Header Page 1 of 258.
1
ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN UYÊN
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Tổ chuyên môn Tiểu học
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
"RÈN PHÁT ÂM TIẾNG VIỆT
CHO HỌC SINH LỚP 1 DÂN TỘC MÔNG"
Họ và tên người thực hiện: Nguyễn Thị Lan
Chức vụ: Cán bộ chuyên môn
TÂN UYÊN, th¸ng 3 n¨m 2013
Footer Page 1 of 258.
Header Page 2 of 258.
2
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn chuyên đề
Trường Tiểu học có vị trí, nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong sự
nghiệp giáo dục. Là nơi tổ chức các hoạt động giáo dục tạo tính tự giác
trong quá trình phát triển của trẻ. Là công trình văn hoá giáo dục bền vững,
nơi diễn ra cuộc sống thực của trẻ. Học sinh Tiểu học là những chủ nhân
năng: nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt. Tuy nhiên hạn chế lớn là các em thường
phát âm sai, đọc lệch chuẩn tiếng Việt. Học sinh dân tộc Mông việc phát âm
của các em theo âm gió, phát âm giống như khi ta phát âm tiếng Anh, chính vì
Footer Page 2 of 258.
Header Page 3 of 258.
3
vậy khi phát âm tiếng Việt các em phát âm sai và đọc lệch chuẩn trầm trọng, từ
việc đọc sai, nói sai dẫn đến việc viết sai theo đọc, nói nên khi người khác đọc
văn bản do các em viết đã hiểu sai nội dung văn bản đó.
Căn cứ vào thực tế, thực trạng phát âm tiếng Việt của học sinh lớp 1
dân tộc Mông khi học tiếng Việt và căn cứ vào văn bản chỉ đạo, hướng dẫn
của Sở Giáo dục và Đào tạo Lai Châu về công tác nâng cao chất lượng
nhất là những lớp đầu cấp và việc cần thiết thực hiện rèn học sinh dân tộc
Mông đọc đúng, tôi đi sâu nghiên cứu tìm hiểu chuyên đề "Rèn phát âm
tiếng Việt cho học sinh lớp 1 dân tộc Mông” từ đó đưa ra một số biện
pháp nhằm nâng cao chất lượng đọc, hiệu quả học môn Tiếng Việt cho học
sinh dân tộc Mông.
II. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
1. Phạm vi nghiên cứu
Học sinh lớp 1, giáo viên dạy lớp 1 của 02 trường Tiểu học (Tiểu học
xã Hố Mít và Tiểu học Hô Be xã Phúc Khoa)
2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp rèn phát âm tiếng Việt cho học sinh lớp 1 dân tộc Mông.
III. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng và tìm ra biện pháp hữu hiệu khắc phục, giải
quyết triệt để lỗi phát âm sai tiếng Việt của học sinh lớp 1dân tộc Mông.
mạnh, phù hợp với sự tiếp nhận và thực hiện dễ dàng các hoạt động mới
theo chức năng của chúng: chức năng phát âm-tập đọc.
Khả năng nhận thức, tư duy, tưởng tượng, tình cảm, trí nhớ và nhân
cách học sinh đang được hình thành, tiềm tàng khả năng phát triển và đang
phát triển.
Học sinh Tiểu học hồn nhiên, ngây thơ, trong sáng, hiếu động, tò
mò, thích hoạt động, thích khám phá, thường độc lập, tự lực làm việc
theo hứng thú của mình.
Thầy cô là hình tượng mẫu mực nhất được trẻ tôn sùng nhất, mọi
điều trẻ đều nhất nhất nghe theo, sự phát triển nhân cách của học sinh Tiểu
học phụ thuộc phần lớn vào quá trình dạy học và giáo dục của thầy, cô
trong nhà trường.
Rèn phát âm cho học sinh Tiểu học bước đầu đem đến sự vận động
khoa học cho não bộ và các cơ quan phát âm, ngôn ngữ đem đến những
tinh hoa văn hoá, văn học nghệ thuật trong tâm hồn trẻ, rèn kĩ năng đọc,
hiểu, cảm thụ văn học, rèn luyện tình cảm đạo đức, ý chí, ý thức, hành
động đúng cho trẻ, phát triển khả năng học tập các môn học khác là điều
kiện phát triển toàn diện cho học sinh Tiểu học trong giai đoạn hiện nay.
Nhân cách học sinh Tiểu học phát triển đúng đắn hay lệch lạc phụ
thuộc vào quá trình giáo dục của người thầy mà trong đó phương tiện chủ
yếu là nghe, nói, đọc, viết có được trong quá trình học tập. Dạy đọc đặc
biệt là chú trọng việc rèn phát âm tiếng Việt cho học sinh lớp 1 dân tộc
Mông, đòi hỏi người thầy phải phát âm chuẩn và có phương pháp dạy học
phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Tiểu học. Ngày nay với sự
phát triển tiến bộ của khoa học, xã hội, giáo dục cần đáp ứng nhu cầu ham
hiểu biết của học sinh Tiểu học và tăng cường giáo dục đạo đức, nhân
cách, rèn kỹ năng sống cho trẻ.
2. Cơ sở ngôn ngữ của việc rèn phát âm
Môn Tiếng Việt lớp 1 là một hệ thống khái niệm ngữ âm, được định
nghĩa bằng cấu trúc ngữ âm của tiếng. Ở điểm xuất phát cấu trúc ngữ âm
2
3
4
* Thành phần ở vị trí 1 là âm đầu do các phụ âm đảm nhiệm.
* Thành phần ở vị trí 2 là do âm đệm, đó là nguyên âm trong chữ viết,
được thể hiện bằng chữ o chẳng hạn (Loan); bằng chữ u (Xuân)…
* Thành phần ở vị trí 3 là âm chính do các nguyên âm đảm nhiệm. Âm
chính là hạt nhân của âm tiết.
* Thành phần ở vị trí 4 là âm cuối, do các phụ âm bán nguyên âm (i,
y, u, o) đảm nhiệm.
* Các thành phần ở vị trí 2, 3, 4 ghép lại với nhau thành một bộ phận
gọi là phần vần. Âm bao giờ cũng phải có âm chính và thanh điệu, vị trí
còn lại có thể có hoặc không.
- Âm tiết tiếng Việt có cấu trúc hai bậc: Bậc thứ nhất bao gồm các
thành tố của thành phần vần.
Âm tiết
Bậc 1: Thanh điệu
Bậc 2:
Footer Page 5 of 258.
Âm đầu
Âm đệm
ra bị cản ở chỗ nào đó trong bộ máy phát âm, phụ âm còn lại bị cản trở ở
môi; có loại bị cản ở răng; có loại bị cản ở lưỡi; có loại bị cản ở thanh hầu.
Về phương thức phát âm người ta chia âm phụ thành:
- Phụ âm tắc: Hơi bị cản lại sau thoát ra đường miệng vào mũi: b, d, t,
s, k, m, p, ng.
- Phụ âm sát: Hơi đi qua kẽ hở miệng: p, v, s, z, l, x, y, h.
- Phụ âm vang: Hơi thoát ra đầu lưỡi và bên lưỡi: m, n, nh.
- Phụ âm ồn: Hơi thoát ra đường miệng có tiếng ồn: b, d, t, k, p, f, v, x,
z, y, h.
- Phụ âm hữu thanh, vô thanh trong các âm ồn: Căn cứ vào chỗ dây
thanh có rung hay không rung người ta chia ra:
+ Phụ âm hữu thanh: Dây thanh rung (d, v, y).
+ Phụ âm vô thanh: Dây thanh không rung (t, k, c, b, s, x, h).
- Về vị trí cấu âm ta phân phụ âm thành:
+ Phụ âm môi: p, b, m, f, v,
+ Phụ âm lưỡi: d, t, s, z, l, n
Footer Page 6 of 258.
Header Page 7 of 258.
7
+ Phụ âm hầu: h
Trong các âm lưỡi sự đối lập nhau giữa đầu lưỡi hẹp: r, t, s, z, l, n; đầu
lưỡi quật: đ, a.
Phần vần là do thành phần của âm đệm, âm chính, âm cuối ghép với
nhau thành một bộ phận gọi là phần vần.
Ví dụ: Âm tiết Loan:
O là âm đệm
Footer Page 7 of 258.
Header Page 8 of 258.
8
động dạy học sáng tạo của người thầy Tiểu học. Rèn phát âm phải tinh tế,
sáng tạo, hiệu quả nhưng phải gần gũi với thực tế cuộc sống của các em
chính là đã nghiên cứu vận dụng tốt những thành tựu của ngôn ngữ văn
học để chuyển thành văn bản viết tiếng Việt đúng, chính xác.
3. Cơ sở giáo dục và phát triển
Rèn phát âm tiếng Việt cho học sinh lớp 1 dân tộc Mông là một
phần thực hành trong các giờ học (đặc biệt là dạy học Tiếng Việt).
Nhiệm vụ quan trọng của nó là hình thành năng lực đọc, nói cho học
sinh. Năng lực đó thể hiện ở 4 yêu cầu: Đọc đúng, đọc nhanh, đọc có ý
thức (đọc hiểu) và đọc hay (đọc diễn cảm), nói đúng chuẩn. Cần phải
hiểu kĩ năng đọc, nói có nhiều mức độ, nhiều tầng bậc khác nhau.
Đầu tiên là giải mã chữ - âm tiếng Việt một cách sơ bộ, đọc, nói
đúng âm, vần, tiếng, từ tiếp theo đọc, nói là phải hiểu được nghĩa của từ,
tìm được các từ, câu “chìa khoá” (chốt, trọng yếu) trong bài, biết tóm tắt
nội dung của đoạn. Với những bài văn biết phát hiện ra yếu tố “văn” và
đánh giá được giá trị của chúng trong việc biểu đạt nội dung. Như vậy, biết
đọc tiếng Việt đồng nghĩa với kĩ năng làm việc với văn bản tiếng Việt,
chiếm lĩnh được văn bản tiếng Việt ở các tầng bậc khác nhau. Người giáo
viên dạy cho học sinh học nói thông qua một số hoạt động kể lại, hỏi-đáp,
đối thoại...; học đọc thông qua các hoạt động luyện tập, phát âm, đọc theo
người lớn, đọc theo tranh có sự hướng dẫn của người lớn,...
II. Thực trạng của vấn đề
1. Thực trạng của việc rèn phát âm tiếng Việt cho học sinh dân
TS
HS
Giỏi Khá
TB
Yếu
1
TH Hô Be xã Phúc Khoa
45
02
08
20
15
2
Tiểu học xã Hố Mít
41
00
môi trường giáo dục phổ thông, tiếng Việt lúc bấy giờ là ngôn ngữ thứ hai
của các em. Việc giao tiếp thông thường với thầy cô giáo đã khó khăn và
cũng có khi là không thể, việc nghe giảng những kiến thức về các môn học
khác nhau bằng tiếng Việt lại càng khó khăn hơn đối với các em. Đến
trường, đến lớp là các em bước đến một môi trường sinh hoạt hoàn toàn xa
Footer Page 9 of 258.
Header Page 10 of 258.
10
lạ, tâm lý rụt rè, e sợ luôn thường trực trong các em, làm giảm tốc độ bước
chân các em đến trường.
Thứ hai học sinh Tiểu học dân tộc Mông học tiếng Việt là học ngôn
ngữ thứ hai. Mặc dù học sinh đã trải qua các lớp ở bậc Mầm non nhưng đối
với các em, trường Tiểu học vẫn là một môi trường hoàn toàn mới, tiếng
Việt là một ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ. Sự tồn tại của tình trạng này trong
đời sống các em là do điều kiện sử dụng ngôn ngữ trong đời sống sinh hoạt
cộng đồng, là do tâm lý sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ rất tự nhiên, bản năng.
Những buổi sinh hoạt cộng đồng, những lần hội họp, người địa phương chỉ
sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ. Họ ngại sử dụng tiếng Việt, có lẽ vì vốn kiến
thức về tiếng Việt ở họ quá ít ỏi, cũng có lẽ vì bản năng ngôn ngữ mẹ đẻ
thường trực trong họ. Chính vì thế, mỗi lần các cán bộ xã, huyện về chủ trì
một cuộc họp nào đó ở làng, bản, họ phát biểu bằng tiếng Việt rất khó
khăn. Thói quen này trong sử dụng ngôn ngữ sẽ ảnh hưởng vào trong đời
sống gia đình của mỗi cá nhân, học sinh vẫn sử dụng tiếng mẹ đẻ khi rời
trường, rời lớp. Dần dà các em không thể sử dụng tiếng Việt, quên ngay
những kiến thức về tiếng Việt đã học trên lớp, từ đó, đã khiến cho các em
thụ động, thiếu linh hoạt khi ở môi trường giao tiếp lớn hơn, vượt khỏi môi
- Việc chuẩn bị bài và lập kế hoạch bài dạy chưa cụ thể, vận dụng
phương pháp dạy học chưa linh hoạt, chưa đảm bảo quy trình và đặc trưng
bộ môn.
- Việc hướng dẫn học sinh sửa sai chưa kịp thời, chưa tỉ mỉ, chưa
quan tâm đến việc học tập và sử dụng tiếng phổ thông cho các em ở tại gia
đình và trong cộng đồng.
- Việc sử dụng đồ dùng, thiết bị trong quá trình dạy của thầy và học
của trò chưa hiệu quả.
- Một số giáo viên chưa đầu tư về chuyên môn.
- Giáo viên chưa thật sự đầu tư vào khâu chuẩn bị bài và lập kế
hoạch bài dạy.
- Một số giáo viên chưa coi trọng việc đọc mẫu nên phát âm (đọc
mẫu) chưa đúng với chuẩn. Một số giáo viên còn phát âm theo ngôn ngữ
địa phương các vùng miền của mình nên rất khó khăn khi rèn đọc tiếng
Việt cho học sinh.
- Một số giáo viên khi dạy học còn lạm dụng việc sử dụng tiếng dân
tộc Mông quá nhiều, không đúng cách, không đảm bảo việc dạy tiếng Việt
cho học sinh dân tộc.
* Nguyên nhân về phía gia đình và Ban đại diện cha mẹ học sinh
Ít quan tâm đến việc học tập và sử dụng giao tiếp bằng tiếng phổ
thông cho các em ở tại gia đình và trong cộng đồng, do công tác tuyên
truyền về lĩnh vực này chưa sâu rộng trong Ban đại diện cha mẹ học sinh
và phụ huynh học sinh. Do thói quen sử dụng tiếng mẹ đẻ của người dân
địa phương, bản thân các bậc phụ huynh cũng sai những lỗi đó (đặc trưng
dân tộc).
* Nguyên nhân về công tác chỉ đạo của Ban giám hiệu
- Ở các đơn vị trường việc chọn tuyển được giáo viên có năng lực
chuyên môn, có nhiều kinh nghiệm, nhiệt tình trong việc rèn, dạy học sinh
lớp 1 còn gặp không ít khó khăn. Có những giáo viên có chuyên môn vững
vàng, có lòng nhiệt tình trăn trở với lớp học nhưng lại thiếu đi kinh nghiệm
- Chưa thực sự quan tâm đến việc rèn phát âm tiếng Việt cho học
sinh dân tộc Mông dẫn đến chưa đưa vấn đề thuộc chuyên đề này vào
các buổi sinh hoạt chuyên môn.
Sau thực tế đã tiến hành phân tích, tìm hiểu nguyên nhân và để
khắc phục chất lượng phát âm (đọc, nói) tiếng Việt của học sinh dân tộc
thiểu số nói chung và của học sinh lớp 1 dân tộc Mông, tôi đã mạnh dạn
trình bày hệ thống biện pháp sau.
III. Các biện pháp rèn phát âm tiếng Việt cho học sinh lớp 1 dân
tộc Mông
1. Đối với Ban Giám hiệu các trường
- Tập trung tuyên truyền bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ về
phẩm chất đạo đức, về kiến thức và kỹ năng sư phạm. Tích cực xây dựng
tập thể sư phạm đoàn kết, lớn mạnh về mọi mặt. Tổ chức tuyên truyền rộng
rãi trong cộng đồng và hướng dẫn gia đình biết phối hợp hỗ trợ sử dụng
tiếng phổ thông (tiếng Việt) làm công cụ giao tiếp và sinh hoạt hàng ngày.
- Xây dựng kế hoạch chỉ đạo thực hiện chuyên môn phù hợp. Xây
dựng kế hoạch bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ đồng thời thực hiện
tốt hoạt động dạy học và sinh hoạt chuyên môn; tăng cường sự chỉ đạo,
hướng dẫn, kiểm tra chuyên môn kết hợp với đánh giá xếp loại giáo viên
nghiêm túc một lần/tháng. Tập trung thực hiện tốt việc đổi mới phương
pháp dạy học, ứng dụng CNTT, vận dụng kiểm tra, đánh giá xếp loại học
sinh theo đúng Thông tư 32/2009 của Bộ Giáo dục Đào tạo.
Footer Page 12 of 258.
Header Page 13 of 258.
13
lên Ban Giám hiệu nhà trường.
3. Đối với giáo viên
Từ khi học trong các trường sư phạm giáo viên đã được biết đến các
nguyên tắc dạy học môn Tiếng Việt, giáo viên phải tư duy lại nắm chắc và
nhớ kỹ các nguyên tắc dạy học môn Tiếng Việt để vận dụng giảng dạy
môn Tiếng Việt trong trường Tiểu học. Các nguyên tắc đó như sau:
Footer Page 13 of 258.
Header Page 14 of 258.
14
* Nguyên tắc thứ nhất: Nguyên tắc phát triển tư duy
Ngôn ngữ và tư duy của con người là hai phạm trù có mối liên hệ
mật thiết, có sự tác động và hỗ trợ lẫn nhau. Ngôn ngữ là công cụ để tư
duy và tư duy là hiện thực trực tiếp của ngôn ngữ. Ngôn ngữ là tiền đề
và là điều kiện để tư duy phát triển và ngược lại. Mối quan hệ này có
ảnh hưởng rất lớn đến quá trình dạy Tiếng Việt cho học sinh Tiểu học.
Mục tiêu đầu tiên của việc dạy Tiếng Việt ở tiểu học là góp phần hình
thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt, phát triển
tư duy cho học sinh. Điều này được thực hiện thông qua quá trình dạy
học Tiếng Việt, quá trình học sinh từng bước chiếm lĩnh tiếng Việt văn
hoá. Nói cách khác, cùng với quá trình dạy học Tiếng Việt, đồng thời ở
học sinh cũng hình thành và phát triển các thao tác tư duy, các phẩm
chất tư duy. Để phát triển tư duy gắn liền với phát triển ngôn ngữ cho
học sinh, trong dạy học Tiếng Việt, người giáo viên cần chú ý các yêu
cầu cụ thể:
- Trong mọi giờ học đều phải chú ý rèn các thao tác tư duy. Đó là các
- Xem xét các đơn vị ngôn ngữ trong hoạt động hành chức, tức là đưa
chúng vào các đơn vị lớn hơn. Ví dụ xem xét từ hoạt động trong câu như
thế nào, câu ở trong đoạn trong bài ra sao.
- Phải tổ chức hoạt động nói năng của học sinh để dạy tiếng Việt,
nghĩa là phải sử dụng giao tiếp như một phương pháp dạy học chủ đạo ở
tiểu học.
* Nguyên tắc thứ ba: Nguyên tắc chú ý tâm lí và trình độ tiếng Việt
vốn có của học sinh
Nguyên tắc này yêu cầu :
- Dạy Tiếng Việt phải chú ý đặc điểm tâm lí học sinh, đặc biệt là bước
chuyển khó khăn từ hoạt động chủ đạo là hoạt động vui chơi sang hoạt
động học tập.
- Việc học Tiếng Việt phải dựa trên sự hiểu biết chắc chắn về trình độ
tiếng mẹ đẻ vốn có của học sinh.
Khác với học các môn học khác, học môn Tiếng Việt, học sinh tiếp
xúc với một đối tượng quen thuộc gắn bó với cuộc sống hàng ngày của các
em. Trước khi vào học ở nhà trường, học sinh đã sử dụng tiếng Việt với hai
loại hoạt động nói và nghe, các em đã có một vốn từ nhất định, làm quen
với một số quy luật tạo lập lời nói tiếng Việt một cách tự phát.
Do vậy, yêu cầu thứ nhất khi dạy học Tiếng Việt là phải chú ý đến
trình độ vốn có của học sinh từng lớp, từng vùng miền khác nhau để định
nội dung, kế hoạch và phương pháp dạy học. Yêu cầu thứ hai là phải phát
huy tính chủ động của học sinh trong giờ học Tiếng Việt. Giáo viên cần
phải tạo điều kiện để học sinh hình thành lời nói hoàn chỉnh của mình
trong các cuộc hội thoại, trong các hình thức học tập khác nhau: cá nhân,
nhóm, lớp...
* Nguyên tắc thứ tư:Nguyên tắc kết hợp rèn luyện cả hai hình thức
lời nói dạng viết và dạng nói
Nói và viết là hai dạng lời nói có quan hệ chặt chẽ trong việc hoàn
thiện trình độ sử dụng ngôn ngữ của học sinh. Lời nói dạng nói là cơ sở để
thích hợp với các ngữ cảnh khác nhau.
* Nguyên tắc thứ sáu: Nguyên tắc kết hợp dạy Tiếng Việt với dạy văn
hoá và văn học
Về bản chất, kết hợp dạy Tiếng Việt với dạy văn hoá và văn học là
một phương hướng tích hợp trong dạy Tiếng Việt ở tiểu học. Vận dụng
nguyên tắc này, việc dạy Tiếng Việt ở tiểu học được định hướng như sau:
- Ngoài những ngữ liệu khác, ngữ liệu để dạy Tiếng Việt (các văn bản
dạy Tập đọc, Tập viết, Chính tả, Luyện từ và câu...) được lựa chọn từ
những tác phẩm văn học. Trong số các bài có ngữ liệu là văn bản văn học,
tỉ lệ bài thuộc thể loại văn xuôi cao hơn các thể loại khác. Đó là các bài có
nội dung văn học, văn hoá Việt Nam và thế giới.
- Trong quá trình dạy Tiếng Việt cần từng bước cho học sinh nhận biết
cái chân, cái thiện, cái mĩ của văn học thông qua việc nhận biết giá trị thẩm
mĩ của các yếu tố ngôn ngữ trong bài văn. Những nhận biết và cảm xúc đó
sẽ là cơ sở ban đầu của việc học văn ở bậc trung học sau này của học sinh.
- Nhờ dạy Tiếng Việt tích hợp với dạy văn, học sinh được làm quen
với một số thuật ngữ (như tác phẩm, tác giả, nhân vật; thể loại tục ngữ,
câu đố, ca dao, thơ, truyện...), được rèn luyện các kĩ năng cơ bản (như kể
chuyện, tóm tắt chuyện, tìm đại ý, bố cục, nhận xét về nhân vật, về tác
giả, tác phẩm, nêu cảm nghĩ, liên tưởng, phát hiện các biện pháp tu từ,
phát hiện các chi tiết nghệ thuật...).
* Nguyên tắc thứ bảy: Nguyên tắc hướng tới những phương pháp và
hình thức dạy học tích cực
Nguyên tắc này thể hiện:
Footer Page 16 of 258.
Header Page 17 of 258.
17
trong nhóm, trước lớp (bằng miệng, bảng con, phiếu học tập, bằng giấy...).
+ Tổ chức cho học sinh đánh giá kết quả học tập của mình và của
bạn. Hình thức đánh giá có thể là: cá nhân, trong nhóm, trước lớp (giáo
viên khen, chê, cho điểm...).
Các nguyên tắc dạy học này được vận dụng dạy học môn Tiếng Việt
trong trường tiểu học, tuy nhiên khi vận dụng người giáo viên phải biết vận
Footer Page 17 of 258.
Header Page 18 of 258.
18
dụng một cách linh hoạt, mềm dẻo, không cứng nhắc, vận dụng phải phù
hợp đối tượng, vùng miền.
Giáo viên phải biết tiếng dân tộc thiểu số để thuận lợi trong việc giao
tiếp và giúp đỡ học sinh nhất là tiếng dân tộc Mông. Tuy nhiên trong giảng
dạy giáo viên không nên quá lạm dụng việc sử dụng tiếng dân tộc mà chỉ
sử dụng nó để làm công cụ hỗ trợ giải nghĩa tiếng, từ tiếng Việt cho học
sinh hiểu thực chất của từ tiếng Việt khi đọc, nói tiếng Việt.
Sau khi nhận lớp phải tiến hành khảo sát, đánh giá, phân loại đối
tượng học sinh, lập danh sách học sinh đọc yếu, đọc sai để tiện theo dõi và
báo cáo cấp trên.
Tìm hiểu nguyên nhân và có biện pháp khắc phục, rèn luyện học sinh hợp
lý, hiệu quả, đề xuất, báo cáo Tổ trưởng, nhà trường để được giúp đỡ thêm.
Lập kế hoạch và thực hiện rèn phát âm tiếng Việt cho học sinh, bồi
dưỡng ngay trong các tiết học chính khóa, giờ hoạt động tập thể, ngay
cả ở nhà và chủ động gặp gỡ trao đổi với phụ huynh học sinh để thống
nhất biện pháp và phối hợp giúp đỡ học sinh.
Tích cực tự học tự bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng và
- Giáo viên phải có tác phong sư phạm tốt, luôn thân thiện quan tâm,
gần gũi, giúp đỡ học sinh.
- Tạo nhóm học tập bằng cách phân công học sinh đọc khá, đọc giỏi
giúp đỡ học sinh đọc yếu, hay đọc sai. Tổ chức thi đua giữa các cá nhân
học sinh, giữa các tổ, nhóm, kịp thời động viên tuyên dương khi học sinh
có tiến bộ. Tích cực tổ chức hoạt động nhóm trong lớp để học sinh được
tăng cường trao đổi, giao tiếp bằng tiếng Việt tại lớp học.
- Trong giảng dạy giáo viên chú ý việc sử dụng song ngữ phải đúng
mục tiêu giảng dạy, việc quá lạm dụng sử dụng tiếng dân tộc Mông trong
tiết dạy vô tình tiết dạy tiếng Việt thành tiết dạy tiếng Mông. Giáo viên chỉ
có thể sử dụng tiếng Mông để giải nghĩa từ tiếng Việt trong khi giảng dạy
nhằm giúp học sinh hiểu rõ nghĩa của từ tiếng Việt đó.
- Giáo viên cần chú ý đến việc sử dụng đồ dùng trong tiết dạy: Sử
dụng đồ dùng phải phù hợp về góc quan sát (để ở vị trí dễ quan sát, tất cả
học sinh đều được quan sát), thời gian quan sát (không để trong thời gian
quá ngắn học sinh không kịp quan sát, cũng không để trong thời gian quá
dài học sinh sẽ không tập trung vào những việc làm tiếp theo), mục đích
quan sát.
- Giáo viên cần chú trọng hoạt động đọc mẫu (phát âm mẫu), khâu
rèn kỹ năng đọc (kỹ năng phát âm) cho học sinh trong mỗi giờ dạy Tiếng
Việt. Chú ý lắng nghe, quan sát và kịp thời hướng dẫn sửa sai cho học sinh,
vì đọc mẫu và rèn không tốt dẫn đến học sinh bắt chước đọc sai, đọc ngọng
lâu dần thành quen rất khó sửa.
- Học sinh các dân tộc khác nhau thì cách phát âm cũng khác nhau: Ví
dụ học sinh dân tộc Thái khi phát âm tiếng Việt phát âm không khác nhiều so
với dân tộc kinh; dân tộc Lào khi phát âm các âm lưỡi đều uốn cong và bật
mạnh dẫn đến các âm phát ra gần như đều có thêm dấu nặng. Riêng học sinh
dân tộc Mông khi phát âm, âm phát ra rất nhẹ, như khi ta phát âm tiếng Anh.
Vì vậy khi giáo viên dạy phát âm cần chú ý làm mẫu để học sinh quan sát
được các cơ quan phát âm bên ngoài như môi, răng, lưỡi...
thanh sắc. Ví dụ: suy nghĩ/suy nghí; nghĩ kĩ/ nghí kí…Thì giáo viên cho
học sinh nắm vững cấu tạo, cách phát âm từng dấu, dùng thẻ tạo từ, nắm
nghĩa của từ qua đồ dùng trực quan hoặc bằng hành động trực tiếp để từ đó
phát âm đúng và tự sửa sai các dấu thanh.
Ví dụ:
ki
kí
k + i = ki
kì
kĩ
kị
- Trong khi học sinh đọc, nói (phát âm) tiếng Việt giáo viên phải
quan sát từng em, phát hiện chỗ các em đọc sai để kịp thời sửa ngay và
hướng dẫn các em đọc theo tốc độ quy định, không quá chậm hoặc quá
nhanh, đọc, nói đủ to cho tất cả các bạn trong lớp nghe được, rèn tư thế
đàng hoàng, tự tin, thỏa mái khi đọc, nói tiếng Việt.
- Đối với những em đọc sai chính âm tiếng Việt, giáo viên phải
rèn luyện để học sinh đọc đúng, đọc đủ, không đọc thừa, đọc sót âm,
tiếng, từ,…Đọc với tốc độ vừa phải, giọng đọc phải phù hợp với yêu
cầu và nội dung từng bài.
- Đối với các em phát âm bị khuyết âm trong tiếng tiếng Việt chú
ý rèn khi phát âm học nghe và quan sát giáo viên đọc: khi học sinh
đọc "thuồng luồng" thường phát âm thành "thuồn luồn", "chín điểm"
thành "chí đỉa" học sinh đọc, nói sai vì khi phát âm các tiếng thuồn
luồn, chí đỉa luồng hơi đi ra không bị chặn các em phát âm sai do
Footer Page 20 of 258.
- Học sinh đọc bài eng, iêng
- Nhận xét cho điểm
- Viết bảng con, bảng lớp: xà
beng, củ riềng
B. Bài mới:
1. Giới thiệu bài- ghi bảng
2. Dạy vần: * uông.
a.Nhận diện vần.
- Học sinh đọc uông cá nhân, cả
lớp.
- Hướng dẫn học sinh đọc trơn vần
uông: Giáo viên đọc mẫu, khi đọc vần - Học sinh quan sát giáo viên làm
uông luồng hơi thoát ra tự do không bị mẫu sau đó thực hiện theo: học
chặn bởi một bộ phận nào trong sinh đọc cá nhân, đồng thanh:
uông
Footer Page 21 of 258.
Header Page 22 of 258.
22
khoang miệng, môi tròn, mở, lưỡi
thẳng. Trong lúc học sinh đọc giáo
- Học sinh đọc cá nhân, nhóm, lớp.
b. Từ ứng dụng
- Học sinh đọc thầm
- Giáo viên ghi bảng từ ứng dụng:
rau muống
luống cày
nhà trường
nương rẫy
- 3 học sinh đọc, tìm tiếng mới và
phân tích.
- Luyện đọc cá nhân, nhóm, lớp.
- Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc - Học sinh đọc trơn các từ cá nhân,
trơn các từ và giải nghĩa từ (một số từ nhóm, lớp
giáo viên có thể sử dụng tiếng dân tộc
Mông để giải nghĩa
- Hướng dẫn học sinh phân tích tiếng
mới và luyện đọc, khi luyện đọc giáo
viên lưu ý hướng dẫn kỹ các tiếng ,từ
có chứa vần uông, ương so sánh kỹ về
cấu tạo và cách đọc với các tiếng, từ
có chứa vần uôn, ươn.
-Sửa phát âm cho học sinh
c.Viết:
Footer Page 22 of 258.
Header Page 23 of 258.
- Hướng dẫn học sinh luyện đọc
- Sửa sai phát âm cho học sinh sửa
như phần hướng dẫn vần, tiếng.
- Học sinh quan sát tranh nêu chủ
- Giáo viên hướng dẫn học sinh nêu đề: đồng ruộng
chủ đề luyện nói
- Cảnh cấy, cầy trên đồng ruộng
b. Luyện nói:
- Treo tranh và hỏi
- Bác nông dân
- Tranh vẽ gì ?
- Gieo mạ, tát nước, làm cỏ.
- Những ai trồng lúa, ngô, khoai, sắn.
- Học sinh trả lời
- Ngoài ra bác nông dân còn làm - Học sinh nghe và tự sửa câu cho
những gì ?
nhau.
- Nhà em ở nông thôn hay thành phố?
c. Luyện đọc bài sách giáo khoa:
- Học sinh đọc cá nhân, nhóm, lớp.
........................................................................................................................
........................................................................................................................
_________________________*****_______________________
Tiết 13-14: Tập đọc
Bài 7: LŨY TRE
A. Mục đích yêu cầu:
- Học sinh:
+ Đọc trơn cả bài, phát âm được tiếng, từ khó trong bài.
+ Ôn vần : iêng, yêng
+ Hiểu được nội dung của bài.
+ Học thuộc lòng bài thơ.
B. Đồ dùng:
-Tranh minh hoạ bài học, viết sẵn bài lên bảng.
C. Hoạt động dạy học:
TG
Hoạt động dạy
Hoạt động học
TIẾT 1
5’
I. Bài cũ:
2 học sinh lên bảng đọc bài và trả
- Đọc bài" Hồ Gươm và trả lời câu
lời câu hỏi.
hỏi 1 ở sách giáo khoa.
- Gọng vó (Vật làm bằng tre để nhân, cả lớp)
Học sinh theo câu (nối tiếp) cho
móc vó vào kéo khi đánh cá). Với
các từ mà học sinh dễ lẫn giáo viên đến hết bài.
cần phân tích kỹ cách đọc, đọc mẫu
để học sinh quan sát khẩu hình và
luyện tập theo, giáo viên quan sát và
sửa chữa tỉ mỉ)
+ Giải thích từ khó:
+ Luyện đọc câu. (Khi học sinh
đọc câu nếu học sinh độc sai từ,
tiếng nào thì giáo viên cho học sinh
dừng lại hướng dẫn cách đọc và
chỉnh sửa luôn)
+ Luyện đọc theo khổ thơ.
Học sinh đọc theo khổ thơ.
Theo dõi sửa sai, nhận xét.
1 học sinh đọc lại toàn bài.
+ Đọc toàn bài.
Nhận xét
Cả lớp đọc đồng thanh toàn bài.
Nhận xét.
3. Ôn vần iêng yêng