1
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
TRONG CƯƠNG LĨNH XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC
TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
(BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN NĂM 2011)
Sinh viên thực hiện
: Lê Thái Bình
Giảng viên hướng dẫn : T. S Vương Thị Bích Thủy
Niên khóa
: 2009 -2013
Đà nẵng, tháng 05 năm 2013
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, được
thực hiện dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Vương Thị Bích Thủy.
Các thông tin, số liệu trong Khóa luận là trung thực, chính xác, đảm bảo
\
4
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế kỷ XXI đang mở ra những cơ hội to lớn nhưng cũng chứa đựng rất
nhiều thách thức. Sau hơn 25 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, thế và
lực của nước ta đã lớn mạnh lên nhiều. Môi trường hoà bình, sự hợp tác, liên kết
quốc tế và những xu thế tích cực trên thế giới tiếp tục tạo điều kiện để Việt Nam
phát huy nội lực và lợi thế so sánh, tranh thủ ngoại lực. Tuy nhiên, chúng ta
cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức rất lớn. Nhằm phát huy những
thành tựu to lớn đã đạt được trong công cuộc đổi mới và vươn tới mục tiêu xây
dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn
minh, Đảng và Nhà nước Việt Nam kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại độc
lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế, gắn với chủ
động tích cực hội nhập quốc tế.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI diễn ra trong bối cảnh toàn Đảng, toàn
dân và toàn quân ta đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc đổi
mới đất nước: đời sống nhân dân được cải thiện; chính trị - xã hội ổn định; quốc
phòng, an ninh được tăng cường; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh
thổ được giữ vững; hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế được mở rộng; vị thế,
uy tín quốc tế của nước ta được nâng cao. Đại hội đã thông qua ba văn kiện quan
trọng là Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(bổ sung, phát triển năm 2011); Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011- 2020
và Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X. Các văn
kiện trên đã nêu lên những định hướng lớn, những nguyên tắc cơ bản mang tầm
chiến lược về đường lối, mục tiêu, nhiệm vụ trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và nhất là trong giai đoạn từ 2011 đến 2020.
nhiều nội dung khác nhau.
Các giáo trình do Học viện Quan hệ Quốc tế, Hà Nội xuất bản như:
“Tình hình quốc tế và chính sách đối ngoại của Việt Nam”, “Ngoại giao Việt
Nam hiện đại vì sự nghiệp đổi mới (1975-2002)” của tác giả Vũ Dương Huân
chủ biên, 2003.“Khuôn khổ quan hệ đối tác của Việt Nam” do Nguyễn Vũ Tùng
(Chủ biên) 2007,…đã trình bày những nội dung cơ bản về đường lối, chính sách
đối ngoại của Đảng và nhà nước ta.
6
Đã có nhiều sách tham khảo, chuyên khảo của các tác giả trong nước được
xuất bản trong thời gian vừa qua, như: "Đổi mới hoạt động kinh tế đối ngoại
Việt Nam", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002 của tác giả Nguyễn Thanh
Uẩn; "Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2000", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002
của Bộ Ngoại giao; “Định hướng chiến lược đối ngoại Việt Nam đến 2020” do
Bộ trưởng Phạm Bình Minh (Chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm
2010. Các tác phẩm nêu trên ít nhiều đã đề cập đến những nội dung khác nhau
trong quan điểm, chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng trong giai đoạn
hiện nay.
Trên các tạp chí cũng đã đăng tải nhiều bài viết, bài nói chuyện quan trọng
của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta về đường lối, chính sách đối
ngoại của Đảng, như: “Những chuyển biến trên thế giới và tư duy mới của
chúng ta”, của nhà ngoại giao mới và vận nước" của tác giả Trần Quang Cơ,
Tạp chí Quan hệ Quốc tế, 3-1992; "Trên đường triển khai chính sách đối ngoại
theo định hướng mới" của nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh
Cầm, Tạp chí Cộng sản, số 4-1993; "Nền ngoại giao đổi mới" của nguyên Thủ
tướng Võ Văn Kiệt trả lời phỏng vấn Tuần báo Quốc tế đầu xuân 1994; Nguyễn
Quốc Phẩm, Cương lĩnh năm 1991 và những vấn đề đặt ra về thời đại ngày nay,
Tạp chí quốc phòng toàn dân, số tháng 2, tr 9-11 , năm 2009; “Ngoại giao Việt
5. Đóng góp của đề tài
Đề tài nghiên cứu một cách có hệ thống, làm rõ những nội dung mới về
đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Cương lĩnh
(bổ sung, phát triển năm 2011).
6. Ý nghĩa của đề tài
Nghiên cứu đề tài có ý nghĩa đối với bản thân trong việc làm quen với
phương pháp nghiên cứu khoa học, góp phần nâng cao nhận thức về vai trò lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước.
Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên và các tác giả
khác quan tâm đến vấn đề này.
7. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung của đề tài gồm có 2 chương, 5 tiết
và cuối cùng là danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
9
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH
SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG
CƯƠNG LĨNH XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ
LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI (1991)
Cương lĩnh năm xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội được thông qua tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (năm 1991) ra đời
trong bối cảnh cuộc khủng hoảng toàn diện trong hệ thống xã hội chủ nghĩa dẫn
đến sự sụp đổ của Liên Xô và nhiều nước XHCN ở Đông Âu. Ở trong nước sau
5 năm thực hiện đường lối đổi mới, tình hình kinh tế - xã hội có những chuyển
biến tích cực, song chúng ta chưa thoát ra khỏi khủng hoảng. Bối cảnh trên đặt
ra cho Cương lĩnh nhiệm vụ hết sức nặng nề, phải xác định đúng đắn con đường
phát triển để đưa đất nước thoát ra khỏi khủng hoảng, và giữ vững sự ổn định
bản ngày càng sâu sắc. Mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân dân với giai cấp tư
sản, giữa các tập đoàn tư bản độc quyền, các trung tâm tư bản, giữa các nước tư
bản phát triển với các nước đang phát triển ngày càng tăng. “Chủ nghĩa xã hội
hiện đứng trước nhiều khó khăn, thử thách. Lịch sử thế giới đang trải qua những
bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội
vì đó là quy luật tiến hoá của lịch sử” [19, 25]. Đây cũng là tính tât yếu cuả chủ
nghĩa xã hội trên phạm vi toàn cầu.
Về xu thế quốc tế hóa và toàn cầu hóa: “Nền sản xuất vật chất và đời
sống xã hội đang trong quá trình quốc tế hóa sâu sắc, ảnh hưởng lớn đến nhịp độ
phát triển của lịch sử và cuộc sống các dân tộc. Những xu thế đó vừa tạo thời cơ
phát triển nhanh cho các nước, vừa đặt ra những thách thức gay gắt, nhất là
những nước lạc hậu về phát triển kinh tế” [19, 24]. Những tác động của toàn cầu
hóa với Việt Nam, Đảng ta đã nhận thức ngày càng đầy đủ hơn về xu thế khách
quan của toàn cầu hoá, khu vực hoá với những cơ hội, thách thức của nó và sự
cần thiết phải tham gia vào quá trình này.
Trong xu thế toàn cầu hóa ngày càng lan rộng các nước độc lập dân tộc
và các nước đang phát triển tiếp tục tiến hành cuộc đấu tranh rất khó khăn và
phức tạp, chống nghèo nàn và lạc hậu, chống chủ nghĩa thực dân mới dưới mọi
11
hình thức, chống sự can thiệp và xâm lược của chủ nghĩa đế quốc nhằm bảo vệ
chủ quyền và độc lập dân tộc.
Về các vấn đề toàn cầu: Nhân dân các nước trên thế giới đang đứng trước
những vấn đề toàn cầu cấp bách có liên quan đến vận mệnh của cả loài người.
Đó là giữ gìn hòa bình, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, bảo vệ môi trường, hạn chế
sự bùng nổ về dân số, phòng ngừa và đẩy lùi những dịch bệnh hiểm nghèo. Việc
giải quyết những vẫn đề đó đòi hỏi sự hợp tác quốc tế và về tinh thần trách
nhiệm cao của tất cả dân tộc [19, 26].
trước nhu cầu bức bách là phải thoát ra khỏi tình thế bị bao vây, cấm vận để
tranh thủ mọi điều kiện quốc tế thuận lợi đưa đất nước phát triển đi lên. Đây
thực sự là nhu cầu cần thiết và cấp bách đối với nước ta.
Mặc khác, do hậu quả nặng nề của chiến tranh và các khuyết điểm chủ
quan, nền kinh tế Việt Nam lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng. Cùng một lúc
thực hiện những yêu cầu cơ bản, cấp bách là ổn định và cải thiện đời sống, tích
lũy để xây dựng chủ nghĩa xã hội và củng cố quốc phòng – an ninh. Nguy cơ tụt
hậu xa hơn vể kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới là một
trong những thách thức lớn đối với cách mạng Việt Nam. Để thu hẹp khoảng
cách phát triển giữa nước ta với các quốc gia khác, ngoài việc phát huy tối đa
nội lực thì việc tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, trong đó việc mở rộng và
tăng cường hợp tác kinh tế với các nước và tham gia vào cơ chế hợp tác đa
phương có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Những đặc điểm, xu thế quốc tế và yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng Việt
Nam nêu trên là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam xác định quan điểm và
hoạch định chủ trương, chính sách đối ngoại xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội .
1.2. Nội dung cơ bản về đường lối chính sách đối ngoại
1.2.1. Mục tiêu, nhiệm vụ và những chủ trương định hướng lớn về đối ngoại
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
năm 1991 đã xác định mục tiêu của công tác đối ngoại là: "Giữ vững hòa bình,
mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc đồng thời góp phần tích cực
13
vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc,
dân chủ và tiến bộ xã hội" [8, 88 - 89].
Để thực hiện những mục tiêu trên qua các kỳ Đại hội Đảng và hội nghị
quan hệ với khu vực, Đảng chủ trương phát triển quan hệ hữu nghị với các nước
Đông Nam Á và châu Á - Thái Bình Dương, phấn đấu vì một Đông Nam Á hoà
bình, hữu nghị và hợp tác. Đối với Hoa Kỳ, Đảng và Nhà nước ta nhấn mạnh
yêu cầu: “Thúc đẩy quá trình bình thường hoá quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ” [8,
90]. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
được Đại hội lần thứ VII của Đảng thông qua, đã xác định quan hệ hữu nghị và
hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới là một trong những đặc trưng
cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng.
* Không ngừng củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác truyền
thống với các nước xã hội chủ nghĩa, các nước anh em trên bán đảo Đông
Dương.
+ Đối với Lào và Campuchia, Cương lĩnh năm 1991 về cơ bản nhất quán
với chủ trương của Đại hội VI là không ngừng củng cố, phát triển quan hệ đoàn
kết hữu nghị, đặc biệt giữa ba nước Đông Dương. Nhưng không nhấn mạnh tiếp
tục làm tròn nghĩa vụ quốc tế đối với Campuchia và Lào mà đặt ra yêu cầu “Đổi
mới phương thức hợp tác, chú trọng hiệu quả theo phương thức bình đẳng, tôn
trọng độc lập, chủ quyền và lợi ích chính đáng của nhau. Phấn đấu góp phần
sớm đạt được một giải pháp chính trị toàn bộ về vấn đề Campuchia phù hợp với
Hiến chương Liên hiệp quốc” [8, 89].
+ Vớí Trung Quốc, hai bên đã nối lại đàm phán, mở ra cơ hội cho sự cải
thiện quan hệ hai nước, vì vậy từ định hướng lớn về đối ngoại trong Cương lĩnh
năm 1991, Đại hội VII đã thúc đẩy quá trình bình thường hoá quan hệ với Trung
Quốc, từng bước mở rộng hợp tác Việt – Trung, giải quyết những vấn đề tồn tại
giữa hai nước thông qua thương lượng hoà bình.
* Đảng Cộng sản Việt Nam trước sau như một ủng hộ các đảng cộng sản
và công nhân, các phong trào cách mạng trong cuộc đấu tranh vì những mục
tiêu chung của thời đại.
Trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng của mình, Đảng Cộng sản Việt
Nam luôn thể hiện tinh thần chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, đồng
dựng khu vực này thành khu vực hòa bình và hợp tác.
16
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) là một diễn đàn hợp tác về
chính trị kinh tế, văn hóa và an ninh của các quốc gia trong khu vực Đông Nam
Á. Việt Nam là một nước đang phát triển, trước những biến đổi của thế giới và
tình hình khu vực, để đưa đất nước ta phát triển về mọi mặt thì việc gia nhập
ASEAN là một tất yếu. Trong quan hệ với các nước Đông Nam Á, Cương lĩnh
năm 1991 của Đảng ta chỉ rõ: “Chúng ta mong muốn sẵn sàng cùng các nước
trong khu vực thương lượng để giải quyết các vấn đề ở Đông Nam Á, thiết lập
mối quan hệ cùng tồn tại hòa bình, xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hòa
bình, ổn định và hợp tác” [7, 108]. Đây là chủ trương hết sức đúng đắn của
Đảng về chính sách đối ngoại trong giai đoạn mới. Nó trở thành tư tưởng chủ
đạo, sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình đổi mới và hội nhập kinh tế của Việt Nam,
đồng thời cũng là một dấu mốc quan trọng trong tiến trình từng bước gia nhập
ASEAN của Việt Nam.
Qua việc giải quyết vấn đề Campuchia và nêu cao vấn đề hợp tác khu
vực, sự đoàn kết trong tổ chức ASEAN ngày càng được củng cố và tăng cường.
Bên cạnh đó những cố gắng của Việt Nam và các nước trong khu vực đã tìm
một giải pháp hòa bình cho vấn đề Campuchia, xây dựng Đông Nam Á thành
một khu vực hòa bình ổn định, cho thấy Việt Nam và các nước ASEAN ngày
càng ý thức được vai trò của mình trong việc giải quyết các vấn đề trong khu
vực. Những diễn biến mới trong tình hình quốc tế và khu vực cũng đã tạo thêm
điều kiện thuận lợi để thúc đẩy xu hướng tích cực trong quan hệ Việt Nam –
ASEAN. Quan hệ đó bắt đầu có những chuyển biến tích cực với việc Hiệp định
Pari về Campuchia được ký kết tháng 10 năm 1991; Với việc ký kết hiệp định
này đánh dấu chấm dứt “thời kỳ Campuchia”, trong quan hệ giữa Việt Nam –
ASEAN, mở ra một thời kỳ mới – thời kỳ của hợp tác thân thiện, hòa bình và
được các Nghị quyết Trung ương từ khoá VI đến Đại hội VII phát triển đã hình
thành đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá, đa phương
hoá quan hệ quốc tế.
18
* Đại hội VIII (6-1996) chủ trương xây dựng nền kinh tế mở và đẩy
nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới
Sau 10 năm đổi mới, tình hình chính trị - xã hội nước ta dần đi vào ổn
định, đất nước đã ra khỏi tình thế bị bao vây, cấm vận, quan hệ quốc tế từng
bước được mở rộng, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được cải thiện, khả
năng giữ vững độc lập tự chủ và hội nhập được tăng cường. Tuy nhiên chúng ta
còn phải đối phó với nhiều khó khăn, thách thức. Nguy cơ tụt hậu xa hơn về
kinh tế so với nhiều nước trong khu vực vẫn là thách thức to lớn và gay gắt do
điểm xuất phát của ta thấp, lại phải đi lên trong môi trường cạnh tranh quyết liệt.
Trong khi khẳng định một lần nữa tinh thần “Việt Nam muốn là bạn của
tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình hợp tác và phát
triển”, Đảng ta chỉ ra một vấn đề có tính chiến lược trong đường lối đối ngoại là:
“Ra sức tăng cường quan hệ với các nước láng giềng và các nước ASEAN,
không ngừng củng cố quan hệ với các nước bạn bè truyền thống”. Đảng ta đã
lựa chọn đúng các ưu tiên trong triển khai đường lối đối ngoại theo trật tự: Các
nước láng giềng, các nước trong khu vực và các nước bạn bè truyền thống, các
nước lớn, các trung tâm kinh tế...trong đó quan hệ đối với các nước láng giềng
và các nước trong khu vực giữ vị trí quan trọng và được đặt lên hàng đầu.
Trên cơ sở đường lối, đối ngoại của Đại hội VII, Đại hội VIII chủ trương:
“Mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền và các Đảng khác”. Quán triệt yêu
cầu mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân, quan hệ với các tổ chức phi chính phủ,
tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của nhân dân các nước, góp phần thúc
đẩy xu thế hoà bình, hợp tác, phát triển. Lần đầu tiên, trên lĩnh vực kinh tế đối
của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát
triển” [7, 119].
Điểm mới về quan điểm đối ngoại trong Đại hội IX là việc nhấn mạnh
vấn đề chủ yếu, trước hết là hội nhập kinh tế với khu vực và quốc tế; chủ trương
xây dựng quan hệ đối tác trong đường lối đối ngoại của mình. Trong khi khẳng
định toàn cầu hoá là xu thế khách quan, Đại hội IX đồng thời chỉ rõ xu thế này
đang bị chi phối bởi các nước phát triển, gây nên sự bất bình đẳng và nguy cơ
đối với các nước đang phát triển, chính vì vậy, Đảng yêu cầu quán triệt cụ thể
20
hơn quan điểm độc lập, tự chủ. Đại hội đã chỉ rõ: “Xây dựng nền kinh tế độc lập
tự chủ phải đi đôi với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng và nâng cao
hiệu quả kinh tế đối ngoại, kết hợp nội lực với ngoại lực thành nguồn lực tổng
hợp để phát triển đất nước” [7, 25 - 26]. Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ
theo định hướng XHCN trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế là một chủ
trương đúng đắn và sáng tạo của Đảng ta, là bước cụ thể hóa, bổ sung và phát
triển quan điểm đối ngoại của Đảng, là sự thực hiện nhiệm vụ đối ngoại đã được
đề ra trong Cương lĩnh năm 1991 trong tình hình mới.
* Đại hội X (4-2006) chủ trương thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại
độc lập, tự chủ, mở rộng đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, phấn
đấu vì hoà bình, hợp tác và phát triển.
Trong 20 năm đổi mới đất nước ta đã mở rộng được đáng kể quan hệ hợp
tác quốc tế về “chiều rộng”; đến Đại hội X Đảng ta nhấn mạnh yêu cầu “đưa các
quan hệ quốc tế đã được thiết lập vào chiều sâu, ổn định, bền vững”. Đồng thời
vì mục tiêu phát triển toàn diện đất nước, nhất là tăng cường sức mạnh kinh tế,
xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong bối cảnh toàn cầu hóa, các hoạt động
đối ngoại phải hướng mạnh vào các nhiệm vụ kinh tế - xã hội thiết thực như mở
rộng thị trường, có thêm đối tác, tranh thủ tối đa vốn, công nghệ, kinh nghiệm
1.3.1. Thành tựu và ý nghĩa
Thành tựu
Kể từ khi thực hiện Cương lĩnh năm 1991 với đường lối đối ngoại độc
lập, tự chủ, chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ
quốc tế gắn liền với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, cho đến hôm nay, Đảng,
nhà nước và nhân dân ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả mọi mặt:
Kinh tế, chính trị, văn hoá,… Trong lĩnh vực ngoại giao đã thực hiện thành công
đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển của giai đoạn
đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Thứ nhất, thành tựu có tính chất bao trùm là nước ta đã phá được thế bị
bao vây, cấm vận, phát triển mạnh mẽ ngoại giao đa phương mở rộng quan hệ
với các nước trong khu vực và trên thế giới; nâng cao vị thế của Việt Nam ở khu
vực và trên thế giới.
22
Sự bao vây, cấm vận của Mỹ đối với Việt Nam kể từ sau năm 1975 và
việc nhiều thế lực trong khu vực tập hợp lực lượng bao vây, chống phá cách
mạng nước ta từ cuối thập kỷ 70 của thế kỷ XX, đã kéo theo việc các tổ chức
như Ngân hàng thế giới(WB), Quỹ tiền tệ quốc tế(IMF) và Chính phủ một số
nước không cho Việt Nam vay vốn. Tình hình trên đã đẩy Việt Nam vào tình thế
rất khó khăn, đất nước bị bao vây kinh tế, cấm vận thương mại cô lập với thế
giới bên ngoài về chính trị và ngoại giao, không có điều kiện mở rộng quan hệ
quốc tế. Với quyết tâm đổi mới toàn diện đất nước, với đường lối đối ngoại độc
lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế sớm được xác
định trong Cương lĩnh năm 1991, với tinh thần “Việt Nam muốn là bạn của tất
cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát
triển” [8, 88], Việt Nam đã phá được thế bị bao vây cấm vận của các thế lực thù
địch, mở rộng quan hệ với các nước trong khu vực và trên thế giới. Hoạt động
tốt vai trò của mình.
Mở rộng quan hệ với các nước lớn, các tổ chức quốc tế trên thế giới.
Sau khi “Chiến tranh lạnh” kết thúc, các nước lớn như Mỹ, Nhật Bản,
Trung Quốc, Liên bang Nga, Ấn Độ và các nước lớn thuộc Liên minh châu Âu
(EU) đều xúc tiến điều chỉnh chính sách đối với khu vực châu Á - Thái Bình
Dương do bị chi phối bởi những lợi ích chiến lược mang ý nghĩa sống còn.
Trước những chuyển biến nhanh chóng trong so sánh lực lượng ở châu Á Thái
Bình Dương, Việt Nam tích cực đổi mới đường lối, chính sách đối ngoại theo
hướng đa phương hóa, đa dạng hoá quan hệ quốc tế.
Quan hệ với Nhật Bản:
Năm 1992, Nhật Bản quyết định mở lại viện trợ cho Việt Nam. Quan hệ
giữa Việt Nam-Nhật Bản phát triển nhanh chóng trên nhiều lĩnh vực và đã bước
sang giai đoạn mới về chất và đi vào chiều sâu. Nhật Bản ủng hộ đường lối đổi
mới, mở cửa của Việt Nam; hỗ trợ Việt Nam hội nhập vào khu vực và thế giới
(vào APEC, WTO, ASEM, ARF), coi trọng quan hệ với Việt Nam, lấy lợi ích và
mục tiêu lâu dài làm trọng. Trong những năm gần đây quan hệ hai nước đã đạt
được nhiều thành tựu. Nhiều hiệp định đã được ký kết giữa hai nước như: Hiệp
định hợp tác khoa học và công nghệ (8/2006). Hiệp định Đối tác kinh tế song
phương Việt - Nhật VJEPA (25/12/2008).
24
Quan hệ hợp tác về giáo dục và đào tạo giữa hai nước đã phát triển dưới
nhiều hình thức. Những năm gần đây, Nhật Bản là một trong những nước viện
trợ không hoàn lại lớn nhất cho ngành giáo dục và đào tạo của Việt Nam
Quan hệ với Hoa Kỳ:
Mỹ và Việt Nam chính thức bình thường hóa quan hệ vào ngày 11 tháng 7
năm 1995. Từ đó đến nay hai nước đã thường xuyên mở rộng trao đổi chính trị,
đối thoại về nhân quyền và an ninh khu vực, ký Hiệp định Thương mại song
khai thông được quan hệ với EU, để đến ngày 20-10-1990, hai bên chính thức
thiết lập quan hệ ngoại giao. Hai bên thường xuyên tiến hành các cuộc tiếp xúc,
đối thoại ở các cấp. Hiệp định khung dài hạn về Hợp tác Việt Nam - EU được ký
vào 7/1995, tạo bước ngoặt trong tiến trình phát triển quan hệ hợp tác kinh tế,
thương mại giữa hai bên. EU là đối tác thương mại quan trọng hàng đầu của
Việt Nam. Năm 2008 thương mại hai chiều Việt Nam - EU đạt hơn 21,08 tỷ
USD, trong đó xuất khẩu đạt hơn 12,4 tỷ USD; nhập khẩu gần 8,68 tỷ USD.
Năm 2009, do chịu tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn
cầu, nên kim ngạch thương mại hai chiều chỉ đạt 14,8 tỷ USD [38].
Quan hệ với các nước khác trên thế giới:
Từ cuối những năm 1980, Việt Nam đã đẩy mạnh quan hệ với các nước ở
khắp nơi trên thế giới như ở Mỹ La tinh, châu Phi,... những nước có tiềm năng
to lớn để phát triển quan hệ hợp tác về mọi mặt. Mở rộng hợp tác trên nhiều lĩnh
vực với Cu-ba, Chilê,... là những đối tác quan trọng hàng đầu của ta ở khu vực
Mỹ La-tinh. Đáng chú ý, Việt Nam đã tạo được bước đột phá trong quan hệ với
một số đối tác quan trọng tại Trung Đông như các tiểu vương quốc Ả-Rập thống
nhất (UAE), Ca-ta, Cô-oét (3-2009), đạt được nhiều thoả thuận hợp tác, đặc biệt
trong các lĩnh vực tài chính, thương mại, đầu tư.
Thứ hai, góp phần giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia toàn vẹn lãnh
thổ; từng bước giải quyết hòa bình các vấn đề biên giới, lãnh thổ, biển, đảo với
các nước liên quan; giữ vũng môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ các
nguồn lực bên ngoài cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
* Củng cố, phát triển quan hệ hợp tác, ổn định lâu dài với các nước láng
giềng và các nước trong khu vực