PHÁP LUẬT HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI Ở VIỆT NAM - Pdf 41

Header Page 1 of 148.

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ TÌNH

PHÁP LUẬT HẠN CHẾ CẠNH TRANH
TRONG HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành

: Luật Kinh tế

Mã số

: 62 38 01 07

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

1. PGS.TS. NGUYỄN VIẾT TÝ
2. TS. NGUYỄN THỊ DUNG

HÀ NỘI - 2015

Footer Page 1 of 148.


10

1.1. Các công trình nghiên cứu trên thế giới

10

1.2. Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam

14

1.3. Đánh giá tình hình nghiên cứu của các công trình nghiên cứu
liên quan đến đề tài luận án

20

1.4. Cơ sở lý thuyết và câu hỏi nghiên cứu

22

1.4.1. Cơ sở lý thuyết

22

1.4.2. Một số câu hỏi nghiên cứu và giả thiết nghiên cứu đặt ra khi
nghiên cứu luận án
1.5. Những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu

22
24

42

2.2.3. Nhận diện hành vi hạn chế cạnh tranh trong hoạt động
nhượng quyền thương mại

45

2.3. Khái niệm và nội dung pháp luật hạn chế cạnh tranh trong hoạt
động nhượng quyền thương mại
Footer Page 3 of 148.

58


Header Page 4 of 148.

2.3.1. Khái niệm pháp luật hạn chế cạnh tranh trong hoạt động
nhượng quyền thương mại

58

2.3.2. Nội dung của pháp luật hạn chế cạnh tranh trong hoạt động
nhượng quyền thương mại

62

2.4. Những quy định pháp luật hạn chế cạnh tranh trong hoạt động
nhượng quyền thương mại ở Mỹ và Liên minh Châu Âu

68


3.2. Thực trạng pháp luật về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh trong
hoạt động nhượng quyền thương mại
3.2.1. Hành vi áp đặt giá bán bất hợp lý gây thiệt hại cho bên nhận quyền

95
95

3.2.2. Hành vi ấn định giá bán lại hoặc ấn định giá bán lại tối
thiểu gây thiệt hại cho khách hàng

99

3.2.3. Hành vi buộc bên nhận quyền chấp nhận các nghĩa vụ
không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng

108

Chƣơng 4: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HOẠT
ĐỘNG NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY

120

4.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật hạn chế cạnh tranh trong
hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam

Footer Page 4 of 148.


4.2.1. Đối với thỏa thuận về giá bán hàng hóa, dịch vụ

129

4.2.2. Đối với thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ

131

4.2.3. Đối với hành vi áp đặt giá bán gây thiệt hại cho bên nhận
quyền
4.2.4. Đối với hành vi ấn định giá bán lại hoặc ấn định giá bán lại

133

tối thiểu

134

4.2.5. Đối với hành vi buộc bên nhận quyền chấp nhận các nghĩa
vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng
(ràng buộc bán kèm)
KẾT LUẬN

136
142

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƢỢC CÔNG BỐ

145


Footer Page 6 of 148.


Header Page 7 of 148.

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dưới góc độ kinh tế, nhượng quyền thương mại là phương thức kinh
doanh, theo đó bên nhượng quyền cấp cho bên nhận quyền quyền độc quyền
kinh doanh sản phẩm, dịch vụ của mình trong một thời gian, dưới nhãn hiệu, kế
hoạch kinh doanh của bên nhượng quyền. Bên nhận quyền là bên sử dụng tên
thương mại, bí quyết kinh doanh... của bên nhượng quyền để tiến hành kinh
doanh sản phẩm, dịch vụ theo phương thức của bên nhượng quyền.
Khi thực hiện kinh doanh theo phương thức nhượng quyền, bên nhượng
quyền phải chuyển giao toàn bộ quyền thương mại (bao gồm tất cả các yếu tố
tạo nên thương hiệu của bên nhượng quyền như nhãn hiệu, tên thương mại, bí
quyết kinh doanh…) cho bên nhận quyền sử dụng để tiến hành kinh doanh.
Nghĩa vụ của bên nhận quyền là phải kinh doanh theo một phương thức duy
nhất, cung cấp sản phẩm với chất lượng và dịch vụ đồng nhất với bên nhượng
quyền, đảm bảo khách hàng khi sử dụng sản phẩm sẽ không thể phân biệt
được sự khác biệt với sản phẩm của bên nhượng quyền và các cơ sở nhận
quyền khác. Chính vì vậy, có thể nói khi kinh doanh theo phương thức
nhượng quyền, bên cạnh lợi ích rất lớn từ việc thu phí nhượng quyền và
thương hiệu được đẩy nhanh do mạng lưới nhượng quyền được mở rộng bởi
sự đầu tư và tham gia của các bên nhận quyền, bên nhượng quyền cũng phải
đối mặt với rủi ro rất lớn là mất quyền thương mại và sụp đổ toàn bộ hệ thống
nhượng quyền - những thứ mình đã dày công xây dựng - về tay người khác,
nếu như không có một sự kiểm soát chặt chẽ.

ro phải đối mặt đối với các bên.
Đặc thù này đòi hỏi pháp luật điều chỉnh trực tiếp hoạt động nhượng
quyền thương mại phải được đặt trong mối quan hệ với pháp luật cạnh
tranh. Bởi lẽ, nếu áp dụng các quy tắc chung của pháp luật cạnh tranh để
điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thì trong nhiều trường hợp sẽ không
phù hợp với bản chất thương mại của hoạt động nhượng quyền thương mại,
không đảm bảo được lợi ích chính đáng của các bên, từ đó số lượng thương
vụ nhượng quyền sẽ ít và lợi ích của nền kinh tế sẽ bị ảnh hưởng. Ngược
lại, nếu pháp luật điều chỉnh hoạt động này theo đúng bản chất của hoạt
Footer Page 8 of 148.


Header Page 9 of 148.

3
động nhượng quyền thương mại thì các chủ thể tham gia quan hệ sẽ gặp
khó khăn trong việc tuân thủ theo những quy định thông thường của pháp
luật cạnh tranh. Điều này sẽ tất yếu dẫn đến việc nhà nước (đặc biệt là các
cơ quan quản lý về cạnh tranh và thương mại) sẽ cảm thấy “bất lực” trong
việc điều hòa lợi ích cạnh tranh và lợi ích kinh tế mà hoạt động nhượng
quyền thương mại mang lại. Chính vì vậy, việc nghiên cứu pháp luật hạn
chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại là cần thiết trong
bối cảnh nền kinh tế hiện nay, thông qua đó, đề xuất những giải pháp vừa
để nâng cao thái độ tuân thủ pháp luật cạnh tranh của các chủ thể tham gia
quan hệ nhượng quyền thương mại, vừa đảm bảo hoạt động nhượng quyền
được phát triển và phát huy được lợi thế theo đúng bản chất vốn có của nó.
Việc thực hiện Luật Cạnh tranh trong 10 năm qua đã tạo ra một
khuôn khổ pháp lý tương đối toàn diện để điều chỉnh các hành vi hạn chế
cạnh tranh ở Việt Nam, qua đó tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh và
bình đẳng cho các chủ thể tham gia trên thị trường. Tuy nhiên, các quy

Để thực hiện mục đích trên, các nhiệm vụ sau đây được xác định
trong Luận án:
Thứ nhất, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động nhượng
quyền thương mại ở các khía cạnh như: khái niệm, bản chất của hoạt động
nhượng quyền thương mại. Thông qua đó, chỉ rõ các đặc thù của hoạt động
nhượng quyền thương mại trong mối quan hệ với pháp luật hạn chế cạnh tranh.
Thứ hai, phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về hành vi hạn chế
cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại. Thông qua đó, làm
sáng tỏ cơ sở phát sinh hành vi hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng
quyền, lý giải nguyên nhân của xu hướng thực hiện hành vi hạn chế cạnh
tranh trong hoạt động nhượng quyền và nhận diện các hành vi hạn chế cạnh
tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại.
Thứ ba, phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật
hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại như: khái
niệm pháp luật hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương
mại; xác định nội dung của pháp luật hạn chế cạnh tranh trong hoạt động
nhượng quyền thương mại.
Footer Page 10 of 148.


Header Page 11 of 148.

5
Thứ tư, phân tích thực trạng pháp luật hạn chế cạnh tranh trong hoạt
động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam hiện nay, so sánh với pháp
luật của Mỹ và Liên minh Châu Âu ở các nội dung như: (1) thực trạng pháp
luật về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong quan hệ nhượng quyền thương
mại, (2) thực trạng pháp luật điều chỉnh hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh
trong quan hệ nhượng quyền thương mại. Thông qua đó, làm sáng tỏ mức
độ can thiệp và cách thức xử lý của pháp luật Việt Nam hiện nay đối với

Trong quá trình nghiên cứu, pháp luật của các quốc gia, tổ chức khác
trên thế giới đặc biệt là pháp luật của Liên minh Châu Âu và Mỹ cũng được
tác giả quan tâm nghiên cứu. Trên cơ sở đó, rút ra những kết luận, kinh
nghiệm cho quá trình hoàn thiện pháp luật hạn chế cạnh tranh trong hoạt động
nhượng quyền thương mại ở Việt Nam hiện nay.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu nêu trên, luận án sử dụng nhiều
phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau, như: phương pháp mô tả,
tổng hợp, phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, kết hợp
nghiên cứu lý luận với thực tiễn... Các phương pháp nghiên cứu trong Luận
án được thực hiện trên nền tảng của phương pháp luận duy vật lịch sử, duy
vật biện chứng; trên cơ sở các quan điểm, đường lối về chính trị, kinh tế,
văn hóa và xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cụ thể:
- Phương pháp mô tả, tổng hợp, thống kê được sử dụng để phác họa
nội dung của các quy định pháp luật của Việt Nam liên quan đến pháp luật
hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại
- Phương pháp so sánh đối chiếu và phân tích được sử dụng để chỉ ra
những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật
của các quốc gia khác trên thế giới về những vấn đề liên quan đến luận án.
- Phương pháp tổng hợp, phân tích được sử dụng để làm rõ nội dung
của các quy định pháp luật thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án và đề
xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam điều chỉnh hành
vi hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại.
Trong số các phương pháp trên, phương pháp phân tích và so sánh sẽ
được sử dụng chủ yếu và xuyên suốt hầu hết các nội dung của luận án,

Footer Page 12 of 148.


Header Page 13 of 148.

Footer Page 13 of 148.


Header Page 14 of 148.

8
dưới hai dạng thức: (1) hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và (2) lạm
dụng vị trí thống lĩnh thị trường. Luận án đã phân tích, chỉ rõ một số bất
cập của pháp luật hiện hành điều chỉnh hành vi hạn chế cạnh tranh trong
hoạt động nhượng quyền thương mại trong mối tương quan so sánh với
pháp luật của Mỹ và Liên minh Châu Âu.
Thứ tư, luận án đã đề xuất quan điểm và xác định luận cứ khoa học
cho việc hoàn thiện pháp luật hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng
quyền thương mại, đảm bảo hoạt động nhượng quyền thương mại phát triển
hiệu quả, phù hợp với bản chất thương mại của hành vi mà vẫn không vi
phạm nguyên tắc, đối tượng mà pháp luật cạnh tranh bảo vệ, thông qua đó,
đảm bảo sự phát triển bền vững của nền kinh tế.
Những quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại được đề xuất trong luận án có ý nghĩa trong việc
thiết lập sự thống nhất của pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại
với pháp luật cạnh tranh trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam
hiện nay.
Có thể nói, luận án là công trình khoa học đã phân tích, làm sáng tỏ
mối quan hệ giữa hoạt động nhượng quyền thương mại và hành vi hạn chế
cạnh tranh, lý giải tại sao trong quá trình thực hiện hoạt động nhượng
quyền thương mại các chủ thể thường có xu hướng thực hiện hành vi hạn
chế cạnh tranh; phát hiện ra sự thiếu vắng của các ngoại lệ áp dụng cho
hành vi hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại,
thông qua đó, chỉ ra sự bất cập của pháp luật hạn chế cạnh tranh trong hoạt
động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở đó, luận
án đã đề xuất một số giải pháp nhằm giải quyết hài hòa sự phát triển của

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
Pháp luật về nhượng quyền thương mại là một trong các nội dung
quan trọng của pháp luật điều chỉnh hoạt động thương mại trong nền kinh
tế thị trường, đang được nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau
quan tâm nghiên cứu. Ở các phạm vi và mức độ khác nhau, có một số công
trình đã được công bố, đề cập đến một số khía cạnh kinh tế và pháp lý của
hoạt động nhượng quyền thương mại như sau:
1.1. Các công trình nghiên cứu trên thế giới
Xét trên phạm vi khu vực và toàn thế giới, các công trình nghiên
cứu về nhượng quyền thương mại chủ yếu tập trung vào: (i) phân tích các
đặc điểm và cách thức tiến hành hoạt động nhượng quyền thương mại, đặc
biệt là nhượng quyền thương mại quốc tế được biên tập bởi Yanos
Gramatidis & Dennis Campbell trên cơ sở Báo cáo hội thảo được tổ chức
tại Trường Luật McGeorge vào năm 1990 tại Waidring, Austria (Editors:
Yanos Gramatidis & Dennis Campbell - International Franchising: An indepth treatment of business and legal techniques- Nhượng quyền thương
mại quốc tế: Nghiên cứu chuyên sâu về kinh doanh và kỹ thuật pháp lý-.
(Based on reports made in the Spring 1990 conference sponsored by
McGeorge School of Law at Waidring, Austria, and chaired by Yanos
Gramatidis, Bahas, Gramatidis & Associates, Athens, Greece.) -Kluwer
Law and Taxation Publishers. Deventer -Boston 1999); (ii) đánh giá những
tác động của hoạt động nhượng quyền thương mại tới nền kinh tế
(Economic Impact of franchised bussiness, a study for the international
franchise -Tác động kinh tế của phương thức kinh doanh nhượng quyền,
nghiên cứu trong hoạt động nhượng quyền thương mại quốc tế-.
Footer Page 16 of 148.


Header Page 17 of 148.


kinh tế.

Footer Page 17 of 148.


Header Page 18 of 148.

12
- Khẳng định các hành vi hạn chế cạnh tranh thường xuất hiện trong hệ
thống nhượng quyền thương mại phân phối như các hành vi hạn chế cạnh
tranh về giá, về lãnh thổ, về nguồn cung cấp hàng hóa/dịch vụ cho bên nhận
quyền trong quá trình kinh doanh theo phương thức nhượng quyền.
- Thông qua các văn bản pháp luật và hệ thống các án lệ, công trình
nghiên cứu đã chỉ ra sự cần thiết trong việc điều chỉnh hành vi hạn chế
cạnh tranh trong quan hệ nhượng quyền thương mại và quan điểm pháp lý
của hầu hết các quốc gia, đại diện là Mỹ và EU là cần phải cân nhắc đến
bản chất của quan hệ nhượng quyền. Cụ thể, tại đoạn 3, trang 178, tác giả
đã kết luận, thông qua các tranh chấp liên quan đến hành vi hạn chế cạnh
tranh trong quan hệ nhượng quyền như Pronuptia, Yves Rocher,
Computerland, ServiceMaster, and Charles Jourdan, Ủy ban Châu Âu đã
nhận ra rằng, hệ thống nhượng quyền thương mại luôn đối mặt với những
hành vi hạn chế cạnh tranh trong hệ thống và đưa ra lý do cần thiết phải
ban hành những quy định mang tính ngoại lệ để áp dụng Điều 85(3) Hiệp
ước Thành lập cộng đồng chung Châu Âu. Theo đó, trong án lệ Pronuptia,
bên nhận quyền đã cho rằng trong hợp đồng nhượng quyền đã có các thỏa
thuận về hạn chế phạm vi lãnh thổ, nghĩa vụ không cạnh tranh và ràng buộc
chỉ mua từ nguồn cung ứng xác định đã vi phạm Điều 81(1) EC (trước đây
là Điều 85(1)) Hiệp ước thành lập Cộng đồng chung Châu Âu, do vậy hợp
đồng này bị vô hiệu theo quy định tại Điều 81(2) EC (trước đây là Điều
85(2)), do đó bên nhận quyền không phải trả phí nhượng quyền chưa thanh

trong hệ thống nhượng quyền thương mại phân phối mà không nghiên cứu
các hành vi hạn chế cạnh tranh tại các hình thức nhượng quyền thương mại
khác như nhượng quyền thương mại sản xuất, nhượng quyền thương mại
dịch vụ - là những hình thức nhượng quyền thương mại rất phổ biến trong
thương mại hiện đại [10, tr.70-72].
 Understanding the Relationship between Franchising and the Law
of Competition (Tìm hiểu mối quan hệ giữa nhượng quyền thương mại và
pháp luật cạnh tranh), TANYA WOKER, University of KwaZulu-Natal.
Citation: 18 S. Afr. Mercantile L.J. 107 2006: Giống như quan điểm được
trình bày trong Report on Competition Policy and Vertical Restraints:
Footer Page 19 of 148.


Header Page 20 of 148.

14
Franchising Agreements như đã trình bày ở trên, trong công trình này, tác
giả đã chỉ ra mối liên hệ tất yếu, khách quan của hành vi hạn chế cạnh
tranh trong quan hệ nhượng quyền thương mại. Các hành vi này thể hiện
dưới các hình thức như thỏa thuận về giá, thỏa thuận độc quyền cung cấp
hàng hóa, thỏa thuận phạm vi lãnh thổ nhượng quyền. Trên cơ sở phân tích
bản chất đặc thù của quan hệ nhượng quyền thương mại, tác giả đã phát
hiện và đặt câu hỏi có nên coi một số hành vi của bên nhượng quyền gây
hạn chế cạnh tranh đối với bên nhận quyền là lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường kể cả khi theo cách xác định thị trường liên quan thông thường bên
nhượng quyền không đạt được vị thế thống lĩnh. Tuy nhiên, tác giả cũng
mới chỉ dừng lại ở sự phát hiện và phân tích hành vi hạn chế cạnh tranh
một cách độc lập mà chưa có sự nghiên cứu một cách tổng thể các khía
cạnh có liên quan của pháp luật cạnh tranh đối với hành vi hạn chế cạnh
tranh của các bên trong hệ thống nhượng quyền cũng như gợi mở hướng

định… Ngược lại, bên nhận quyền có thể buộc bên nhượng quyền phải
chuyển giao quyền thương mại độc quyền cho mình. Những quy định hạn
chế cạnh tranh như vậy trong nhượng quyền thương mại trong một chừng
mực nhất định có thể bị lạm dụng bởi các bên, nhất là bởi bên nhượng
quyền, và có thể vi phạm pháp luật cạnh tranh. Ở Mỹ và Liên minh Châu
Âu cho đến nay đã có nhiều tranh chấp liên quan đến nhượng quyền thương
mại trên cơ sở pháp luật cạnh tranh. Mặc dù pháp luật về nhượng quyền
thương mại ở các quốc gia này đã phát triển và luôn được hoàn thiện,
nhưng các bên có liên quan vẫn sử dụng các quy định của pháp luật cạnh
tranh để chống lại những hành vi hạn chế cạnh tranh trong nhượng quyền
thương mại, chống lại hành vi lạm quyền của bên nhượng quyền và cơ
quan nhà nước có thẩm quyền về cạnh tranh thậm chí vẫn ban hành các quy
định về việc áp dụng pháp luật cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền
thương mại.
Qua bài viết, tác giả đã giới thiệu một cách khái quát quan điểm xử
lý hành vi cạnh tranh trong quan hệ nhượng quyền thương mại ở Mỹ và EU
thông qua các quy phạm pháp luật thực định và một số án lệ điển hình.
Footer Page 21 of 148.


Header Page 22 of 148.

16
Tuy nhiên, bài viết này mới đề cập đến một khía cạnh nhỏ về mối
liên hệ giữa hoạt động nhượng quyền thương mại với pháp luật điều chỉnh
thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, đồng thời bài viết mới đưa ra những thông
tin về quan điểm giải quyết các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong
pháp luật của Liên minh Châu Âu và Mỹ mà chưa phân tích đề cập đến
pháp luật điều chỉnh hành vi cạnh tranh trong quan hệ nhượng quyền
thương mại ở Việt Nam.

K2 và 6 Điều 8 Luật Cạnh tranh 2005 và khẳng định các thỏa thuận này có
thể được miễn trừ theo quy định tại Điều 10, các điều khoản miễn trừ của
Luật Cạnh tranh 2005. Sau khi chấm dứt hợp đồng, thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh thường thể hiện dưới dạng bên nhận quyền cam kết không thực
hiện bất kỳ hoạt động kinh doanh hoặc hợp tác nào đối với các đối thủ cạnh
tranh của bên nhượng quyền trong một thời gian từ 1-2 năm kể từ này
chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại. Thông qua bài viết, tác giả
chỉ ra sự tác động của các thỏa thuận này đối với môi trường cạnh tranh và
quan điểm giải quyết trong pháp luật EU và Cộng hòa Liên bang Đức.
Theo đó, tác giả cho biết, theo pháp luật của EU, tính hợp pháp của các
thỏa thuận loại này được xác định trên ba tiêu chí: (1) Thời hạn hiệu lực
của các điều khoản cấm cạnh tranh sau khi chấm dứt hợp đồng; (2) hạn chế
về lãnh thổ; (3) Nghĩa vụ đền bù, cụ thể, một thỏa thuận cạnh tranh loại
này sẽ không được coi là hợp pháp nếu nó không đảm bảo nguyên tắc
“tương xứng và phù hợp”.
+ Bài viết Mối quan hệ giữa pháp luật nhượng quyền thương mại và
cạnh tranh của tác giả Ngô Thị Thu Hà, Hoàng Văn Thành đăng trên Tạp
chí Tài chính số 2/2014 đã khẳng định, hoạt động nhượng quyền dưới khía
cạnh pháp luật cạnh tranh chủ yếu liên quan tới các quy định về thỏa thuận
hạn chế cạnh tranh, đối với quy định về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường, vị trí độc quyền có thể tồn tại nhưng ít phổ biến, còn các quy định
về tập trung kinh tế trong pháp luật cạnh tranh hầu như không có mối quan
hệ với pháp luật về nhượng quyền thương mại. Tác giả cho rằng, thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh trong quan hệ nhượng quyền thương mại chỉ xảy
ra giữa bên nhượng quyền với bên nhận quyền và thường tồn tại dưới các
Footer Page 23 of 148.


Header Page 24 of 148.




Header Page 25 of 148.

19
“Những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật điều chỉnh nhượng quyền
thương mại ở Việt Nam” (Đại học Luật Hà Nội - 2009). Nội dung luận án
nghiên cứu một cách tổng thể về pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng
quyền thương mại, luận án đã chỉ ra những đặc điểm mang tính bản chất
của hoạt động nhượng quyền và nhận diện hoạt động nhượng quyền thương
mại dưới các góc độ khác nhau như dưới góc độ một hoạt động thương mại
đơn thuần, dưới góc độ sở hữu trí tuệ và dưới góc độ cạnh tranh. Về mối
quan hệ giữa hoạt động nhượng quyền thương mại dưới góc độ cạnh tranh,
luận án đã khẳng định sự tồn tại tất yếu khách quan của hành vi hạn chế
cạnh tranh trong quan hệ nhượng quyền thương mại, trên cơ sở đó đã nhận
diện các hành vi hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền. Tuy
nhiên, luận án chưa đi sâu phân tích và nghiên cứu các hành vi ảnh hưởng
đến môi trường cạnh tranh trong quan hệ nhượng quyền thương mại, vì
vậy, mới chỉ đưa ra các giải pháp mang tính định hướng trong việc hoàn
thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền dưới góc độ pháp luật
cạnh tranh mà chưa chỉ ra các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật
hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại; (2) Luận án
Tiến sỹ “The Role and Influence of Vietnam‟s Franchise Law on the
Development of Franchising: a Multiple Case Study” của tác giả Nguyễn Bá
Bình (University of New South Wales, Australia) đã có công trình nghiên cứu
khá toàn diện về vai trò của pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền
thương mại đối với quá trình phát triển hoạt động nhượng quyền thương mại
ở Việt Nam. Thông qua việc nghiên cứu các thương vụ nhượng quyền cụ thể,
Luận án đã chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng to lớn đến quá trình phát triển
nhượng quyền thương mại ở Việt Nam như các yếu tố về văn hóa, xã hội và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status