Hoan thien cong tac kiem soat chi thuong xuyen qua kho bac nha nuoc kien xuong thai binh - Pdf 41

1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, cùng với quá trình đổi mới nền kinh tế của
đất nước, công tác quản lý quỹ ngân sách Nhà nước (NSNN) đã có những
đổi mới cơ bản và từng bước hoàn thiện góp phần thúc đẩy tăng trưởng và
phát triển kinh tế, giải quyết được các vấn đề bức thiết về kinh tế - xã hội
(KT-XH). Với nhiệm vụ được giao, Kho bạc Nhà nước (KBNN) huyện
Kiến Xương - KBNN Thái Bình luôn thực hiện tốt việc quản lý, kiểm soát
chi (KSC) thường xuyên NSNN; thông qua công tác kiểm soát chi thường
xuyên NSNN, đã giúp cho các đơn vị sử dụng NSNN quản lý và sử dụng
kinh phí một cách tiết kiệm, hiệu quả, đúng mục đích. Kết quả công tác
kiểm soát chi đã góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả sử dụng kinh phí
của các đơn vị sử dụng NSNN.
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện vẫn còn tình trạng sử dụng
NSNN kém hiệu quả, lãng phí, thất thoát; các khoản chi thường xuyên còn
chi vượt dự toán đầu năm nên việc bổ sung, điều chỉnh dự toán xẩy ra
thường xuyên; cơ chế quản lý chi NSNN trên địa bàn đôi lúc còn bị động,
thiếu kiểm soát, nhiều vấn đề cấp bách chưa được xử lý kịp thời, thích
đáng; công tác điều hành NSNN trên địa bàn còn nhiều bất cập; vai trò quản
lý quỹ NSNN của KBNN huyện Kiến Xương – KBNN Thái Bình chưa
được coi trọng đúng mức; năng lực kiểm soát chi NSNN qua KBNN trên
địa bàn còn bộc lộ những hạn chế, tồn tại. Vì vậy tăng cường công tác KSC
thường xuyên NSNN qua KBNN là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và
cần được thực hiện một cách kịp thời, khoa học, có hệ thống.
Xuất phát từ tình hình thực tế đó tác giả chọn đề tài: “Kiểm soát chi
thường xuyên ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Kiến Xương Kho Bạc Nhà Nước Tỉnh Thái Bình”.
Với mong muốn có một sự đóng góp thiết thực nhằm nâng cao hiệu
quả công tác KSC thường xuyên NSNN trên địa bàn.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài



3
Tên Luận văn: “Kiểm soát chi thường xuyên ngân sách Nhà nước
tại Kho bạc Nhà nước huyện Kiến Xương KBNN tỉnh Thái Bình”.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục,
nội dung của Luận văn được bố cục làm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm soát chi thường xuyên
ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước Việt Nam;
Chương 2: Thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên ngân sách
Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước huyện Kiến Xương KBNN tỉnh Thái Bình;
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát
chi thường xuyên ngân sách Nhà nước tại Kho bạc Nhà nước huyện Kiến
Xương KBNN tỉnh Thái Bình.


4

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM
SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA
KHO BẠC NHÀ NƯỚC VIỆT NAM.
1.1. Ngân sách Nhà nước, quản lý chi ngân sách Nhà nước với công tác
kiểm soát chi thường xuyên ngân sách Nhà nước.
1.1.1. Ngân sách nhà nước
1.1.1.1. Khái niệm ngân sách Nhà nước
Luật ngân sách Nhà nước (01/2002/QH11) thông qua tại kỳ họp thứ 2
Quốc Hội khóa 11, ngày 16/12/2002 định nghĩa: “Ngân sách Nhà nước là
toàn bộ các khoản thu và chi của Nhà nước đã được cơ quan có thẩm quyền
quyết định và được thực hiện trong một năm nhằm thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ của Nhà nước”.

công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng lãnh thổ, các địa phương. Số bổ
sung này là khoản thu của ngân sách cấp dưới;
Trường hợp cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên uỷ quyền cho cơ quan
quản lý Nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi thuộc chức năng của mình
thì phải chuyền kinh phí từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để thực
hiện nhiệm vụ chi đó (kinh phí uỷ quyền)
Không được dùng ngân sách của cấp này chi cho nhiệm vụ của ngân
sách cấp khác, trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ.
1.1.1.3. Chu trình ngân sách Nhà nước
Chu trình NSNN được hiểu là một vòng tròn khép kín lặp đi lặp lại,
liên quan đến nhiều chủ thể và khách thể quản lý từ khi lập dự toán, chấp
hành cho đến khi quyết toán NSNN.
a) Lập dự toán chi ngân sách Nhà nước


6
Lập dự toán là việc các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm thu - chi ngân
sách phải tổ chức lập dự toán thu, chi ngân sách trong nhiệm vụ được giao và
gửi cơ quan Tài chính cùng cấp, cơ quan Tài chính xem xét tổng hợp, lập dự
toán trình Ủy ban nhân dân (UBND) cùng cấp, UBND có trách nhiệm kiểm
tra, xem xét dự toán ngân sách của cấp mình trình HĐND cùng cấp quyết
định và báo cáo cơ quan Tài chính cấp trên trực tiếp.
Dự toán NSNN sau khi được Quốc hội phê chuẩn trở thành các chỉ tiêu
pháp lệnh, các cơ quan Nhà nước, các đơn vị dự toán ngân sách các cấp khi
nhận được số phân bổ về ngân sách có trách nhiệm giao nhiệm vụ cho các
đơn vị dự toán trực thuộc bảo đảm đúng với dự toán ngân sách được phê
duyệt, không một tổ chức, cá nhân nào được thay đổi nhiệm vụ ngân sách đã
được phân bổ khi chưa có sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền.
Lập dự toán là công việc ban đầu rất quan trọng, đặt cơ sở nền tảng và
có ý nghĩa quyết định đến chất lượng, hiệu quả của toàn bộ các khâu trong

Như vậy, chấp hành NSNN là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp
kinh tế - tài chính và hành chính nhằm hiện thực hoá các chỉ tiêu ghi trong dự
toán NSNN năm. Nội dung của quá trình này là việc bố trí NSNN cho các nhu
cầu đã được phê chuẩn. Cũng trong quá trình này, những cơ quan quản lý Nhà
nước được pháp luật quy định có trách nhiệm kiểm soát mọi khoản chi NSNN
đảm bảo đúng dự toán, đúng chế độ hiện hành của Nhà nước. Thực chất của
quá trình chấp hành NSNN trong chu trình NSNN là tổ chức thu NSNN, cấp
phát và sử dụng kinh phí NSNN sao cho đúng mục đích và có hiệu quả.
c) Quyết toán NSNN
Là khâu cuối cùng trong chu trình quản lý NSNN. Nó bao gồm các
công việc lập, tổng hợp báo cáo quyết toán, phân tích, đánh giá các khoản thu,
chi đã thực hiện trong năm. Quyết toán thu, chi NSNN được thực hiện theo
phương pháp từ cơ sở, tổng hợp từ dưới lên trên và phải được Quốc hội và
HĐND các cấp phê chuẩn. Đó cũng chính là sự tổng kết tình hình thực hiện


8
các khoản thu, chi của năm trước, thông qua đó có thể thấy được hoạt động
kinh tế - xã hội của Nhà nước trong năm ngân sách, thấy được hoạt động
NSNN với tư cách là công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước. Từ đó, rút ra
những kinh nghiệm cần thiết cho việc điều hành chi NSNN trong những năm
sau.
1.1.2. Quản lý chi ngân sách Nhà nước, đối tượng, mục tiêu quản lý chi
NSNN
1.1.2.1. Khái niệm quản lý chi ngân sách Nhà nước
Chi NSNN là quá trình phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhằm thực
hiện các nhiệm vụ của Nhà nước trong từng thời kỳ. Chi NSNN có quy mô và
mức độ rộng lớn, bao trùm nhiều lĩnh vực, địa phương và các cơ quan hành
chính, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước.
Quản lý chi NSNN là quá trình Nhà nước vận dụng các quy luật khách

Bộ, Cục, Sở hoặc cơ quan, đơn vị thụ hưởng kinh phí NSNN theo cấp quản lý
Trung ương, tỉnh, huyện, xã.
Theo tính chất pháp lý thì chi NSNN được chia thành: các khoản chi
theo luật định, các khoản chi đã được cam kết, các khoản chi có thể điều
chỉnh…
Ngoài ra còn phân loại theo ngành kinh tế quốc dân, theo đơn vị dự
toán các cấp…
Trong quản lý NSNN hiện nay, người ta chủ yếu phân loại các khoản
chi NSNN theo nội dung kinh tế và trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, em
chỉ xin đề cập đến nội dung Chi thường xuyên NSNN.
1.1.2.3. Đặc điểm quản lý chi ngân sách Nhà nước
Tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh mà ở mỗi quốc gia có một cơ chế quản
lý chi NSNN riêng. Nhưng có thể nhận thấy cơ chế quản lý chi có một số đặc
điểm chủ yếu sau:


10
Một là, chi NSNN được quản lý bằng pháp luật. Mọi Nhà nước đều
quản lý chi NSNN bằng luật. Đây là đặc điểm quan trọng, nhìn nhận và đánh
giá đúng đặc điểm này sẽ giúp Nhà nước và các cơ quan chức năng đưa ra các
cơ chế, chính sách quản lý và điều hành chi đúng luật, đảm bảo tính hiệu quả
và công khai.
Hai là, quản lý chi NSNN sử dụng tổng hợp các biện pháp, nhưng quan
trọng nhất là biện pháp hành chính - tổ chức. Biện pháp này tác động vào đối
tượng quản lý theo 2 hướng:
- Thứ nhất, Nhà nước tác động trực tiếp đối với các chủ thể sử dụng
nguồn lực NSNN bằng việc ra các mệnh lệnh hành chính bắt buộc đảm bảo sự
tuân thủ một cách vô điều kiện.
- Thứ hai, cơ quan quyền lực Nhà nước ban hành các văn bản quy
phạm pháp luật quy định biện pháp tổ chức, sắp xếp, bố trí các hoạt động chi

1.2. Kiểm soát chi thường xuyên ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà
nước
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của kiểm soát quản lý
1.2.1.1. Khái niệm kiểm soát quản lý
Kiểm soát là quá trình đo lường, đánh giá và tác động lên đối tượng
kiểm soát nhằm bảo đảm mục tiêu, kế hoạch của tổ chức được thực hiện một
cách có hiệu quả.
Kiểm soát quản lý là quá trình trong đó chủ thể kiểm soát (các nhà quản
lý) tác động lên các thành viên của đơn vị hay tổ chức để thực hiện các kế
hoạch, mục tiêu của tổ chức đó. Hệ thống kiểm soát quản lý là một hệ thống
thu thập và sử dụng thông tin thu thập để đánh giá hoạt động của những
nguồn lực khác nhau trong tổ chức nguồn nhân lực, nguồn tài lực và toàn bộ
tổ chức nhằm xem xét về chiến lược của tổ chức.
1.2.1.2. Đặc điểm của kiểm soát quản lý
Đối tượng của kiểm soát quản lý trong các đơn vị sử dụng NSNN là
việc thực hiện và hoàn thành các nhiệm vụ của các đơn vị, các tổ chức hay cá


12
nhân có sử dụng NSNN. Chủ thể kiểm soát là người đứng đầu đơn vị, tổ chức
và các cấp quản lý khác nhau trong đơn vị hay tổ chức đó.
Quy trình kiểm soát quản lý được thực hiện theo quy trình kiểm soát
quản lý chung như trong doanh nghiệp: bắt đầu từ lập kế hoạch, lập dự toán
hoạt động, phân tích đánh giá kết quả hoạt động, khen thưởng đãi ngộ với các
đơn vị và cá nhân trong tổ chức.
Kế hoạch trong một cơ quan Chính phủ thường lập cho 5 năm, liên
quan đến nhiệm kỳ hoạt động của bộ máy Nhà nước. Kế hoạch 5 năm cụ thể
hoá các chiến lược (10 năm đến 20 năm) và quy hoạch phát triển (10 năm).
Kế hoạch 5 năm là cơ sở để xác định kế hoạch hàng năm. Kế hoạch 5 năm
thường được xây dựng vào quý II, quý III năm trước của thời kỳ 5 năm sau.

hình thức khen thưởng tập thể. Sự khác biệt thứ ba là tính kịp thời trong khen
thưởng (khen thưởng và đãi ngộ trong đơn vị sử dụng NSNN thường chậm
hơn chứ không diễn ra ngay như trong doanh nghiệp).
1.2.2. Khái niệm và đặc điểm kiểm soát chi thường xuyên ngân sách Nhà
nước qua Kho bạc Nhà nước
1.2.2.1. Khái niệm kiểm soát chi thường xuyên
Chi thường xuyên của NSNN là quá trình phân phối, sử dụng vốn
NSNN để đáp ứng cho các nhu cầu chi gắn liền với thực hiện các nhiệm vụ
của Nhà nước về lập pháp, hành pháp, tư pháp và dịch vụ công cộng khác mà
Nhà nước vẫn phải cung ứng.
Công tác KSC thường xuyên NSNN qua KBNN: Là quá trình
KBNN thực hiện thẩm định, kiểm tra, kiểm soát các khoản chi thường
xuyên NSNN của các đối tượng sử dụng NSNN phù hợp với các chính sách,
chế độ, định mức chi tiêu do nhà nước quy định, theo những nguyên tắc,
hình thức và phương pháp quản lý tài chính trong quá trình cấp phát và
thanh toán các khoản chi thường xuyên NSNN.
1.2.2.2. Sự cần thiết thực hiện kiểm soát chi thường xuyên ngân sách Nhà
nước qua Kho bạc Nhà nước


14
Thứ nhất: Quỹ NSNN được hình thành chủ yếu từ tiền thuế của dân và
khai thác tài nguyên quốc gia, ngoài ra còn có các khoản viện trợ (hoàn lại và
không hoàn lại) do đó cần phải tổ chức quản lý chi NSNN một cách phân
minh, tiết kiệm và thận trọng để phát huy hiệu quả của NSNN và tránh gánh
nặng nợ nần cho thế hệ sau. Đặc biệt, về phương diện tài chính, kiểm soát chi
NSNN là điều cần thiết, vì quy mô chi tiêu NSNN rất lớn, có ảnh hưởng đến
toàn bộ các vấn đề kinh tế, xã hội của đất nước; Mặt khác, lợi ích của các
khoản chi NSNN mang lại thường ít gắn liền với lợi ích cụ thể, cục bộ dẫn
đến sự quan tâm của người sử dụng vốn NSNN phần nào bị hạn chế, do đó,

chất hoàn trả trực tiếp, các đơn vị sử dụng NSNN “hoàn trả” cho Nhà nước
bằng “kết quả công việc” đã được Nhà nước giao. Tuy nhiên việc đánh giá kết
quả các khoản chi NSNN bằng chỉ tiêu định lượng trong một số trường hợp
gặp khó khăn và không toàn diện. Do vậy, cần thiết phải có cơ quan Nhà nước
có chức năng, nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, kiểm soát các khoản chi NSNN để
đảm bảo cho việc chi trả của Nhà nước phù hợp với nhiệm vụ đã giao.
Thứ năm: Thông qua kiểm soát chi thường xuyên, KBNN đã góp phần
quản lý tiền mặt, quản lý phương tiện thanh toán. KBNN tăng cường sử dụng
các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt và triệt để thực hiện nguyên tắc
thanh toán trực tiếp cho người cung cấp hàng hóa, dịch vụ, hạn chế tối đa việc
sử dụng tiền mặt, qua đó quản lý được mục đích chi tiêu đồng thời tiết kiệm
các chi phí về kiểm đếm, đóng gói, bảo quản, vận chuyển, tiết kiệm được
nhân lực của ngành.
Như vậy, xuất phát từ tình hình thực tế trong vấn đề chi NSNN, cũng
như những lý luận được phân tích với nhiệm vụ là “trạm gác kiểm soát cuối
cùng”, việc KBNN thực hiện kiểm soát chi NSNN nói chung và kiểm soát chi
thường xuyên nói riêng là hết sức cần thiết và cấp bách.
1.2.2.3. Đặc điểm của kiểm soát chi thường xuyên
* Đặc điểm của chi thường xuyên NSNN
Thứ nhất, đại bộ phận các khoản chi thường xuyên mang tính ổn định
khá rõ nét. Tính ổn định này xuất phát từ tính ổn định trong thực hiện các
chức năng, nhiệm vụ kinh tế - xã hội và hoạt động của bộ máy Nhà nước làm


16
nảy sinh các khoản chi thường xuyên và đòi hỏi phải có tạo lập nguồn lực tài
chính thường xuyên để trang trải.
Để đảm bảo cho Nhà nước có thể thực hiện được các chức năng của
mình, tất yếu phải cung cấp nguồn vốn từ NSNN cho nó. Mặt khác, tính ổn
định của chi thường xuyên còn bắt nguồn từ tính ổn định trong từng hoạt

cho nó được giảm bớt và ngược lại. Hoặc quyết định của Nhà nước trong việc
lựa chọn phạm vi và mức độ cung ứng các hàng hóa công cộng cũng sẽ ảnh
hưởng trực tiếp đến phạm vi và mức độ chi thường xuyên của NSNN. Nếu
Nhà nước quyết định cung cấp hàng hoá dịch miễn phí thì tất yếu phạm vi và
mức độ chi NSNN phải rộng và lớn.
* Đặc điểm kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN
KBNN thực hiện kiểm soát chi thường xuyên NSNNN theo dự toán,
chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu của Nhà nước.
Việc kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN được tiến hành
dần từng bước, sau mỗi bước lại đánh giá, rút kinh nghiệm để xây dựng bước
tiếp theo. Kho bạc thực hiện kiểm soát căn cứ vào các văn bản pháp luật về
kiểm soát chi thường xuyên NSNN. KBNN có quyền từ chối cấp phát thanh
toán nếu đơn vị sử dụng NSNN không chấp hành đúng theo quy định kiểm
soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN.
* Yêu cầu đối với công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN
Công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN phải đảm bảo các yêu cầu
sau:
- Chính sách và cơ chế kiểm soát chi thường xuyên NSNN phải làm cho
hoạt động của NSNN đạt hiệu quả cao, có tác động tích cực đến sự phát triển
của nền kinh tế, tránh tình trạng làm cho quỹ NSNN bị cắt đoạn, phân tán,
gây căng thẳng trong quá trình điều hành NSNN.


18
- Việc kiểm soát chi phải hết sức thận trọng, được thực hiện dần từng
bước, vừa làm, vừa rút kinh nghiệm để cải tiến quy trình kiểm soát chi phù
hợp với tình hình thực tế, đảm bảo tăng cường kỷ cương, kỷ luật tài chính,
mặt khác không khắt khe, máy móc gây ách tắc, phiền hà cho các đơn vị sử
dụng kinh phí NSNN các cấp.
- Tổ chức bộ máy kiểm soát chi thường xuyên NSNN phải gọn nhẹ theo

đúng mục đích, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức. Trong KSC nếu phát
hiện được cơ quan, đơn vị sử dụng kinh phí sai mục đích, không hiệu quả,
KBNN được phép từ chối thanh toán. KBNN thực hiện hạch toán, kế toán
các khoản chi thường xuyên NSNN theo đúng mục lục NSNN; đồng thời
tiến hành tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình chi NSNN trên địa bàn.
Như vậy, KBNN là “trạm canh gác kiểm soát cuối cùng” được Nhà
nước giao nhiệm vụ kiểm soát trước khi đồng vốn của Nhà nước ra khỏi quỹ
NSNN. Đồng thời, KBNN thực hiện kiểm tra và hạch toán các khoản chi
NSNN theo đúng chương, loại, khoản, mục, tiểu mục của mục lục NSNN và
cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết phục vụ cho công tác chỉ đạo và điều hành
của cơ quan Tài chính trong việc bố trí, sắp xếp các nhu cầu chi tiêu, đảm bảo
thu, chi NSNN luôn được cân đối, việc điều hành quỹ NSNN được thuận lợi.
KBNN trả tiền cho đơn vị thụ hưởng khi nhận được lệnh trả tiền của cơ
quan Tài chính hay đơn vị thụ hưởng kinh phí do ngân sách cấp, tuy nhiên,
KBNN không thực hiện theo các lệnh chi một cách thụ động, đơn thuần mà
hoạt động tương đối độc lập và có sự tác động trở lại các cơ quan, đơn vị đó.
KBNN có quyền từ chối cấp phát, thanh toán đối với các khoản chi không có
trong dự toán, kế hoạch, không đúng mục đích, không có hiệu quả hoặc
không đúng chế độ của Nhà nước, qua đó đảm bảo cho quá trình quản lý, sử
dụng công quỹ quốc gia được chặt chẽ, đặc biệt là việc mua sắm, sửa chữa,
xây dựng…, đồng thời với việc ưu tiên thanh toán trực tiếp cho đối tượng thụ
hưởng trực tiếp KBNN góp phần kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng tiền mặt
trong thanh toán, đảm bảo sự ổn định lưu thông tiền tệ.


20
Để phù hợp với chế độ phân cấp quản lý NSNN và tổ chức hoạt động
của hệ thống KBNN, việc quản lý và kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua
hệ thống KBNN được thực hiện như sau:
- KBNN thống nhất quản lý quỹ ngân sách Trung ương trong hệ

ngân sách đã được giao và theo đúng tính chất của nguồn kinh phí đã được
cấp và đúng mục lục NSNN.
1.2.4. Nội dung kiểm soát chi thường xuyên ngân sách Nhà nước
1.2.4.1. Kiểm soát điều kiện chi trả thanh toán.
- Đã có trong dự toán chi NSNN được giao: Khi nhận được dự toán chi
ngân sách được cấp có thẩm quyền giao đơn vị dự toán cấp I lập phương án
phân bổ chi thường xuyên giao cho đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc, chi
tiết đến Loại, Khoản. Trong đó giao cụ thể nguồn tiết kiệm 10% tăng thêm
(nếu có) theo quy định để thực hiện cải cách tiền lương.
Riêng đối với cơ quan Nhà nước thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách
nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính theo Nghị định số
130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 của Chính phủ, việc phân bổ và giao dự
toán chi tiết theo 2 phần: phần dự toán chi NSNN giao thực hiện chế độ tự
chủ, tự chịu trách nhiệm; phần dự toán chi NSNN giao không thực hiện chế
độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
Đối với đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện tự chủ tự chịu trách nhiệm
về tài chính theo quy định tại Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006
của Chính phủ, việc phân bổ và giao dự toán thu, chi NSNN căn cứ vào
nhiệm vụ được giao, phân loại đơn vị sự nghiệp, dự toán kinh phí NSNN bảo
đảm hoạt động thường xuyên năm đầu thời kỳ ổn định được cấp có thẩm
quyền phê duyệt (đối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt
động và đơn vị sự nghiệp do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động); dự
toán chi tiết theo 2 phần: phần dự toán chi NSNN bảo đảm hoạt động thường
xuyên, phần dự toán chi hoạt động không thường xuyên.
- Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi: KBNN thực hiện kiểm soát,
thanh toán các khoản chi thuộc nội dung chi được giao tự chủ, khoản chi


22
bảo đảm hoạt động thường xuyên theo chế độ tiêu chuẩn, định mức quy

- Có đầy đủ hồ sơ, chứng từ hợp pháp, hợp lệ theo quy định liên quan
đến từng khoản chi: Mỗi khoản chi đều phải lập theo mẫu chứng từ đã được
quy định, KBNN có trách nhiệm kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ
chứng từ thanh toán trước khi thanh toán, chi trả kinh phí NSNN cho đơn vị
sử dụng.
1.2.4.2. Kiểm soát hình thức chi trả thanh toán ngân sách Nhà nước
- Chi trả, thanh toán theo dự toán từ KBNN
Đối tượng chi trả, thanh toán theo dự toán NSNN từ KBNN gồm: Các
khoản chi thường xuyên trong dự toán được giao của các cơ quan, đơn vị sau:
Các cơ quan hành chính Nhà nước; các đơn vị sự nghiệp; các tổ chức chính trị
xã hội, chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề
nghiệp được NSNN hỗ trợ kinh phí thường xuyên; các Tổng công ty Nhà
nước được hỗ trợ thực hiện một số nhiệm vụ thường xuyên theo quy định của
pháp luật.
Quy trình chi trả, thanh toán theo dự toán từ KBNN: Căn cứ yêu cầu
nhiệm vụ chi, thủ trưởng đơn vị sử dụng NSNN lập giấy rút dự toán NSNN
kèm theo các hồ sơ thanh toán gửi KBNN nơi giao dịch để làm căn cứ kiểm
soát, thanh toán.
KBNN kiểm tra, kiểm soát các hồ sơ thanh toán của đơn vị sử dụng
NSNN theo quy định, nếu đủ điều kiện theo quy định, thì thực hiện thanh toán
trực tiếp cho người hưởng lương, trợ cấp xã hội và người cung cấp hàng hoá,
dịch vụ hoặc thanh toán qua đơn vị sử dụng NSNN.
Khi thực hiện chi trả, thanh toán theo dự toán từ KBNN, KBNN thực
hiện chi cho đơn vị sử dụng NSNN theo đúng các mục chi thực tế trong
phạm vi dự toán NSNN giao. Riêng nhóm mục chi khác trong dự toán
NSNN được phép thanh toán để chi cho tất cả các nhóm mục, song phải
hạch toán theo đúng mục thực chi.


24

Kiểm tra, kiểm soát các khoản chi bảo đảm đúng chế độ, tiêu chuẩn,
định mức do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định. Các khoản chi phải
bảo đảm định mức, tiêu chuẩn đã quy định như: Định mức chi tiêu hội nghị,
công tác phí, các tiêu chuẩn như điện thoại, mua sắm, sử dụng ô tô… Các
khoản chi phải tổ chức đấu thầu, chào hàng cạnh tranh, chỉ định thầu.
Đối với các khoản chi chưa có chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NSNN,
KBNN căn cứ vào dự toán NSNN đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
phân bổ để kiểm soát và thanh toán cho đơn vị.
- Sau khi kiểm soát hồ sơ, chứng từ chi của đơn vị, KBNN thực hiện:
Trường hợp đảm bảo đầy đủ các điều kiện chi theo quy định, KBNN
làm thủ tục chi trả, thanh toán cho đơn vị sử dụng NSNN theo quy định.
Trường hợp chưa đủ điều kiện thanh toán, nhưng thuộc đối tượng được
tạm ứng, KBNN làm thủ tục tạm ứng cho đơn vị sử dụng NSNN theo quy
định. Các khoản này chưa được ghi chi NSNN mà để theo dõi tạm ứng. Sau
khi có đủ hồ sơ chứng từ sẽ thực hiện thanh toán tạm ứng.
Trường hợp không đủ điều kiện chi, KBNN được phép từ chối chi trả,
thanh toán. Các đơn vị sử dụng NSNN hoàn thiện các thủ tục, đáp ứng đầy đủ
các điều kiện chi như bổ sung dự toán, bổ sung chứng từ, xem xét lại tiêu
chuẩn, định mức phù hợp sau đó gửi lại KBNN để kiểm tra và thanh toán.
1.2.4.4. Kiểm soát phương thức chi trả thanh toán
Việc chi trả, thanh toán được thực hiện dưới hai hình thức cấp tạm ứng
và cấp thanh toán:
- Cấp tạm ứng.
Đối tượng cấp tạm ứng: Là các khoản chi hành chính như văn phòng
phẩm, công cụ dụng cụ, tiền điện nước, tiền nhiên liệu, hội nghị, công tác phí,
tiếp khách, chi đoàn ra đoàn vào…và các khoản chi mua sắm tài sản, sửa chữa



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status