i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án “Nghiên cứu các nhân tố ảnh
hưởng đến tiềm năng khởi sự của sinh viên đại học” là công
trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi. Ngoài những thông tin
thứ cấp có liên quan đến nghiên cứu đã được trích nguồn, toàn
bộ kết quả trình bày trong luận án được phân tích từ nguồn dữ
liệu điều tra do cá nhân tôi thực hiện. Tất cả các dữ liệu đều
trung thực và nội dung luận án chưa từng được công bố trong
bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Tác giả
Nguyễn Thu Thủy
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ Error! Bookmark not defined.
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TIỀM NĂNG KHỞI SỰ
KINH DOANH, MÔ HÌNH VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 11
3.2.Kết quả mô tả về tiềm năng khởi sự kinh doanh của sinh viên 83
3.2.1.Tự tin khởi sự kinh doanh 83
3.2.2. Mong muốn khởi sự kinh doanh 87
3.3. Kết quả kiểm định thang đo 88
3.3.1. Kiểm định độ tin cậy của các thang đo 88
3.3.2. Kết quả phân tích EFA 92
3.4. Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu 97
3.4.1.Kiểm định dạng phân phối của dữ liệu 97iii
3.4.2. Kiểm định mối tương quan giữa các biến 98
3.4.3. Kết quả kiểm định giả thuyết 101
3.4.4. Kiểm tra các giả định cần thiết của hồi quy tuyến tính 109
CHƯƠNG 4: BÌNH LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 112
4.1. Thảo luận kết quả 112
4.2. Một số hàm ý từ kết quả nghiên cứu 120
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Tóm tắt một số nghiên cứu trước có liên quan 35
Bảng 2.1: Thông tin về đối tượng tham gia phỏng vấn 56
Bảng 2.2: Thang đo cảm nhận về mong muốn KSKD 60
Bảng 2.3: Thang đo cảm nhận về tự tin KSKD 61
Bảng 2.4. Thang đo ý kiến người xung quanh 63
Bảng 2.5. Thang đo vị trí xã hội của chủ doanh nghiệp 63
Bảng 2.6: Thang đo kinh nghiệm kinh doanh thương mại 64
Bảng 2.7: Thang đo kinh nghiệm lãnh đạo 65
Bảng 2.8: Thang đo truyền cảm hứng KSKD trong nhà trường 66
Bảng 2.9: Thang đo phương thức học qua thực tế 67
Bảng 2.10: Thang đo tham gia hoạt động ngoại khóa 68
Bảng 3.1: Thông tin về đối tượng điều tra 81
Bảng 3.2: Kết quả điều tra về mức độ tự tin và mong muốn KSKD của sinh viên 84
Hình 1.3: Mô hình sự kiện khởi sự kinh doanh - SEE của Shapero và Sokol (1982) 26
Hình 1.4: Lý thuyết hành vi có kế hoạch của Ajzen, 1991 27
Hình 1.5: Mô hình tiềm năng KSKD của Krueger và Brazeal (1994) 29
Hình 1.6: Lý thuyết về hành vi có kế hoạch của Shapero- Krueger 30
Hình 1.7: Mô hình nghiên cứu 52
Hình 2.1: Quy trình nghiên cứu của luận án 54
Hình 2.2: Thiết kế quy trình xây dựng phiếu điều tra 58
Hình 3.1. Thống kê nghề nghiệp của bố trong mẫu điều tra 82
Hình 3.2: Thống kê nghề nghiệp của mẹ trong mẫu điều tra 83
Hình 3.3: Mức độ tự tin KSKD của sinh viên trong mẫu điều tra 85
Hình 3.4 : Mong muốn KSKD của sinh viên trong mẫu điều tra 87
Hình 3.5: Mô hình nghiên cứu điều chỉnh 96
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu tóm tắt công trình nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý thuyết về dự định khởi sự kinh doanh, nghiên cứu này
kiểm định tác động của các yếu tố trải nghiệm cá nhân (trong đó có các trải nghiệm
trong quá trình học tập tại trường đại học) và một số yếu tố môi trường tới tiềm
năng khởi sự kinh doanh thể hiện bằng 2 chỉ báo cảm nhận về mong muốn khởi sự
kinh doanh và tự tin khởi sự kinh doanh của sinh viên đại học ở Việt Nam.
Sử dụng số liệu điều tra bằng bảng hỏi trên 693 sinh viên đại học ở 11 trường
đại học trên khu vực Hà Nội, luận án kiểm định 16 giả thuyết nghiên cứu. Kết quả
cho thấy chỉ có một giả thuyết không được ủng hộ, còn lại 15 giả thuyết được ủng
hộ bởi bộ dữ liệu nghiên cứu.Ý kiến người xung quanh có mức độ tác động mạnh
nhất tới cảm nhận về mong muốn khởi sự kinh doanh, trong khiyếu tố kinh nghiệm
cá nhân có mức độ tác động mạnh hơn tới tự tin khởi sự kinh doanh.
23% thành lập doanh nghiệp khi chưa đầy 30 tuổi. Trường Stanford hiện có 1200 công
ty do sinh viên trường sáng lập trong ngành công nghệ cao [85]. Các quốc gia trên thế
giới như Malaysia, Trung Quốc, Ấn Độ… đều có kế hoạch quốc gia và các hỗ trợ
chính sách thúc đẩy hình thành các doanh nghiệp nhỏ [91].
Ở Việt Nam, vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng được xã hội
công nhận bằng việc đóng góp đáng kể vào nền kinh tế của đất nước, với GDP
chiếm khoảng 45% tổng GDP của cả nước, hàng năm thu hút hơn 90% lao động
mới vào làm việc [10]. Chính phủ Việt Nam cũng đã nhận thức được tầm quan
trọng của định hướng tinh thần doanh nhân cho sinh viên và giới trẻ Việt Nam -
nhân tố chính trong công cuộc xây dựng nền kinh tế Việt Nam năng động và bền
vững. Hàng loạt các chương trình hỗ trợ và khuyến khích người dân, thanh niên và
sinh viên khởi nghiệp đã được tổ chức như chương trình khởi nghiệp của VCCI
(qua 8 năm huy động được 15.000 thanh niên tham gia), Hội doanh nghiệp trẻ Việt
Nam, cuộc thi “Thắp sáng tài năng kinh doanh trẻ”, chương trình truyền hình làm
giàu không khó, Câu lạc bộ Khởi Nghiệp Trẻ hoạt động tại thành phố Hồ Chí Minh
cùng với sự ra mắt của Chương trình Đào tạo Khởi nghiệp VYE 2011 “Thắp Sáng”,
3
“Khởi nghiệp cùng Kawai" của đại học Ngoại thương Hà Nội… Chính phủ cũng đã
có chính sách khuyến khích và thúc đẩy thành lập doanh nghiệp và trợ giúp phát
triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng như sự tích cực triển khai các hoạt động trợ
giúp doanh nghiệp như việc thành lập các quỹ hỗ trợ phát triển, quỹ tín dụng nhân
dân ở một số địa phương nhằm tạo điều kiện cho các doanh nhân vay vốn để khởi
sự kinh doanhvà phát triển[3][4]. Ngoài ra, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi
chính phủ, Hiệp hội… cũng có các chương trình tư vấn hỗ trợ, đào tạo quản trị
doanh nghiệp, khởi sự kinh doanh nhằm thúc đẩy và khuyến khích thành lập doanh
nghiệp.Việt Nam sở hữu một môi trường kinh doanh thuận lợi cho khởi sự kinh
doanhnhư nền kinh tế tăng trưởng nhanh, dân số đông[29].Tuy nhiên khởi sự kinh
doanhở sinh viên Việt Nam còn thấp, phần lớn sinh viên ra trường đều có xu hướng
đi đăng ký tuyển dụng ở các doanh nghiệp đang hoạt động, rất ít người muốn khởi
và nhóm, quá trình hình thành vốn tri thức và vốn con người cho khởi sự, (c) lĩnh
vực nghiên cứu về các phương thức khởi sự kinh doanhvà (d) lĩnh vực nghiên cứu
về các nhân tố văn hóa, thể chế và môi trường tạo thuận lợi và cản trở khởi sự kinh
doanh[66]. Trong số đó, một lĩnh vực được các học giả đặc biệt quan tâm là nghiên
cứu vềlý do,nhân tố tác động tới và dẫn đến việc một cá nhân tiến hành các hoạt
động để khởi sự kinh doanh và tạo lập một doanh nghiệp mới. Đây là lĩnh vực
nghiên cứu rất có ý nghĩa thực tiễn cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản
lý giáo dục khi mà nhu cầu tìm hiểu nguyên nhân, cơ chế dẫn tới việc khởi sự kinh
doanh để từ đó có các giải pháp chính sách tác động phù hợp để phát triển hệ thống
doanh nghiệp cho phát triển kinh tế là yêu cầu của nhiều quốc gia trên thế giới.
Trong nghiên cứu về tâm lý học hành vi, thì dự định là chỉ báo chính xác
nhất các hành vi có kế hoạch (planned behavior) đặc biệt khi những hành vi đó khó
quan sát, diễn ra trong khoảng thời gian không dự kiến trước. Nhiều nhà nghiên cứu
đã cho rằng khởi sự kinh doanh là một loại hànhvi có kế hoạch
([20][34][59]).Kruerger và Brazeal(1994)[58]trên cơ sở này cho rằng một cá nhân
trước khi đi tới hành vi khởi sự kinh doanh cần phải có tiềm năng khởi sự, tức là
phải có thái độ tích cực và sự tự tin về khả năng khởi sự kinh doanh của mình; tiềm
năng sẽ dẫn tới dự định và hành vi khởi sự kinh doanh tương lai. Sinh viên là những
5
người đang ở thời kỳ quyết định lựa chọn định hướng nghề nghiệp tương lai, cho nên
muốn khuyến khích họ khởi sự kinh doanh khi sau này ra trường, thì cần tác động vào
tiềm năng khởi sự kinh doanh của sinh viên ngay từ khi họ đang ngồi trên ghế nhà
trường.
Thập kỷ qua có thể nói là thập kỷ nở rộ các nghiên cứutheo lý thuyết dự
định khởi sự kinh doanhvới nhiều góc nhìn khác nhau.Tuy nhiên các nghiên cứu
này(a) chủ yếu tập trung tại các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển, các hệ
thống của kinh tế thị trường được hình thành đồng bộ và vận hành hiệu quả, môi
trường kinh doanh thuận lợi cho phát triển kinh doanh; (b) thiếu nghiên cứu kết hợp
tác động của các yếu tố môi trường với trải nghiệm cá nhân vàtrải nghiệm qua hoạt
(2007)[6][8].Gần đây nghiên cứu của Lê (2013) [6] về tinh thần doanh nhân của
sinh viên chương trình tiên tiến chất lượng cao của Đại học Kinh tế Quốc dân
nhưng không tiếp cận theo lý thuyết dự định. Hiện nay, chưa có nghiên cứu nào về
các tác động của các nhân tố tới tiềm năng khởi sự kinh doanh của sinh viên đại học
được thực hiện tại Việt Nam.
Để có được một lực lượng doanh nhân mới không phải thực hiện trong một
thời gian ngắn là có được, mà cần phải có khoảng thời gian đầu tư cho công việc
đó.Bên cạnh các những chính sách hỗ trợ tạo môi trường kinh doanh tốt để kích
thích thế hệ trẻ đưa ra những ý tưởng, sáng kiến của mình vào cuộc sống thìcác
trường đại học,cơ sở đào tạo có trách nhiệm lớn trong việc hình thành những doanh
nhân tài năng tương lai, có khả năng quản trị doanh nghiệp và cũng là nơi lý tưởng
để thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp ở cộng đồng sinh viên. Để có được cách thức hỗ
trợ phù hợp, tổ chức hoạt động đào tạo có hiệu quả thì đề tài nghiên cứu “Cácnhân
tố tác động tới tiềm năng khởi sự kinh doanh của sinh viên đại học”(trong đó tập
trung nghiên cứu tác động kết hợp của các yếu tố môi trường xã hội và các trải
nghiệm cá nhân trong đó có trải nghiệm trong quá trình học đại học) là cần thiết.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Xuất phát từ các lý do trên, đề tài tập trung vào mục tiêu nghiên cứu: Kiểm định
nhân tốảnh hưởng tới tiềm năng khởi sự kinh doanh ở sinh viên đại học chính quy
trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi như ở Việt Nam. Các nhiệm vụ cụ thể gồm:
7
- Luận giải về cơ sở lý luận củakhởi sự kinh doanh và tiềm năng khởi sự kinh
doanh.
- Xây dựng và kiểm định mô hình lý thuyết và giả thuyết về mối quan hệ
giữa các yếu tố môi trường vàtrải nghiệm cá nhânvới tiềm năng khởi sự kinh doanh
của sinh viên đại học.
- Từ kết quả nghiên cứu, luận án đưa ra một số gợi ý giải pháp cho trường
đại học và các cơ quan quản lý vĩ môtrong việcthúc đẩy tiềm năng khởi sự kinh
doanh của sinh viên đại học ở Việt Nam.
Vì văn hóa vùng miền và điều kiện môi trường kinh doanh của các vùng miền khác
nhau cũng có ảnh hưởng đến tiềm năng khởi sự kinh doanh nên luận án chỉ giới hạn
nghiên cứu trong phạm vi các trường đại học khu vực Hà Nội.
- Phương pháp nghiên cứu:
Luận án sử dụng phương pháp phân tích so sánh và tổng hợp thông tin thứ
cấp từ các tài liệu sẵn có trên hệ thống cơ sở dữ liệu để hình thành khung lý thuyết,
mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu.
Luận ánsử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng kiểm định mô hình và
các giả thuyết nghiên cứu. Mặc dù luận ánđặt trọng tâm là sử dụng phương pháp
nghiên cứu định lượng để kiểm định giả thuyết, nhưng trước khi thực hiện nghiên
cứu định lượng chính thức tác giả thực hiện nghiên cứu định tính sơ bộ và một điều
tra định lượng mẫu nhỏ để kiểm tra chuẩn hóa thang đo và bảng hỏi.
+Phương pháp nghiên cứu định tính được thực hiện qua phỏng vấn sâu 10 sinh
viên năm cuối và 1 thảo luận nhóm 6 thành viên. Nghiên cứu này nhằm xác định lại
các biến và mối quan hệ giữa các biến trong mô hình lý thuyết, chuẩn hóa thuật ngữ,
điều chỉnh và bổ sung thang đo cho phù hợp bối cảnh và điều kiện Việt Nam.
+Phương pháp nghiên cứu định lượng được thực hiệnqua điều tra khảo sát.
Nghiên cứu định lượng sơ bộ thực hiện bằng phỏng vấn trực tiếp thông qua bảng
hỏi chi tiết với một mẫu nghiên cứu nhỏ thuận tiện (154 sinh viên). Dữ liệu này
nhằm đánh giá sơ bộ, cũng như chuẩn hóa thuật ngữ và bổ sung thang đo cho phù
hợp bối cảnh và điều kiện Việt Nam.Điều tra định lượng chính thức được thực hiện
9
bằng bảng hỏi chi tiết trên mẫu 693 sinh viên, thu thập thông tin cần thiết cho
nghiên cứu, các dữ liệu thu thập được dùng để đánh giá thang đo, kiểm định mô
hình và các giả thuyết nghiên cứu.
Tác giả xử lý số liệu qua sử dụng phần mềm SPSS 16 để đánh giá giá trị, độ
tin cậy của thang đo và sử dụng hồi quy đa biến tuyến tính để kiểm định mô hình
nghiên cứu và các giả thuyết.
4. Những đóng góp mới của đề tài
các trường đại học một số đề xuất để tạo điều kiện cho sinh viên nuôi dưỡngthúc
đẩy tinh thần doanh nhân,gia tăng tiềm năng khởi sự kinh doanh của sinh viên đại
học ở Việt Nam.
5.Bố cục luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận,tài liệu tham khảo, phụ lục, các nội dung chủ
yếu của luận án được trình bày ở 4 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu vềtiềm năng khởi sự kinh doanh, mô hình
và giả thuyết nghiên cứu
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Bình luận, kiến nghị
11
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TIỀM NĂNG
KHỞISỰKINH DOANH, MÔ HÌNH VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận về
khởi
sự
kinh doanh
và tiềm năng
khởi sự kinh
doanh
1.1.1.K
hởi sự kinh doanh
1.1.1.1. Khái niệm
Khởi sự kinh doanh
thần doanh nhân lại là một thái độ làm việc đề cao tính tự chủ, sáng tạo, đổi mới và
chấp nhận rủi ro tạo ra các giá trị mới trong các doanh nghiệp hiện tại [34]; là sự đổi
mới; là một phong cách nhận thức và suy nghĩ [70]; là dự định phát triển nhanh[66].
Hiện nay các nhà nghiên cứu lý thuyết lẫn thực tiễn rất đa dạng trong khái niệm và
khuôn khổ nghiên cứu về tinh thần doanh nhân.Tinh thần doanh nhân với nghĩa
rộng hơn thường được các học giả nghiên cứu trong lĩnh vực quản trị kinh doanh và
quản trị chiến lược.
Giữa KSKDtheo nghĩa tự tạo việc làm và theo khái niệm tinh thần doanh
nhân có sự khác biệt đôi chút. Tự tạo việc làm nhấn mạnh tới khía cạnhtự làm chủ
chính mình, không đi làm thuê cho ai cả trong khi KSKDtheo nghĩa tinh thần doanh
nhân còn có thể bao gồm cả những người thành lập doanh nghiệp mới để tận dụng
cơ hội thị trường nhưng lại không trực tiếp quản trịdoanh nghiệp mà thuê người
khác nên vẫn có thể đi làm thuê cho doanh nghiệp khác[9].
KSKD trong nghiên cứu này sẽ được hiểu theo nghĩa hẹp của từtinh thần
doanh nhân.Theo đó,khởi sự kinh doanhlà việc một cá nhân (một mình hoặc cùng
người khác)tận dụng cơ hội thị trường tạo dựng một công việc kinh doanh mới.
Người khởi sự kinh doanh(Entrepreneur)
Trong từ điển Webster Dictionary, người KSKDđược định nghĩa là người tổ
chức hoặc quản trị các doanh nghiệp, đặc biệt các công việc kinh doanh có nhiều rủi
ro và sự không chắc chắn.Bird (1988) [34] định nghĩa người KSKD là người bắt
đầu (hoặc tạo dựng) một công việc kinh doanh mới. MacMillan và Katz (1992)[69]
cho rằng người KSKD là người kiếm tiền bằng cách bắt đầu hoặc quản trị công việc
kinh doanh có tính rủi ro. Người KSKDlà người tạo dựng doanh nghiệp mới và phát
13
triển kinh doanh, họ năng động trong các hoạt động kinh tế, quản trị các thay đổi về
kỹ thuật và tổ chức trong doanh nghiệp, tạo dựng văn hóa đổi mới và học tập trong
doanh nghiệp. Như vậy trong luận án này, người khởi sự kinh doanh là cá nhân tạo
dựng công việc kinh doanh mới.
Cácloại hình khởi sự kinh doanh
việc khai thác các cơ hội phát sinh từ công ty hiện đang hoạt động: có thể do ý
tưởng mới được hình thành hoặc do công ty hiện tại không khai thác hiệu quả một
nguồn lực nào đó. Hoạt động KSKDtrong công ty này lại được hỗ trợ và sở hữu
(một phần) bởi các công ty hiện đang hoạt động.
- Theo số người tham gia:
+ KSKD có thể bằng cách thành lập doanh nghiệp của một cá nhân
+ KSKDdo một nhóm người cùng tiến hành.
- Theo mục đích:
+ Khởi sự có thể vì mục tiêu lợi nhuận (KSKD)
+ Khởi sự không vì mục tiêu lợi nhuận (thành lập doanh nghiệp công ích,
doanh nghiệp xã hội).
Tổng kết lại, KSKD gắn liền với phát triển kinh tế và tạo của cải, giới thiệu
các sản phẩm chu trình giải pháp và dịch vụ mới cho người tiêu dùng và các nhà sản
xuất, là công việc có ý nghĩa cho những người thích quyền lực, thách thức và là cơ
hội để phát huy tính sáng tạo.Trong giới hạn của nghiên cứu này,KSKDlà quá
trình tạo ra một tổ chức kinh doanh mới độc lập, hoạt động vì lợi nhuận để tận
dụng cơ hội thị trường bởi vì loại hình KSKDnày phù hợp với bối cảnh nghiên cứu
ở sinh viên đại học, những đối tượng đang ở thời kỳ lựa chọn nghề nghiệp và định
hướng tương lai.
KSKD là một quá trình vì KSKDliên quan tới nhiều hoạt động (hình thành ý
tưởng, lập kế hoạch, chuẩn bị nguồn lực…) diễn ra trong khoảng thời gian dài, chứ
không chỉ đơn thuần là quyết định của một thời điểm hoặc một sự kiện.
15
Mới: là để nhấn mạnh tới việc bắt đầu tạo dựng ra một cơ sở- công việc
kinh doanh.
Độc lập: là hình thành doanh nghiệp mới thuộc sở hữu của người khởi sự,
không phải loại hình KSKDở các doanh nghiệp đang hoạt động.
Vì lợi nhuận:KSKD trong nghiên cứu này không hướng tới việc đáp ứng các
yêu cầu hoặc mục đích xã hội mà KSKDtiến hành một hoặc nhiều hoạt động kinh
hoạt động tạo lập doanh nghiệp mới. Thành lập doanh nghiệp mới là cơ sở cho gia
tăng việc khai thác, vận dụng các tri thức mới một cách hiệu quả hơn.Lý thuyết về
truyền bá tri thức qua KSKDcũng cho rằng, tri thức mới là kết quả của các hoạt
động đầu tư đổi mới của một tổ chức, doanh nghiệp đang hoạt động.Tri thức mới ra
đời sẽ tạo ra cơ hội cho các doanh nghiệp mới gia nhập vào thị trường để khai thác
các vùng thị trường mới hình thành mà cầu chưa được đáp ứng hoặc đáp ứng chưa
tốt.Đặc biệt việc một nguồn tri thức mới có được thương mại hóa, khai thác hiệu quả
hay không phụ thuộc vào khả năng khai thác của các doanh nghiệp mới gia nhập thị
trường chứ không phải phụ thuộc vào doanh nghiệp hiện đang hoạt động.Các doanh
nghiệp mới thành lập có thể gia tăng việc khai thác, vận dụng các tri thức mới một
cách hiệu quả hơn khi các công ty hiện tại có khả năng sáng tạo ra tri thức nhưng
không khai thác hiệu quả tri thức đó [36]. Sự gia tăng sự chia sẻ và trao đổi tri thức
giữa các doanh nghiệp và các ngành kinh doanh lại là cơ sở cho các hoạt động đổi
mới và phát triển công nghệ, đó chính là nhân tố hỗ trợ cho phát triển kinh tế [24].
Thứ hai, việc gia nhập mới của các doanh nghiệp trong ngành làm gia tăng
sự cạnh tranh. Cạnh tranh gia tăng sẽ đáp ứng nhu cầu khách hàng tốt hơn do các
doanh nghiệp mới chịu sức ép phải tạo ra các ý tưởng, sản phẩm mới đáp ứng nhu
cầu riêng biệt của một nhóm khách hàng hoặc thị trường ngách. Các thị trường mới
mang tính chuyên biệt được hình thành lạitiếp tục khuyến khích các doanh nghiệp
mới gia nhập. Do vậy có tác động cải thiện sự phát triển của vùng và thúc đẩy tự do
thương mại [33].
Thứ ba, KSKD tạo ra doanh nghiệp mới có tác động tích cực tới năng suất.
Những ngành nào có nhiều doanh nghiệp mới gia nhập thường có sự tăng lên trong
năng suất lao động và đổi mới trong dài hạn, đặc biệt đúng trong ngành dịch vụ.
Doanh nghiệp mới gia nhập không nhất thiết là doanh nghiệp dẫn đầu hoạt động đổi
17
mới và có năng suất lao động cao hơn, mà việc gia nhập của các doanh nghiệp mới
là có tác động tới kết quả hoạt động của ngành nói chung. Tăng số lượng doanh
nghiệp mới thúc đẩy cạnh tranh trên thị trường và tính chất đào thải của cạnh tranh
Thứ hai, động cơ KSKD ở nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi có thể
dưới 2 dạng: KSKD do cần thiết và KSKDtận dụng cơ hội trong khi ở nền kinh tế
đã phát triển thường dưới dạng tận dụng cơ hội.Ở các nước đang phát triển, nhiều
người dân không kiếm được việc làm do nạn thất nghiệp, do bị lấy mất đất đai canh
tác trong quá trình phát triển kinh tế của địa phương, hoặc những người đang làm
cho các công ty nhà nước sau cổ phần hóa phải về hưu sớm bắt buộc [7]. Những
người này không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải tự kinh doanh để kiếm
sốngnên kinh doanh của họ mang tính nhỏ lẻ, kỹ năng kinh doanh kém, kinh doanh
theo phong trào, theo bản năng và thiếu tầm nhìn dài hạn. Trình độ chủ doanh
nghiệp thấp và thiếu kinh nghiệm kinh doanh nên năng suất lao động không cao,
hiệu qủa hoạt động và năng lực cạnh tranh kém.KSKDdo tận dụng cơ hội kinh
doanh thường có quy mô lớn hơn.Trong nền kinh tế đang phát triển dạng KSKD do
bắt buộc chiếm nửa số doanh nhân trẻ, còn ở các nước đã phát triển chủ yếu
KSKDđể tìm kiếm cơ hội do những người KSKD ở các nước kinh tế phát triển
thường là những người được đào tạo, có trình độ cao [52].
Thứ ba, trong nền kinh tế chuyển đổi và đang phát triển, môi trường vĩ mô
thường có nhiều cản trở cho hoạt động kinh doanh và KSKD. Các cản trở gồm có
sự thiếu phát triển của hệ thống tài chính cũng như luật pháp và điều hành chính
phủ;môi trường vĩ mô còn hay thay đổi như chính sách thuế, lạm phát cao, tỷ lệ thất
nghiệp cao, cạnh tranh không công bằng từ các doanh nghiệp lớn, nạn hàng giả,
hàng nhái của khu vực phi chính thức [45].Sự phát triển nhanh của các doanh
nghiệp tư nhân mới thành lập, cùng với sự tự do hóa kinh doanh dẫn tới sự thiếu các
dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp. Chính phủ các nước có nền kinh tế chuyển đổi cũng
thường can thiệp vào hoạt động kinh doanh, ưu ái hơn cho các doanh nghiệp có
phần vốn nhà nước, và phân bổ cho họ nhiều nguồn lực làm cản trở phát triển của
khu vực kinh tế tư nhân.Thái độ tiêu cực với kinhtế tư nhân còn tồn tại từ thời kinh
19
tế kế hoạch hóa tập trung vẫn còn ảnh hưởng và các thể chế kinh tế thị trường mới
đang được hình thành.Tốc độ và quy mô lộ trình của cổ phần hóa các doanh nghiệp