ năng tự nhận
+ Bảng thăm dò được xây dựng thành hai phần:
- Phần một: Giới thiệu và hướng dẫn trả lời.
- Phần hai: Nội dung hỏi.
* Dành cho giảng viên của trường
- Mục đích: Thu thập thông tin từ phía giảng viên của trường để:
+ Đánh giá sơ bộ về thực trạng kỹ năng sống hiện nay của sinh viên Đại học
Kỹ thuật Công nghệ TP. Hồ Chí Minh
+ Đề xuất một số biện pháp phát triển kỹ năng sống cho sinh viên Đại học Kỹ
thuật Công nghệ TP. Hồ Chí Minh
- Cách tiến hành: Cho đối tượng khảo sát trả lời những câu hỏi trên các phiếu
thăm dò ý kiến.
7.2.2. Phương pháp phỏng vấn
- Phỏng vấn sâu
+ Phỏng vấn sâu trên 10 sinh viên và 5 giảng viên nhằm thu thập thêm những
thông tin phục vụ cho đề tài.
7.3. Phương pháp thử nghiệm
- Mục đích: Nhằm so sánh, đối chiếu kết quả trước và sau khi tiến hành các
biện pháp phát triển kỹ năng sống cho sinh viên Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP.
Hồ Chí Minh
- Cách tiến hành: Sau khi rút ra kết luận về thực trạng kỹ năng sống của sinh
viên Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP. Hồ Chí Minh và thăm dò được các biện pháp
phát triển kỹ năng sống, người nghiên cứu lựa chọn một kỹ năng sống cơ bản và tổ
chức tác động. Sau khi tổ chức các biện pháp tác động, người nghiên cứu dùng
phiếu điều tra để đo lại kỹ năng sống của sinh viên Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP.
Hồ Chí Minh.
7.4. Phương pháp thống kê toán học
- Nhằm xử lý, phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu
8. Đóng góp mới của đề tài
Đề tài chỉ ra bức tranh thực trạng kỹ năng sống và việc phát triển kỹ năng
1.1.Lịch sử nghiên cứu về kỹ năng sống
1.1.1. Một số nghiên cứu kỹ năng sống trên thế giới
Thuật ngữ “Kỹ năng sống” hiện ngày càng phổ biến và được sử dụng khá
rộng rãi. Trên thế giới, “Kỹ năng sống” là những thuật ngữ đã xuất hiện từ rất sớm,
cùng với nó là những chương trình giáo dục kỹ năng sống đã được triển khai rộng
khắp và có hiệu quả ở nhiều quốc gia khác nhau.
Vào cuối những năm 1960, thuật ngữ “Kỹ năng sống” được những nhà tâm lý
học thực hành đưa ra và coi đó như là khả năng xã hội rất quan trọng trong việc
phát triển cá nhân. Đến năm 1979, Gilbert Botvin (tiến sĩ người Mỹ - nhà khoa học
hành vi và giáo sư tâm thần học) đã công bố một chương trình đào tạo kỹ năng sống
có hiệu quả cao cho thanh thiếu niên từ lớp 7 đến lớp 9. Thông qua modul tương
tác, chương trình đã tạo cơ hội cho người học được tiếp cận với những kỹ năng như:
Quyết đoán, tư duy phê phán, ra quyết định, giải quyết vấn đề, để thể hiện sự từ
chối các chất gây nghiện như thuốc lá. Chương trình này đã được triển khai trong
nhiều trường học khác nhau, từ các trường công lập đến các trung tâm tạm giam
người chưa thành niên và đã thu được kết quả ấn tượng. Nó không chỉ giúp ngăn
ngừa hút thuốc trong thanh thiếu niên mà còn giúp tăng thêm giá trị trong mối quan
hệ giữa giáo viên và học sinh, kết quả học tập và sự quan tâm của nhà trường. Như
vậy, giáo dục kỹ năng sống đã được đưa vào chương trình tiểu học và trung học ở
các nước phát triển từ khá sớm, nhằm thúc đẩy lối sống lành mạnh ở trẻ em, tạo nền
tảng vững chắc cho các em khi bước vào tuổi trưởng thành. [18]
Chương trình giáo dục kỹ năng sống, với tài trợ của các tổ chức quốc tế
(UNICEF, UNESCO, UNFPA, WHO) đã được phát triển rộng khắp. Thông qua
mạng lưới toàn cầu, các tổ chức đã mở các cuộc hội thảo, cung cấp tài liệu, đồng
thời phối hợp với nhau để đẩy mạnh hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong thanh
thiếu niên với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Chương trình đã được thực hiện và
phát triển mạnh trong khu vực Mỹ La Tinh và Caribe, khu vực Nam Phi và
Bostswana, khu vực Châu Á.
Footer Page 14 of 89.
2. Học tập để hợp tác, làm việc nhóm, giao tiếp, lắng nghe và kết bạn; 3. Đối phó
với tình cảm và cảm xúc; 4. Ra quyết định; 5. Lớn lên khỏe mạnh; 6. Giúp đỡ để
trường học và gia đình trở thành nơi an toàn hơn; 7. Mỗi cá nhân là một người đặc
biệt. Chương trình này đã đạt được nhiều thành công lớn và càng được mở rộng với
trọng tâm mới là: HIV/AIDS [18].
Footer Page 15 of 89.
Header Page 16 of 89.
8
Tại khu vực Châu Á, được sự tài trợ của tổ chức UNESCO, UNICEF,
UNFPA, các chương trình giáo dục kỹ năng sống đã được triển khai rộng khắp ở cả
Nam Á (Bangladesh, Bhutan, Ấn Độ, Nepal, Sri lanka), Đông Á (Trung Quốc),
Trung Á (Mông Cổ), Đông Nam Á (Campuchia, Indonesia, Lào, Myanmar,
Philipines, Thái Lan, Myanmar, Đông Timor, Việt Nam).
Tại khu vực Đông Nam Á, các chương trình giáo dục kỹ năng sống xuất hiện
ở các quốc gia chủ yếu vào 5 năm cuối của thế kỷ XX. Dựa trên các cách tiếp cận
khác nhau qua từng lĩnh vực cụ thể, các quốc gia đã từng triển khai để đưa kỹ năng
sống vào giáo dục ở trong và ngoài nhà trường. Kỹ năng sống được coi như một
phương tiện hiệu quả trong việc phát triển kỹ năng trong thanh thiếu niên để có thể
lựa chọn lối sống lành mạnh và tối ưu về mặt thể chất, xã hội và tâm lý.
Ở Lào - được bắt đầu quan tâm từ 1997 với cách tiếp cận nội dung quan tâm
đến giáo dục cách phòng chống HIV/AIDS được tích hợp trong chương trình giáo
dục chính quy. Năm 2011 giáo dục kỹ năng sống ở Lào được mở rộng sang các lĩnh
vực như: Giáo dục dân số, giới tính, sức khỏe sinh sản, vệ sinh cá nhân, giáo dục
môi trường [23].
Ở Campuchia cũng đã nghiên cứu và phát triển chương trình dạy kỹ năng
Cũng tương tự với quan điểm này, tại Philippine với quan niệm coi kỹ năng
sống là những năng lực thích nghi và tính tích cực của hành vi giúp cho cá nhân có
thể ứng phó một cách hiệu quả với những yêu cầu, những thay đổi, trải nghiệm và
tình huống của đời sống hàng ngày [31].
Nhìn chung các quốc gia Đông Nam Á cũng mới bắt đầu triển khai chương
trình và biện pháp giáo dục kỹ năng sống nên chưa thật toàn diện và sâu sắc, còn
đang trong giai đoạn nghiên cứu theo hướng tập trung giải quyết cách hiểu về kỹ
năng sống, phân loại kỹ năng sống cũng như hướng huấn luyện kỹ năng sống.
Như vậy, trên thế giới nói chung và ở khu vực Đông Nam Á nói riêng, kỹ
năng sống đã được triển khai đưa vào giáo dục, cả trong giáo dục chính quy và
không chính quy. Đến nay, quá trình giáo dục kỹ năng sống ở các quốc gia này
phần lớn đã đi vào quy trình và đang phát triển mạnh mẽ.
1.1.2. Nghiên cứu kỹ năng sống ở Việt Nam
Thuật ngữ “Kỹ năng sống” bắt đầu được quan tâm tại Việt Nam vào những
năm đầu thập niên 90 – khi xã hội bắt đầu có những chuyển biến phức tạp – nền
kinh tế thị trường và việc du nhập các nền văn hóa từ các nước bên ngoài vào Việt
Nam hay sự biến đổi của môi trường tự nhiên đã tác động rất lớn đến con người. Vì
lẽ đó đã đòi hỏi mỗi người phải học cách thích nghi với những sự thay đổi đó. Từ
đây, những kỹ năng khác ngoài trình độ học vấn, tư cách đạo đức, năng lực làm việc
Footer Page 17 of 89.
Header Page 18 of 89.
10
bắt đầu được xem xét và quan tâm – đó chính là điều kiện để giáo dục Việt Nam
quan tâm đến thuật ngữ kỹ năng sống trong chương trình và triển khai một số dự án
của các tổ chức khác trên thế giới [2].
Header Page 19 of 89.
11
Từ đây, những người làm công tác giáo dục đã hiểu đầy đủ hơn về kỹ năng sống và
bắt đầu quan tâm đến kỹ năng sống và cách thức giáo dục kỹ năng sống cho học
sinh [2].
Từ năm 2002 – 2003 ở Việt Nam đã thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông
(tiểu học và trung học cơ sở) trong cả nước. Trong chương trình tiểu học đổi mới đã
hướng đến giáo dục kỹ năng sống thông qua lồng ghép một số môn học có tiềm
năng như: Giáo dục đạo đức, tự nhiên – xã hội (lớp 1 – 3) và môn khoa học (lớp 4
– 5). Kỹ năng sống được giáo dục thông qua một số chủ đề “Con người và sức
khỏe” [3].
Giáo dục kỹ năng sống được tiếp cận và bước đầu triển khai trong hệ thống
giáo dục không chính quy ở nước ta cách đây hơn 10 năm, đến nay, cũng đã có một
số tài liệu, đề tài nghiên cứu về kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống cho các đối
tượng khác nhau như: Học sinh phổ thông; học sinh có hoàn cảnh khó khăn; học
viên ở các trung tâm học tập cộng đồng, giáo viên trung học cơ sở…Mặc dù vậy,
việc triển khai để đưa giáo dục kỹ năng sống vào các môn học ở nhà trường phổ
thông vẫn hạn chế. Hầu hết giáo viên và học sinh trường phổ thông ở nước ta vẫn
còn xa lạ với các thuật ngữ cũng như những vấn đề cơ bản liên quan đến kỹ năng
sống và giáo dục kỹ năng sống. Hiện nay, giáo dục kỹ năng sống ở nước ta vẫn
đang ở mức độ bắt đầu triển khai thông qua việc tập huấn giáo viên để đưa kỹ năng
sống tích hợp giảng dạy trong các môn học ở nhà trường phổ thông [19].
Một số nhà chuyên môn ở nước ta cũng đã bắt đầu nghiên cứu về kỹ năng
sống. Một trong những người có những nghiên cứu mang tính hệ thống về kỹ năng
sống và giáo dục kỹ năng sống là tác giả Nguyễn Thanh Bình. Với đề tài cấp bộ, tác
giả đã nghiên cứu về “Thực trạng kỹ năng sống cho học sinh và đề xuất một số biện
pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh”. Tác giả cũng cho ra đời “Giáo trình
giáo dục kỹ năng sống” (Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2008) sau khi
sinh viên nói riêng đã được nhiều nhà nghiên cứu và giáo dục trong nước quan tâm
khai thác, nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau nhưng chưa tập trung giải quyết
nhiệm vụ nghiên cứu lý luận một cách có hệ thống về phương pháp, hình thức giáo
dục kỹ năng sống và chưa có kết quả thử nghiệm chưa rõ ràng, cụ thể nên tính
thuyết phục chưa cao. Hơn nữa, việc nghiên cứu kỹ năng sống ở Việt Nam cũng
như việc triển khai chương trình rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên mới
chỉ thể hiện ở chương trình giáo dục ngoài khung chương trình đào tạo. Chưa có
văn bản, tài liệu khoa học hay giáo trình giảng dạy kỹ năng sống một cách chính
thống.
Footer Page 20 of 89.
Header Page 21 of 89.
13
Mặc dù việc triển khai giáo dục kỹ năng sống chưa được tiến hành một cách
hệ thống và rộng rãi trong các nhà trường phổ thông nhưng lại đang là vấn đề được
nhiều tổ chức nước ngoài và tư nhân nước ta quan tâm. Các trung tâm giáo dục kỹ
năng sống được ra đời và tổ chức ở nhiều nơi nhưng lại chưa có sự quản lý về nội
dung cũng như nhất quán trong mục tiêu và chương trình đào tạo, giáo dục kỹ năng
sống.
1.2. Khái niệm kỹ năng, kỹ năng sống
1.2.1. Khái niệm kỹ năng
Bàn về khái niệm kỹ năng, chúng ta thấy có hai cách đặt vấn đề khác nhau:
Cách thứ nhất, xem xét kỹ năng nghiêng về mặt kỹ thuật hành động. Cách thứ hai
xem xét kỹ năng nghiêng về năng lực của con người.
Theo cách đặt vấn đề thứ nhất, kỹ năng được xem là phương tiện thực hiện
hành động phù hợp với mục đích và điều kiện hành động mà con người đã nắm
Trong quá trình luyện tập, trong hoạt động thực hành kỹ năng trở nên được hoàn
thiện và trong mối quan hệ đó hoạt động của con người cũng trở nên được hoàn hảo
hơn trước [22].
Theo quan niệm này có thể nhận thấy kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động,
con người nắm được cách hành động tức là có kỹ thuật hành động, có kỹ năng.
Theo cách đặt vấn đề thứ hai: Coi kỹ năng không đơn thuần là mặt kỹ thuật
của hành động mà nó còn là một biểu hiện về năng lực của con người. Kỹ năng theo
quan niệm này vừa có tính ổn định lại vừa có tính mềm dẻo, tính linh hoạt và tính
mục đích.
Đại diện cho quan niệm này là các tác giả: N.D.Lêvitôv, X.I.Kixego,
K.K.Platônôv, A.V.Barabasicov.
N.D.Lêvitôv cho rằng: “Kỹ năng có hai mức độ: Kỹ năng sơ đẳng và kỹ năng
thành thạo. Kỹ năng sơ đẳng ban đầu là những hành động – những cái được hình
thành trên cơ sở của tri thức hay là kết quả của sự bắt chước. Còn kỹ năng thành
thạo được hình thành trên cơ sở của tri thức và kỹ xảo – những cái đã được lĩnh hội
từ trước”.
X.I.Kixegof (1977) cũng cho rằng có hai loại kỹ năng: Kỹ năng bậc thấp (kỹ
năng nguyên sinh) và kỹ năng bậc cao (kỹ năng thứ sinh). “Kỹ năng nguyên sinh”
được hình thành lần đầu tiên qua các hành động đơn giản, nó là cơ sở để hình thành
kỹ xảo. Còn “Kỹ năng thứ sinh” là kỹ năng nảy sinh lần thứ hai sau khi đã có các
tri thức và các kỹ xảo.
Theo K.K.Platônôv thì người có kỹ năng không chỉ hành động có kết quả
trong một hoàn cảnh cụ thể mà còn phải đạt được kết quả tương tự trong những điều
Footer Page 22 of 89.
Header Page 23 of 89.
15
Footer Page 23 of 89.
Header Page 24 of 89.
16
trung chú ý căng thẳng. Kỹ năng được hình thành qua luyện tập [4].
Tác giả Trần Trọng thủy cũng theo quan niệm thứ nhất khi cho rằng: “Kỹ năng
là mặt kỹ thuật của hành động, con người nắm được cách hành động tức là có kỹ
thuật hành động, có kỹ năng [12].
Còn tác giả Nguyễn Hữu Nghĩa, Triệu Xuân Quýnh, Bùi Ngọc Oánh cũng
theo quan điểm thứ nhất đã cho rằng: “Kỹ năng là những hành động được hình
thành do sự bắt chước trên cơ sở của tri thức mà có, chúng đòi hỏi sự tham gia
thường xuyên của ý thức, sự tập trung chú ý, cần tiêu tốn nhiều năng lượng của cơ
thể” [25].
Tác giả Nguyễn Quang Uẩn lại quan niệm kỹ năng: “Là những kỹ năng tinh
thần hay những kỹ năng tâm lý, kỹ năng tâm lý - xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn
tại và thích ứng với cuộc sống” [26].
Cũng theo quan điểm thứ hai, tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng: “Kỹ năng là
khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri
thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho
phép. Kỹ năng không chỉ đơn thuần về mặt kỹ thuật của hành động, mà còn là biểu
hiện năng lực của con người” [16].
Thực ra hai quan niệm trên về kỹ năng của hoạt động không phủ định nhau.
Sự khác nhau là ở chỗ mở rộng (hay thu hẹp) phạm vi triển khai của một kỹ năng
hành động trong các tình huống khác nhau.
Như vậy, kỹ năng được nhìn nhận ở nhiều mức độ khác nhau. Từ những quan
niệm khác nhau đó của các tác giả về kỹ năng, chúng tôi cũng cho rằng: “Kỹ năng
- Mức 1: Có kỹ năng sơ đẳng, hành động được thực hiện theo cách thử và sai,
dựa trên vốn hiểu biết và kinh nghiệm.
- Mức 2: Biết cách thực hiện hành động nhưng không đầy đủ
- Mức 3: Có những kỹ năng chung nhưng còn mang tính rời rạc, riêng lẻ.
- Mức 4: Có những kỹ năng chuyên biệt để hành động.
- Mức 5: Vận dụng sáng tạo những kỹ năng đó trong những tình huống khác
nhau [27].
Các tác giả A.V.Petrovxki, N.D. Levitov, V.A. Kruchexki quá trình hình thành
kỹ năng chia làm ba bước:
- Bước 1: Nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức và điều kiện hành động.
- Bước 2: Luyện tập để tiến hành các hành động theo đúng yêu cầu, điều kiện
Footer Page 25 of 89.