Header Page 1 of 89.
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án “Nghiên cứu các nhân tố ảnh
hưởng đến tiềm năng khởi sự của sinh viên đại học” là công
trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi. Ngoài những thông tin
thứ cấp có liên quan đến nghiên cứu đã được trích nguồn, toàn
bộ kết quả trình bày trong luận án được phân tích từ nguồn dữ
liệu điều tra do cá nhân tôi thực hiện. Tất cả các dữ liệu đều
trung thực và nội dung luận án chưa từng được công bố trong
bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Tác giả
Nguyễn Thu Thủy
Footer Page 1 of 89.
Header Page 2 of 89.
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ...................................................................................................... i
DANH MỤC CÁC BẢNG ........................................................................................v
DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ ........................ Error! Bookmark not defined.
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
Footer Page 2 of 89.
Header Page 3 of 89.
iii
3.4.2. Kiểm định mối tương quan giữa các biến ............................................................. 98
3.4.3. Kết quả kiểm định giả thuyết .............................................................................. 101
3.4.4. Kiểm tra các giả định cần thiết của hồi quy tuyến tính ....................................... 109
CHƯƠNG 4: BÌNH LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .....................................................112
4.1. Thảo luận kết quả...........................................................................................112
4.2. Một số hàm ý từ kết quả nghiên cứu ............................................................120
4.2.1. Đối với các trường đại học .................................................................................. 120
4.2.2. Đề xuất với cơ quan quản lý vĩ mô ..................................................................... 128
4.3. Đóng góp của luận án .....................................................................................131
4.4. Hạn chế của nghiên cứu và các định hướng nghiên cứu tiếp theo ..................134
KẾT LUẬN ............................................................................................................139
CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ..141
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................142
PHỤ LỤC
Footer Page 3 of 89.
Header Page 4 of 89.
SEE
: Lý thuyết sự kiện khởi sự (The entrepreneurial event)
SPSS
: Phần mềm Statistic Packages for Social Sciences
Header Page 5 of 89.
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Tóm tắt một số nghiên cứu trước có liên quan .........................................35
Bảng 2.1: Thông tin về đối tượng tham gia phỏng vấn ............................................56
Bảng 2.2: Thang đo cảm nhận về mong muốn KSKD..............................................60
Bảng 2.3: Thang đo cảm nhận về tự tin KSKD .............................................................61
Bảng 2.4. Thang đo ý kiến người xung quanh ..........................................................63
Bảng 2.5. Thang đo vị trí xã hội của chủ doanh nghiệp ...........................................63
Bảng 2.6: Thang đo kinh nghiệm kinh doanh thương mại .......................................64
Bảng 2.7: Thang đo kinh nghiệm lãnh đạo ...............................................................65
Bảng 2.8: Thang đo truyền cảm hứng KSKD trong nhà trường ...............................66
Bảng 2.9: Thang đo phương thức học qua thực tế ....................................................67
Bảng 2.10: Thang đo tham gia hoạt động ngoại khóa ..............................................68
Bảng 3.1: Thông tin về đối tượng điều tra ................................................................81
Bảng 3.2: Kết quả điều tra về mức độ tự tin và mong muốn KSKD của sinh viên ..84
Bảng 3.3: Thang đo “ Phương thức học qua thực tế” với 5 biến quan sát ................89
Bảng 3.4: Cronbach’s Alpha của các thang đo trong nghiên cứu .............................90
Bảng 3.5: kiểm định KMO and Bartlett's Test ..........................................................92
Hình 3.3: Mức độ tự tin KSKD của sinh viên trong mẫu điều tra ............................ 85
Hình 3.4 : Mong muốn KSKD của sinh viên trong mẫu điều tra ............................. 87
Hình 3.5: Mô hình nghiên cứu điều chỉnh ................................................................ 96
Footer Page 6 of 89.
Header Page 7 of 89.
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu tóm tắt công trình nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý thuyết về dự định khởi sự kinh doanh, nghiên cứu này
kiểm định tác động của các yếu tố trải nghiệm cá nhân (trong đó có các trải nghiệm
trong quá trình học tập tại trường đại học) và một số yếu tố môi trường tới tiềm
năng khởi sự kinh doanh thể hiện bằng 2 chỉ báo cảm nhận về mong muốn khởi sự
kinh doanh và tự tin khởi sự kinh doanh của sinh viên đại học ở Việt Nam.
Sử dụng số liệu điều tra bằng bảng hỏi trên 693 sinh viên đại học ở 11 trường
đại học trên khu vực Hà Nội, luận án kiểm định 16 giả thuyết nghiên cứu. Kết quả
cho thấy chỉ có một giả thuyết không được ủng hộ, còn lại 15 giả thuyết được ủng
hộ bởi bộ dữ liệu nghiên cứu.Ý kiến người xung quanh có mức độ tác động mạnh
nhất tới cảm nhận về mong muốn khởi sự kinh doanh, trong khiyếu tố kinh nghiệm
cá nhân có mức độ tác động mạnh hơn tới tự tin khởi sự kinh doanh.
Từ kết quả này tác giả gợi ý một số gợi ý khuyến nghị cho các trường đại
học và các cơ quan quản lý vĩ mô để thúc đẩy tiềm năng khởi sự kinh doanh của
sinh viên đại học ở Việt Nam.
2. Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu
MIT có tổng số 5000doanh nghiệp đã được thành lập tuyển dụng 1,1 triệu nhân viên và
có doanh thu trung bình năm lên tới 230 tỷ USD. Theo điều tra năm 2008 cho thấy
17,8% sinh viên MIT sau khi ra trường đã thành lập ít nhất 1 doanh nghiệp, trong đó
23% thành lập doanh nghiệp khi chưa đầy 30 tuổi. Trường Stanford hiện có 1200 công
ty do sinh viên trường sáng lập trong ngành công nghệ cao [85]. Các quốc gia trên thế
giới như Malaysia, Trung Quốc, Ấn Độ… đều có kế hoạch quốc gia và các hỗ trợ
chính sách thúc đẩy hình thành các doanh nghiệp nhỏ [91].
Ở Việt Nam, vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng được xã hội
công nhận bằng việc đóng góp đáng kể vào nền kinh tế của đất nước, với GDP
chiếm khoảng 45% tổng GDP của cả nước, hàng năm thu hút hơn 90% lao động
mới vào làm việc [10]. Chính phủ Việt Nam cũng đã nhận thức được tầm quan
trọng của định hướng tinh thần doanh nhân cho sinh viên và giới trẻ Việt Nam nhân tố chính trong công cuộc xây dựng nền kinh tế Việt Nam năng động và bền
vững. Hàng loạt các chương trình hỗ trợ và khuyến khích người dân, thanh niên và
sinh viên khởi nghiệp đã được tổ chức như chương trình khởi nghiệp của VCCI
(qua 8 năm huy động được 15.000 thanh niên tham gia), Hội doanh nghiệp trẻ Việt
Nam, cuộc thi “Thắp sáng tài năng kinh doanh trẻ”, chương trình truyền hình làm
giàu không khó, Câu lạc bộ Khởi Nghiệp Trẻ hoạt động tại thành phố Hồ Chí Minh
cùng với sự ra mắt của Chương trình Đào tạo Khởi nghiệp VYE 2011 “Thắp Sáng”,
Footer Page 8 of 89.
Header Page 9 of 89.
3
“Khởi nghiệp cùng Kawai" của đại học Ngoại thương Hà Nội… Chính phủ cũng đã
có chính sách khuyến khích và thúc đẩy thành lập doanh nghiệp và trợ giúp phát
triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng như sự tích cực triển khai các hoạt động trợ
giúp doanh nghiệp như việc thành lập các quỹ hỗ trợ phát triển, quỹ tín dụng nhân
Header Page 10 of 89.
4
động cơ.Khởi sự kinh doanh là một phạm trù phức tạp liên quan tới nhiều hoạt động
như nhận biết và đánh giá cơ hội, động cơ, tìm kiếm và phân bổnguồn lực, chấp
nhận rủi ro, sángtạo giải quyết vấn đề, quản trị doanh nghiệp. Chính sự phức tạp
của quá trình và các hoạt động khởi sự kinh doanhlàm hạn chếhiểu biết của chúng
ta về lý do cá nhân mở công ty trong khi những người khác thì không [78].
Lowell(2003) [66]trong nghiên cứu của ông đã cho rằng “chúng ta biết rất ít về lý
do tại sao người ta lại khởi sự kinh doanh, các nhân tố ủng hộ, ngăn cản việc khởi
sự kinh doanh”. Lĩnh vực nghiên cứu về khởi sự kinh doanh là đề tài đang nổi trong
thập kỷ vừa qua với số lượng bài viết ngày càng gia tăng. Các nghiên cứu về khởi
sự kinh doanh rất đa dạng có thể chia thành 4 lĩnh vực khác nhau: (a) nghiên cứu về
quá trình phát hiện khai thác cơ hội kinh doanh, (b) nghiên cứu về đặc điểm cá nhân
và nhóm, quá trình hình thành vốn tri thức và vốn con người cho khởi sự, (c) lĩnh
vực nghiên cứu về các phương thức khởi sự kinh doanhvà (d) lĩnh vực nghiên cứu
về các nhân tố văn hóa, thể chế và môi trường tạo thuận lợi và cản trở khởi sự kinh
doanh[66]. Trong số đó, một lĩnh vực được các học giả đặc biệt quan tâm là nghiên
cứu vềlý do,nhân tố tác động tới và dẫn đến việc một cá nhân tiến hành các hoạt
động để khởi sự kinh doanh và tạo lập một doanh nghiệp mới. Đây là lĩnh vực
nghiên cứu rất có ý nghĩa thực tiễn cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản
lý giáo dục khi mà nhu cầu tìm hiểu nguyên nhân, cơ chế dẫn tới việc khởi sự kinh
doanh để từ đó có các giải pháp chính sách tác động phù hợp để phát triển hệ thống
doanh nghiệp cho phát triển kinh tế là yêu cầu của nhiều quốc gia trên thế giới.
Trong nghiên cứu về tâm lý học hành vi, thì dự định là chỉ báo chính xác
nhất các hành vi có kế hoạch (planned behavior) đặc biệt khi những hành vi đó khó
quan sát, diễn ra trong khoảng thời gian không dự kiến trước. Nhiều nhà nghiên cứu
đã cho rằng khởi sự kinh doanh là một loại hànhvi có kế hoạch
([20][34][59]).Kruerger và Brazeal(1994)[58]trên cơ sở này cho rằng một cá nhân
nước phát triển và các nước khác trong khu vực. Môi trường kinh doanh và thể chế
cũng như nhận thức có đặc trưng của nước đang phát triển và đang chuyển đổi từ tư
duy bao cấp sang cơ chế thị trường. Các nghiên cứu về khởi sự kinh doanh và tiềm
năng khởi sự kinh doanh được thực hiện ở các nền kinh tế chuyển đổi nói chung và
Việt Nam nói riêng rất ít trong khi rõ ràng có sự khác biệt rất lớn về môi trường,
hoàn cảnh khởi sự kinh doanhở nền kinh tế chuyển đổi [45]. TheoLinan và Chen
(2009)[65],sinh viên ở các nền kinh tế đang nổi/ đang phát triển thường mong muốn
tạo dựng sự nghiệp tương lai của mình thành doanh nhân cháy bỏng hơn sinh viên ở
các nền kinh tế đã phát triển mặc dù động cơ khởi sự kinh doanh là như nhau.Giá trị
xã hội của doanh nhân ở các nước phương Tây không được nhìn nhận giống như ở
Footer Page 11 of 89.
Header Page 12 of 89.
6
các nước phương Đông.Do vậy nhân tố tác động thúc đẩy tiềm năng khởi sự kinh
doanh ở sinh viên Việt Nam có thể có điểm khác biệt so với các nước phát triển
khác.
Ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu theo lý thuyết dự định khởi sự kinh
doanhnhưng mới chỉ nghiên cứu về tác động của tính cách cá nhân tới dự định khởi
sự kinh doanhhoặc nghiên cứu trên các đối tượng không phải sinh viên như phụ nữ,
thanh niên như các nghiên cứu của Nguyễn(2011)[14], Lý(2010)[9], Hoàng và Bùi
(2013)[1].Một số nghiên cứu về môi trường kinh doanh Việt Nam và tìm hiểu các
yếu tố cản trở với khởi sự kinh doanh như nghiên cứu của VCCI [18], Lê (2003),
(2007)[6][8].Gần đây nghiên cứu của Lê (2013) [6] về tinh thần doanh nhân của
sinh viên chương trình tiên tiến chất lượng cao của Đại học Kinh tế Quốc dân
nhưng không tiếp cận theo lý thuyết dự định. Hiện nay, chưa có nghiên cứu nào về
của sinh viên đại học.
- Từ kết quả nghiên cứu, luận án đưa ra một số gợi ý giải pháp cho trường
đại học và các cơ quan quản lý vĩ môtrong việcthúc đẩy tiềm năng khởi sự kinh
doanh của sinh viên đại học ở Việt Nam.
3. Đối tượng phạm vi, phương pháp nghiên cứu của luận án
- Đối tượng nghiên cứu của luận án: các nhân tố tác động tới tiềm năng khởi
sự kinh doanh của sinh viên đại học.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về mặt nội dung:
Có nhiều quan niệm và cách tiếp cận khởi sự kinh doanh, trong nghiên cứu
này sử dụng quan niệm khởi sự kinh doanh theo nghĩa tinh thần doanh nhân, các cá
nhân chấp nhận rủi ro tận dụng cơ hội thị trường để tạo dựng một công việc kinh
doanh mới.
Luận án giới hạn nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tốmôi trường cảm
xúc kết hợp với các yếu tố thuộc trải nghiệm cá nhân tới tiềm năng khởi sự kinh
doanh. Sự kết hợp này đã được gợi ý qua các nghiên cứu của Obschonka và cộng sự
(2010) [76], Krueger (2009) [60] và chưa có nghiên cứu nào trước đây thực
hiện.Luận án không nghiên cứu các yếu tố khác như yếu tố môi trường kinh doanh
thực tế, văn hóa, thể chế, rào cản hỗ trợ của môi trường, điều kiện tài chính gia đình
hay tính cách cá nhân, đặc điểm nhân khẩu… để đảm báo thiết kế nghiên cứu thích
hợp nhằm thực hiện mục tiêukhám phá tác động của nhân tố môi trường xúc cảm và
kinh nghiệm cá nhân đặc biệt là các trải nghiệm có được trong thời gian học đại học
của sinh viên tới tiềm năng khởi sự kinh doanh của sinh viên.
+ Khách thể nghiên cứu: sinh viên đại học chính quy năm cuối vì sinh viên
Footer Page 13 of 89.
Header Page 14 of 89.
Footer Page 14 of 89.
Header Page 15 of 89.
9
bằng bảng hỏi chi tiết trên mẫu 693 sinh viên, thu thập thông tin cần thiết cho
nghiên cứu, các dữ liệu thu thập được dùng để đánh giá thang đo, kiểm định mô
hình và các giả thuyết nghiên cứu.
Tác giả xử lý số liệu qua sử dụng phần mềm SPSS 16 để đánh giá giá trị, độ
tin cậy của thang đo và sử dụng hồi quy đa biến tuyến tính để kiểm định mô hình
nghiên cứu và các giả thuyết.
4. Những đóng góp mới của đề tài
- Luận ánnghiên cứu tác động củatrải nghiệm cá nhân trong quá trình đào tạo
trong trường đại học và các trải nghiệm khác trong cuộc sống kết hợp với các yếu tố
môi trườngtới tiềm năng khởi sự kinh doanh của sinh viên đại học.Sự kết hợp các
nhân tố nêu trên chưa được nghiên cứu nào trước đây thực hiện.
- Luận án cung cấp bằng chứng khẳng định các trải nghiệm cá nhân trong đó
có các trải nghiệm được tiếp nhận trong quá trình học đại học có tác động tới tiềm
năng khởi sự kinh doanh của sinh viên trong bối cảnh các nhà nghiên cứu trên thế
giới đang có tranh cãi trái chiều về vai trò của đào tạo đại học với tiềm năng khởi sự
kinh doanh. Các hoạt động định hướng khởi sự kinh doanh trong và ngoài chương
trình đào tạo của nhà trường đại học như hoạt động truyền cảm hứng, học môn học
về khởi sự kinh doanh và tham gia ngoại khóa về kinh doanh đều tác động tích cực
tới hai khía cạnh của tiềm năng khởi sự kinh doanh là tự tin và mong muốn khởi sự
kinh doanh của sinh viên đại học ở Việt Nam.
- Luận án xác định thêm yếu tố tác động tới tiềm năng khởi sự kinh doanh
và giả thuyết nghiên cứu
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Bình luận, kiến nghị
Footer Page 16 of 89.
Header Page 17 of 89.
11
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TIỀM NĂNG
KHỞISỰKINH DOANH, MÔ HÌNH VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận về khởi sự kinh doanhvà tiềm năng khởi sự kinh
doanh
1.1.1.Khởi sự kinh doanh
1.1.1.1. Khái niệm
Khởi sự kinh doanh
Khởi sựtheo từ điển tiếng Việt là bắt đầu một cái gì mới. Khởi sự kinh
doanh(KSKD)theo nghĩa tiếng Việt là việc bắt đầu tạo lập một công việc kinh
doanh mới.Trong lĩnh vực nghiên cứu học thuật đó là một khái niệm đa chiều.Khởi
sự kinh doanhlà(a) việc mở một doanh nghiệp mới (có thể là “start a new
business”[58]; hay là “new venture creation” [66], “tinh thần doanh nhânentrepreneurship” [68]), (b) hay là tự làm chủ, tự kinh doanh (selfemployment[63]).Trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, thì KSKD được gắn với
các thuật ngữ và lĩnh vực nghiên cứu rất khác nhau.KSKDđược gắn chủ yếu với 2
nghĩa và 2 hướng nghiên cứu chính sau:
-Các học giả trong lĩnh vực kinh tế lao động thì cho rằng khởi sự kinh doanh
là một sự lựa chọn nghề nghiệp của cá nhân giữa việc đi làm thuê hoặc tự tạo việc
làm cho mình nên gắn khởi sự kinh doanhvới thuật ngữ“tự tạo việc làm - self
Giữa KSKDtheo nghĩa tự tạo việc làm và theo khái niệm tinh thần doanh
nhân có sự khác biệt đôi chút. Tự tạo việc làm nhấn mạnh tới khía cạnhtự làm chủ
chính mình, không đi làm thuê cho ai cả trong khi KSKDtheo nghĩa tinh thần doanh
nhân còn có thể bao gồm cả những người thành lập doanh nghiệp mới để tận dụng
cơ hội thị trường nhưng lại không trực tiếp quản trịdoanh nghiệp mà thuê người
khác nên vẫn có thể đi làm thuê cho doanh nghiệp khác[9].
KSKD trong nghiên cứu này sẽ được hiểu theo nghĩa hẹp của từtinh thần
doanh nhân.Theo đó,khởi sự kinh doanhlà việc một cá nhân (một mình hoặc cùng
người khác)tận dụng cơ hội thị trường tạo dựng một công việc kinh doanh mới.
Người khởi sự kinh doanh(Entrepreneur)
Trong từ điển Webster Dictionary, người KSKDđược định nghĩa là người tổ
chức hoặc quản trị các doanh nghiệp, đặc biệt các công việc kinh doanh có nhiều rủi
ro và sự không chắc chắn.Bird (1988) [34] định nghĩa người KSKD là người bắt
đầu (hoặc tạo dựng) một công việc kinh doanh mới. MacMillan và Katz (1992)[69]
cho rằng người KSKD là người kiếm tiền bằng cách bắt đầu hoặc quản trị công việc
kinh doanh có tính rủi ro. Người KSKDlà người tạo dựng doanh nghiệp mới và phát
Footer Page 18 of 89.
Header Page 19 of 89.
13
triển kinh doanh, họ năng động trong các hoạt động kinh tế, quản trị các thay đổi về
kỹ thuật và tổ chức trong doanh nghiệp, tạo dựng văn hóa đổi mới và học tập trong
doanh nghiệp. Như vậy trong luận án này, người khởi sự kinh doanh là cá nhân tạo
dựng công việc kinh doanh mới.
Cácloại hình khởi sự kinh doanh
KSKD có thể phân loại thành nhiều dạng tùy theotiêu chí sử dụng để phân loại:
+ KSKDbằng cách thành lập doanh nghiệp độc lập: Doanh nghiệp mới được
tạo dựng bởi một hoặc nhiều cá nhân độc lập không bị kiểm soát hoặc tài trợ bởi các
doanh nghiệp đang hoạt động khác. Như vậy doanh nghiệp độc lập là sở hữu của cá
nhân các sáng lập viên và các nhà đầu tư.
+ KSKDtrong công ty (intrapreneurship):tạo dựng một doanh nghiệp mới từ
việc khai thác các cơ hội phát sinh từ công ty hiện đang hoạt động: có thể do ý
tưởng mới được hình thành hoặc do công ty hiện tại không khai thác hiệu quả một
nguồn lực nào đó. Hoạt động KSKDtrong công ty này lại được hỗ trợ và sở hữu
(một phần) bởi các công ty hiện đang hoạt động.
- Theo số người tham gia:
+ KSKD có thể bằng cách thành lập doanh nghiệp của một cá nhân
+ KSKDdo một nhóm người cùng tiến hành.
- Theo mục đích:
+ Khởi sự có thể vì mục tiêu lợi nhuận (KSKD)
+ Khởi sự không vì mục tiêu lợi nhuận (thành lập doanh nghiệp công ích,
doanh nghiệp xã hội).
Tổng kết lại, KSKD gắn liền với phát triển kinh tế và tạo của cải, giới thiệu
các sản phẩm chu trình giải pháp và dịch vụ mới cho người tiêu dùng và các nhà sản
xuất, là công việc có ý nghĩa cho những người thích quyền lực, thách thức và là cơ
hội để phát huy tính sáng tạo.Trong giới hạn của nghiên cứu này,KSKDlà quá
trình tạo ra một tổ chức kinh doanh mới độc lập, hoạt động vì lợi nhuận để tận
dụng cơ hội thị trường bởi vì loại hình KSKDnày phù hợp với bối cảnh nghiên cứu
ở sinh viên đại học, những đối tượng đang ở thời kỳ lựa chọn nghề nghiệp và định
hướng tương lai.
KSKD là một quá trình vì KSKDliên quan tới nhiều hoạt động (hình thành ý
tưởng, lập kế hoạch, chuẩn bị nguồn lực…) diễn ra trong khoảng thời gian dài, chứ
không chỉ đơn thuần là quyết định của một thời điểm hoặc một sự kiện.
Footer Page 20 of 89.
triển kinh tế xã hội, những nơi có tỷ lệ thành lập doanh nghiệp cao thường có tốc độ
tăng trưởng kinh tế cao.KSKDgóp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững trên
3 phương diện: tăng cường đổi mới và chuyển giao tri thức, tăng cạnh tranh và tăng
cường mức độ đa dạng hóa trong ngành và trong doanh nghiệp.
Footer Page 21 of 89.
Header Page 22 of 89.
16
Thứ nhất, KSKD thúc đẩy quá trình truyền bá, khai thác, phát triển các tri
thức mới đặc biệt ở loại hình KSKDtận dụng cơ hội.Nghiên cứu của Audretsch
(2004)[24]khẳng định rằng tri thức mới có mối quan hệ dương với phát triển kinh tế
vùng và tri thức mới có tác động gián tiếp tới phát triển kinh tế vùng thông qua các
hoạt động tạo lập doanh nghiệp mới. Thành lập doanh nghiệp mới là cơ sở cho gia
tăng việc khai thác, vận dụng các tri thức mới một cách hiệu quả hơn.Lý thuyết về
truyền bá tri thức qua KSKDcũng cho rằng, tri thức mới là kết quả của các hoạt
động đầu tư đổi mới của một tổ chức, doanh nghiệp đang hoạt động.Tri thức mới ra
đời sẽ tạo ra cơ hội cho các doanh nghiệp mới gia nhập vào thị trường để khai thác
các vùng thị trường mới hình thành mà cầu chưa được đáp ứng hoặc đáp ứng chưa
tốt.Đặc biệt việc một nguồn tri thức mới có được thương mại hóa, khai thác hiệu quả
hay không phụ thuộc vào khả năng khai thác của các doanh nghiệp mới gia nhập thị
trường chứ không phải phụ thuộc vào doanh nghiệp hiện đang hoạt động.Các doanh
nghiệp mới thành lập có thể gia tăng việc khai thác, vận dụng các tri thức mới một
cách hiệu quả hơn khi các công ty hiện tại có khả năng sáng tạo ra tri thức nhưng
không khai thác hiệu quả tri thức đó [36]. Sự gia tăng sự chia sẻ và trao đổi tri thức
giữa các doanh nghiệp và các ngành kinh doanh lại là cơ sở cho các hoạt động đổi
mới và phát triển công nghệ, đó chính là nhân tố hỗ trợ cho phát triển kinh tế [24].
GDP của cả nước, hàng năm thu hút hơn 90% lao động mới vào làm việc [16].Đặc
biệt, ở các nước đang phát triển KSKD góp phần tăng trưởng kinh tế, chuyển đổi cơ
cấu kinh tế, giảm nghèo đói [32].Doanh nghiệp nhỏ là xương sống của khu vực kinh
tếtư nhân, tạo ra nhiều việc làm và đóng góp thuế cho chính phủ, cải thiện cơ sở hạ
tầng.Đó là lý do hiện nay chính phủ các nước đều chú trọng quan tâm tới đào tạo
định hướng tinh thần doanh nhân và tăng cường hỗ trợ hoạt động KSKDvà nghiên
cứu về KSKD có ý nghĩa lớn và là một hướng nghiên cứu được nhiều sự quan tâm
thời gian gần đây.
1.1.1.3. Sự khác biệt KSKDở nền kinh tế chuyển đổi và đang phát triển
với KSKDở các nước phát triển
KSKD ở các nước đang phát triển nói chung và ở các nước có nền kinh tế
chuyển đổi như Việt Nam nói riêng đều gặp các thách thức, cơ hội và bối cảnh riêng
biệt so với bối cảnh ở các nước đã phát triển.
Thứ nhất, ở các nước đang phát triển và chuyển đổi, các doanh nghiệp mới
thường đượchưởng lợi thế từ các quy định chính phủ hỗ trợ doanh nghiệp mới về
thuế hoặc hỗ trợ trong tiếp cận được các thị trường xuất khẩu, cùng nhiều hỗ trợ
khác.Các doanh nghiệp hoạt động trong một môi trường có các điều kiện kinh tế xã
Footer Page 23 of 89.
Header Page 24 of 89.
18
hội thay đổi nhanh chóng, và có nhiều cơ hội kinh doanh từ việc cổ phần hóa các
doanh nghiệp nhà nước [43].Việc tự do hóa thị trường sau cơ chế kế hoạch cũng tạo
ra cơ hội lợi nhuận cao cho chủ doanh nghiệp [83].
Thứ hai, động cơ KSKD ở nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi có thể
19
tế kế hoạch hóa tập trung vẫn còn ảnh hưởng và các thể chế kinh tế thị trường mới
đang được hình thành.Tốc độ và quy mô lộ trình của cổ phần hóa các doanh nghiệp
nhà nước hay thay đổi, không rõ ràng cũng tác động tới môi trường thành lập mới
doanh nghiệp. Do vậy dù có nhiều cơ hội KSKD hơn và cạnh tranh cũng đơn giản
hơn nhưng hạn chế về nguồn vốn KSKD là nhân tố hạn chế hình thành doanh
nghiệp mới ở các nước đang chuyển đổi [43].
Thứ tư, mối quan hệ xã hội phi chính thức thường đóng vai trò quan trọng
trong môi trường kinh doanh thiếu ổn định và còn nhiều thiếu sót ở một nền kinh tế
chuyển đổi và đang phát triển để giúp chủ doanh nghiệp huy động, sử dụng các
nguồn lực, xử lý các vấn đề do cơ chế và nhân viên hành chính quan liêu gây ra.
Mạng lưới gia đình đặc biệt có vai trò quan trọng, những người có bố mẹ người thân
là chủ doanh nghiệp thường có xu hướng trở thành chủ doanh nghiệp hơn những
người khác [88].Mối quan hệ xã hội giúp chủ doanh nghiệp đàm phán tốt hơn với
nhà cung ứng, huy động nguồn tài chính và sử dụng các nguồn lực khác.McMillan
và cộng sự khi nghiên cứu ở Việt Nam đã phát hiện, trong nền kinh tế chuyển đổi,
do thể chế chính thống của kinh tế thị trường mới đang được hình thành, do sai lệch
thông tin, kém trong thực thi hợp đồng, chi phí đàm phán cao và nhiều ảnh hưởng
tiêu cực nên các doanh nghiệp chỉ có thể hoặc rời bỏ thị trường hoặc tìm tới mối
quan hệ xã hội để đảm bảo. Họ thiết lập các mối quan hệ kinh doanh và dựa vào
mối quan hệ đó để đảm bảo rằng các đối tác kinh doanh thực thi cam kết [85].
Thứ năm, chủ doanh nghiệp ở nền kinh tế chuyển đổi rất đa dạng. Do sự
chưa phát triển của khu vực kinhtế tư nhân, nhiều chủ doanh nghiệp kinh doanh sử
dụng phương thức kinh doanh rất tồi nhưng lại vẫn có thể kiếm được lợi
nhuậncao[45].Việc KSKD dường như không có liên quan gì tới trình độ học vấn.
Tuy nhiên, những người có trình độ học vấn thấp thường KSKD do cần thiết, trong
khi những người đã tốt nghiệp đại học hoặc cao đẳng thường KSKD khi phát hiện
được cơ hội kinh doanh tiềm năng và chính những người có học vấn cao này mới