Header Page 1 of 16.
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
–––––––––––––––––––––––
PHẠM QUANG BẢO
CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC SINH
TRƯỜNG VĂN HOÁ I - BỘ CÔNG AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN, NĂM 2009
Footer Page 1 of 16.
Header Page 2 of 16.
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
–––––––––––––––––––––––
PHẠM QUANG BẢO
CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC SINH
TRƯỜNG VĂN HOÁ I - BỘ CÔNG AN
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
chỉ dẫn của các thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp để kết quả nghiên cứu được
hoàn chỉnh hơn.
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2009
Phạm Quang Bảo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer Page 3 of 16.
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Header Page 4 of 16.
ii
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục sơ đồ, bảng biểu
MỞ ĐẦU . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ HỌC VÀ QUẢN LÝ HOẠT
4
31
Chƣơng 3: CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC
CỦA HỌC SINH TRƢỜNG VĂN HOÁ I - BỘ CÔNG AN
50
3.1. Định hướng phát triển và nguyên tắc đề xuất các biện pháp quản lý
50
3.2. Các biện pháp quản lý hoạt động tự học . . . . . . . . . . . . . . . .
51
* Biện pháp 1: Giáo dục động cơ tự học cho học sinh gắn liền với
nội quy kỷ luật của ngành Công an . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
51
* Biện pháp 2: Tập huấn cho giáo viên hướng dẫn học sinh kỹ năng,
phương pháp tự học . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
54
* Biện pháp 3: Tăng cường quản lý đổi mới phương pháp dạy học
trên lớp của giáo viên . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
73
TÀI LIỆU THAM KHẢO. . . . . . . . . . . . . . . . . . . ..... . . . . . .. . . . . . . . . .
76
PHỤ LỤC. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . ....... . . . . . . . . . . . . . .
79
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer Page 5 of 16.
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Header Page 6 of 16.
iv
DANH MỤC
CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BCH TW
Ban chấp hành Trung ương
CBQL
KHTN
Khoa học tự nhiên
KHXH
Khoa học xã hội
KT
Khen thưởng
KL
Kỷ luật
NXB GD
Nhà xuất bản giáo dục
QLHS
Quản lý học sinh
SL
Số lượng
TB
Các chức năng và thông tin trong quản lý ........................................... 16
Sơ đồ 2.
Bộ máy tổ chức của nhà trường .......................................................... 23
Bảng 2.1. Nhận thức của học sinh về vai trò, ý nghĩa của tự học......................... 26
Bảng 2.2. Việc lập kế hoạch và mức độ thực hiện kế hoạch tự học của học sinh ...... 27
Bảng 2.3. Thời gian dành cho hoạt động tự học .................................................. 29
Bảng 2.4. Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên nhà trường về vai trò, ý nghĩa
quản lý hoạt động tự học .................................................................... 33
Bảng 2.5. Các biện pháp quản lý xây dựng và bồi dưỡng động cơ tự học cho
học sinh .............................................................................................. 35
Bảng 2.6. Các biện pháp quản lý hướng dẫn học sinh xây dựng kế hoạch tự học ...... 36
Bảng 2.7.
Các biện pháp quản lý hướng dẫn học sinh xây dựng nội dung tự học ...... 38
Bảng 2.8. Các biện pháp quản lý hướng dẫn học sinh phương pháp tự học ......... 39
Bảng 2.9.
Thực trạng quản lý kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động tự học của
học sinh ...................................................................................................... 40
Bảng 2.10. Thực trạng quản lý cơ sở vật chất, đảm bảo trang thiết bị phục vụ
cho hoạt động tự học .......................................................................... 42
Bảng 2.11. Các biện pháp tổ chức quản lý hoạt động tự học hiện nay ................... 44
Bảng 2.12. Các biện pháp chỉ đạo quản lý hoạt động tự học ................................. 45
Bảng 2.13. Các biện pháp cán bộ quản lý và giáo viên đã tiến hành quản lý
thích ứng, thận trọng, khôn khéo, chính xác trong tư duy và hành động nghề nghiệp là
phẩm chất, năng lực trực tiếp quyết định đến khả năng hoàn thành nhiệm vụ của
người chiến sĩ Công an. Chúng có mối quan hệ chặt chẽ với năng lực tự học của học
sinh, sinh viên ngay từ trong thời gian đào tạo tại các trường trong ngành.
Là một trường trong lực lượng CAND, trường Văn hoá I được Bộ Công an
giao nhiệm vụ đào tạo hoàn thiện văn hoá THPT, đồng thời hướng nghiệp theo
ngành Công an cho học sinh người dân tộc thiểu số, tạo nguồn cán bộ cho Công an
các tỉnh miền núi biên giới phía Bắc. Công tác đào tạo của trường không chỉ trang
bị cho học sinh kiến thức phổ thông mà còn rèn luyện thói quen lao động trí óc, khả
năng suy nghĩ, phán đoán độc lập, rèn luyện phẩm chất tự giác, tự giáo dục, ý thức
chấp hành nội quy, kỷ luật nghiêm ngặt của ngành theo điều lệnh CAND, xây dựng
thái độ, đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng tự hoàn thiện bản thân cho mỗi học sinh.
Như vậy, năng lực tự học của học sinh vừa là yêu cầu, vừa là điều kiện để
nâng cao chất lượng đào tạo. Tự học là hình thức học tập không thể thiếu được của
mọi học sinh đang học tập tại trường. Tổ chức hoạt động tự học một cách hợp lý,
khoa học, có chất lượng, hiệu quả là trách nhiệm của giáo viên, học sinh và toàn bộ
lực lượng giáo dục trong nhà trường.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer Page 8 of 16.
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Header Page 9 of 16.
2
Nhận thức rõ tầm quan trọng của tự học, trong những năm qua nhà trường
- Phương pháp xin ý kiến chuyên gia góp ý về cách xử lý kết quả điều tra, các
biện pháp quản lý.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm trong quản lý hoạt động tự học.
7.3. Nhóm phƣơng pháp xử lý số liệu
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý kết quả điều tra.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer Page 10 of 16.
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Header Page 11 of 16.
4
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ HỌC VÀ QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA HỌC SINH
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trong lịch sử phát triển của giáo dục, tự học là vấn đề luôn được quan tâm
nghiên cứu cả về lý luận cũng như thực tiễn. Song ở mỗi giai đoạn lịch sử, vấn đề tự
học được đề cập đến ở những góc độ khác nhau.
Thời cổ đại, Khổng Tử (551 - 479 TCN), Nhà giáo dục kiệt xuất của Trung
Hoa luôn quan tâm và coi trọng mặt tích cực suy nghĩ của người học. Khi nói về
cách học, ông cho rằng cách học đúng là: “học và suy nghĩ phải phù hợp với nhau
và coi trọng cả hai”.
Thời cận đại, nhà sư phạm lỗi lạc người Tiệp Khắc J. A. Komenxky (1592 1670) đã khẳng định: “Không có khát vọng học tập thì không thể trở thành tài
Thời gian qua, dưới sự hướng dẫn của các thầy, cô giảng viên các trường đại
học sư phạm, trường cán bộ quản lý giáo dục nhiều luận văn thạc sĩ nghiên cứu về
vấn đề tự học đã hoàn thành như: "Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng tự
học của sinh viên Học viện Quân Y" của tác giả Quản Thành Minh,“Một số biện
pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh THPT nội trú Đồ Sơn” của tác giả
Trịnh Khắc Hậu .v.v
Như vậy, vấn đề tự học của học sinh, sinh viên đã được nhiều nhà khoa học,
nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau. Trong các công
trình nghiên cứu, các tác giả đã chỉ rõ vai trò, tầm quan trọng của hoạt động tự học,
biện pháp sư phạm của người thầy nhằm hướng dẫn cho người học phương pháp tự
học, hình thành ở người học kỹ năng tự học. Đồng thời cũng đề ra một số biện pháp
tổ chức, quản lý hoạt động tự học của học sinh, sinh viên.
Tuy nhiên, về phương diện quản lý hoạt động tự học của học sinh, sinh viên
trong lực lượng Công an thì hiện nay chưa có tác giả nào đề cập đến. Do đó đề tài
tập trung nghiên cứu sâu về cơ sở lý luận của hoạt động tự học, thực trạng các biện
pháp quản lý hoạt động tự học, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp quản lý nâng
cao chất lượng tự học của học sinh trường Văn hoá I - Bộ Công an.
1.2. Những vấn đề lý luận về tự học
1.2.1. Khái niệm tự học
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về tự học, các tác giả đưa ra những khái
niệm khác nhau về tự học:
"Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội lịch sử trong thực
tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ cải tiến kinh nghiệm ban
đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài
người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo của bản thân chủ thể". [35]
"Tự học là công việc tự giác của mỗi người do nhận thức được đúng đắn vai
trò quyết định của nó đến sự tích lũy kiến thức cho bản thân, cho chất lượng công
việc mình đảm nhiệm, cho sự tiến bộ xã hội". [17, tr.1]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
quản lý hình thức tự học này chính là xã hội và gia đình học sinh.
Đối với môi trường phổ thông dân tộc nội trú và trường có tính chất đặc thù
như trường Văn hoá I thì các lực lượng giáo dục trong nhà trường đóng vai trò quan
trọng trong việc quản lý hoạt động tự học của học sinh ngoài giờ lên lớp. Bởi các
em được học tập trong môi trường tập trung dưới sự giám sát, quản lý chặt chẽ của
các lực lượng giáo dục trong nhà trường.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer Page 13 of 16.
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Header Page 14 of 16.
7
- Tự học độc lập nhằm thoả mãn nhu cầu hiểu biết riêng, mở rộng tri thức ở
bên ngoài. Đây là dạng tự học ở mức độ cao nhất, đòi hỏi tính tự giác cao của người
học nên biện pháp quản lý tốt nhất là quản lý nhiệm vụ học tập hay sản phẩm người
học hoàn thành.
Như vậy, phạm vi của tự học là rất rộng, đề tài không nghiên cứu các biện
pháp quản lý dạng hoạt động tự học độc lập của học sinh mà chỉ tập trung nghiên
cứu các biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh trong và ngoài thời gian
lên lớp, dưới sự tổ chức của nhà trường thông qua sự điều khiển trực tiếp hay gián
tiếp của giáo viên.
1.2.2. Đặc điểm hoạt động học tập của học sinh dân tộc thiểu số
Qua nghiên cứu tài liệu của tác giả Phạm Hồng Quang và một số tác giả khác,
chúng tôi rút ra một số đặc điểm tâm lý và hoạt động tự học của học sinh dân tộc
thì sự hiểu biết thuộc tính bản chất khái niệm và sự vận dụng các khái niệm đó vào
thực tế chỉ đạt mức gần trung bình. Các em hay lầm lẫn giữa thuộc tính bản chất với
thuộc tính không bản chất của khái niệm.
Những đặc điểm quá trình nhận thức của học sinh chi phối mạnh mẽ các thuộc
tính tâm lý khác như: khả năng ghi nhớ có chủ định chậm được hình thành, khả
năng tự điều chỉnh ghi nhớ có ý thức của học sinh còn yếu. Đặc biệt, về mặt ngôn
ngữ các em còn gặp khó khăn vì trước khi đi học các em thường dùng tiếng mẹ đẻ.
Trong khi đó quá trình nhận thức, tiếp thu tri thức ở trường lại diễn ra bằng ngôn
ngữ tiếng Việt. Như vậy, ở góc độ nhất định, sự giao thoa ngôn ngữ gây khó khăn
trong hoạt động nhận thức khi mà công cụ tư duy bị hạn chế. Trong học tập các em
không biết lật đi lật lại vấn đề, phát hiện thắc mắc, suy nghĩ sâu sắc về vấn đề học
tập. Đa số học sinh chỉ cố gắng ghi nhớ toàn bộ lời giảng của giáo viên rồi lặp lại y
nguyên, ngại đào sâu suy nghĩ, tìm dấu hiệu bản chất của nội dung vấn đề (học vẹt).
Trong lối sống, các em không thích gò bó, thường có những thói quen chưa tốt như
phong cách chậm chạp, thiếu ngăn nắp, ảnh hưởng đến công tác đào tạo khi các em
học tập tại trường.
Đặc điểm nhu cầu
Đối với học sinh dân tộc thiểu số, đi học là sự thay đổi căn bản, ở môi trường
này tâm lý các em có sự chuyển biến, ý thức mình là học sinh, là cán bộ tương lai
của địa phương, đất nước. Đặc biệt, học sinh trường Văn hoá I khi được cử tuyển
vào trường các em đã thuộc biên chế của lực lượng Công an, bản thân các em xác
định học tập để phục vụ lâu dài trong lực lượng Công an. Vì vậy, duy trì được nhu
cầu thích học, khẳng định vị trí mới cho học sinh trong môi trường nội quy kỷ luật
của ngành là một trong những nhu cầu thiết yếu để giáo dục học sinh, đặc biệt là về
ý thức tập thể và kỷ luật học tập. Vấn đề là tổ chức học tập làm sao cho hiệu quả,
phù hợp với đặc điểm nhận thức, hứng thú của học sinh. Tuy nhiên, việc hình thành
và phát triển nhu cầu cho học sinh cần gắn liền với cải tiến nội dung, phương pháp,
hình thức tổ chức học tập thích hợp, để nâng cao kết quả học tập.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
hướng dẫn chung và riêng; thời gian dành cho tự học trong ngày nhiều, được phân
chia theo thời gian cụ thể. Đối với học sinh trường Văn hoá I, thời gian học tập
trong ngày được thực hiện theo quy định của lực lượng Công an. Theo đó thời gian
dành cho hoạt động học tập hàng ngày của học sinh được quy định: buổi sáng từ 7
giờ đến 11 giờ, buổi chiều từ 13 giờ đến 16 giờ, buổi tối từ 19 giờ đến 21 giờ.
Như vậy, ngoài thời gian nghỉ, thời gian dành cho sinh hoạt cá nhân và các hoạt
động tập thể thì thời gian trong ngày dành cho nhiệm vụ học tập là 9 giờ. Trong đó
từ 4 đến 5 giờ dành cho học tập chính khoá trên lớp theo chương trình, còn 4 đến 5
giờ dành cho tự học ngoài giờ lên lớp vào buổi chiều và buổi tối.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer Page 16 of 16.
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Header Page 17 of 16.
10
Thời gian dành cho học tập trong ngày nhiều, nhưng do còn bị chi phối bởi
cách học, kế hoạch học, động cơ học tập nên mức độ thực hiện nội dung công việc
còn hạn chế. Phần lớn học sinh chỉ chú ý đến những bài học, bài tập mà giáo viên sẽ
kiểm tra ngày hôm sau.
Sự nỗ lực của bản thân học sinh trong tự học chưa cao, khi gặp khó khăn trong
học tập (một bài tập khó, một vấn đề chưa hiểu…) hầu hết các em bỏ qua, chỉ một số ít
hỏi thầy, hỏi bạn hoặc tự mày mò, tiếp tục suy nghĩ tìm tài liệu để giải quyết vấn đề.
1.2.3. Các yếu tố ảnh hƣởng tới hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số
Hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số nói chung và hoạt động tự học
11
- Sự tác động của gia đình như sự quan tâm của bố mẹ, truyền thống học tập
của gia đình .v.v.
* Yếu tố chủ quan là các yếu tố bên trong quyết định trực tiếp đến kết quả của
hoạt động tự học. Trong quá trình tự học, yếu tố nội lực của cá nhân người học là
yếu tố cơ bản nhất quyết định chất lượng và hiệu quả của hoạt động tự học. Sự trợ
giúp của yếu tố ngoại lực chỉ có tác dụng hỗ trợ, kích thích các yếu tố nội lực phát
triển. Nội lực của học sinh bao gồm:
- Những yếu tố với tư cách là thành phần cấu trúc của hoạt động tự học đó là
nhận thức về tự học, động cơ tự học, thái độ tự học, kỹ năng tự học.
- Yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động tự học với tư cách là tiềm năng tự học của
học sinh như yếu tố bẩm sinh, di truyền và một số kỹ năng tự học.
- Yếu tố sức khoẻ cá nhân: Hoạt động tự học là hoạt động căng thẳng, mất
nhiều năng lượng thần kinh. Do vậy, đòi hỏi học sinh phải có sức khoẻ tốt thì mới
đảm bảo cho hoạt động tự học đạt hiệu quả.
Tóm lại: Có nhiều yếu tố chi phối đến hoạt động tự học, trong đó các yếu tố
chủ quan đóng vai trò cốt lõi, các yếu tố khách quan đóng vai trò chi phối. Nắm
được các yếu tố chi phối hoạt động tự học sẽ giúp quản lý tốt hoạt động tự học của
học sinh. Rèn luyện, bồi dưỡng các kỹ năng tự học cùng với việc xác định mục
đích, động cơ tự học, lựa chọn phương pháp, hình thức tự học là cần thiết; điều
quan trọng là học sinh phải có các kỹ năng tự học đó là: đọc sách, ghi chép, hệ
thống hoá, khái quát hoá, tự kiểm tra đánh giá .v.v. Để tự học đạt kết quả thì học
sinh phải có tri thức, có tư duy khoa học, biến động cơ tự học thành kết quả và tự tin
vào bản thân, từ đó bồi dưỡng và phát triển hứng thú học tập, duy trì tính tích cực,
chủ động, sáng tạo và tư duy khoa học trong hoạt động tự học.
1.2.4. Vai trò của tự học đối với sự phát triển nhân cách học sinh
Tự học là cốt lõi của việc học, hễ có học là có tự học, không ai có thể học hộ
người khác. Khi nói đến tự học là nói đến nội lực của người học và ngoại lực của
học sinh nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và nghề nghiệp trong tương lai; giúp
học sinh không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập khi còn học trong
trường, đồng thời giúp học sinh rèn luyện nhân cách, hình thành nền nếp làm việc
khoa học, rèn luyện ý chí phấn đấu, đức kiên trì, óc phê phán và hứng thú học tập;
không ngừng làm phong phú, hoàn thiện thêm vốn hiểu biết của mình, giúp họ tránh
được lạc hậu trước sự “bùng nổ thông tin” trong thời đại hiện nay.
Tự học đối với học sinh trường Văn hoá I còn có ý nghĩa vô cùng quan trọng
nhằm giúp các em rèn luyện thói quen lao động trí óc, khả năng suy nghĩ, phán đoán
độc lập, rèn luyện phẩm chất tự giác, tự giáo dục, ý thức chấp hành nội quy, kỷ luật
của ngành Công an, xây dựng thái độ, đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng tự hoàn thiện
bản thân để có thể vận dụng linh hoạt trong thực tiễn chiến đấu sau này.
Từ những phân tích trên có thể thấy tự học đóng vai trò quyết định đến sự hình
thành và phát triển nhân cách của học sinh, bởi nhân cách người học sinh chính là
phẩm chất và năng lực được hình thành và phát triển trong quá trình đào tạo tại nhà
trường phổ thông.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer Page 19 of 16.
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Header Page 20 of 16.
13
1.3. Những vấn đề lý luận về quản lý hoạt động tự học của học sinh
1.3.1. Một số khái niệm cơ bản về quản lý và bản chất quản lý
* Khái niệm về quản lý
Quản lý là hoạt động đặc biệt, là yếu tố không thể thiếu được trong đời sống xã
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Header Page 21 of 16.
14
nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến trường, các cơ sở giáo dục
khác) nhằm mục đích đảm bảo giáo dục xã hội chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, trên cơ sở
nhận thức và vận dụng những quy luật chung của chủ nghĩa xã hội, cũng như quy
luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực, tâm lý trẻ thiếu niên và thanh
niên". [23, tr.10]
“Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp
với quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và
nguyên lý giáo dục của Đảng. Thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội
chủ nghĩa, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ
thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái mới về chất". [33, tr.35]
Từ những khái niệm khác nhau về quản lý giáo dục ta có thể khái quát: quản lý
giáo dục là quá trình tác động có định hướng của nhà quản lý giáo dục trong việc
vận dụng nguyên lý, phương pháp chung nhất của khoa học nhằm đạt được những
mục tiêu đề ra.
Dựa vào phạm vi quản lý, người ta chia quản lý giáo dục thành hai loại:
- Quản lý hệ thống giáo dục: Quản lý giáo dục được diễn ra ở tầm vĩ mô, trong
phạm vi toàn quốc, trên địa bàn lãnh thổ địa phương (tỉnh, thành phố).
- Quản lý nhà trường: Quản lý giáo dục ở tầm vi mô trong một đơn vị, một cơ
sở giáo dục.
* Khái niệm quản lý nhà trƣờng
Nhà trường vừa là khách thể chính của mọi cấp quản lý từ Trung ương đến địa
phương, vừa là một hệ thống độc lập trong xã hội. Chất lượng của giáo dục và đào
gồm các chỉ dẫn, quyết định của các thực thể bên ngoài nhà trường nhằm định
hướng sự phát triển của nhà trường, hỗ trợ và tạo điều kiện cho việc thực hiện
phương hướng phát triển đó.
Quản lý nhà trường do chủ thể quản lý bên trong nhà trường bao gồm các hoạt
động như: quản lý giáo viên, quản lý học sinh, quản lý quá trình dạy học của giáo
viên, quản lý hoạt động học tập của học sinh, quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị
dạy học, quản lý tài chính .v.v.
* Bản chất quản lý
Bản chất quản lý là sự tác động có mục đích của người quản lý (chủ thể quản
lý) đến người bị quản lý (khách thể quản lý) nhằm thực hiện mục tiêu chung. Trong
giáo dục đó là sự tác động của nhà quản lý giáo dục đến giáo viên, học sinh và các
lực lượng khác trong xã hội nhằm thực hiện hệ thống các mục tiêu giáo dục.
Toàn bộ quá trình quản lý được thực hiện thông qua các chức năng quản lý đó
là: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá. Các chức
năng quản lý có mối quan hệ mật thiết với nhau và diễn ra có tính chu kỳ trong
khoảng thời gian, không gian xác định. Hệ thống thông tin có vai trò đặc biệt quan
trọng trong quản lý, được coi là mạch máu lưu thông giữa các bộ phận đảm bảo cho
toàn bộ hệ thống hoạt động, đảm bảo sự thống nhất trong quản lý. Mối liên hệ giữa
các chức năng và thông tin trong quản lý được biểu diễn theo sơ đồ 1.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer Page 22 of 16.
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Header Page 23 of 16.
16
trò có sự cộng hưởng lẫn nhau.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer Page 23 of 16.
http://www.lrc-tnu.edu.vn
Header Page 24 of 16.
17
Quá trình dạy học là sự phối hợp thống nhất và biện chứng của yếu tố ngoại
lực bao gồm các hoạt động chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức của thầy với những yếu tố
nội lực bao gồm các hoạt động lĩnh hội, tự giác, tích cực, tự lực, sáng tạo của trò
nhằm đạt mục đích cuối cùng và đúng nghĩa của dạy học. Quá trình dạy học tối ưu
chính là thực hiện được sự thống nhất biện chứng, trong đó dạy chỉ đạo học, học
vừa được chỉ đạo vừa tự chỉ đạo. Chất lượng giáo dục được thể hiện rõ nét nhất ở sự
tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập thông qua phương pháp dạy
học của giáo viên, biến quá trình dạy học của giáo viên thành quá trình tự học của
học sinh, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo.
Như vậy, quản lý quá trình dạy học chính là hệ thống tác động sư phạm có
mục đích của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng khác
nhằm huy động, lôi kéo, phối hợp sức lực, trí tuệ của các lực lượng vào việc hoàn
thành có chất lượng và hiệu quả của mục tiêu đào tạo.
1.3.3. Quản lý hoạt động tự học
Quản lý hoạt động tự học là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong quản
lý giáo dục nói chung và quản lý nhà trường nói riêng, là bộ phận cấu thành nên hệ
thống quản lý quá trình giáo dục, đào tạo trong nhà trường. Quản lý hoạt động tự
Mọi hoạt động của con người đều có mục đích, được thúc đẩy bởi động cơ,
động cơ hoạt động là lực đẩy giúp chủ thể vượt khó khăn để đạt được mục đích đã
định. Hoạt động tự học của học sinh THPT phải được xây dựng bởi động cơ tự học,
mà động cơ tự học lại được hình thành từ nhu cầu bản chất của vấn đề giáo dục,
trong đó hình thành nhu cầu, động cơ tự học cho học sinh là yếu tố quyết định.
* Quản lý việc xây dựng và thực hiện kế hoạch tự học
Kế hoạch tự học là bảng phân chia nội dung tự học theo thời gian một cách
hợp lý dựa trên yêu cầu, nhiệm vụ tự học, khả năng của bản thân và các điều kiện
được đảm bảo nhằm hướng tới việc nắm vững kiến thức của từng môn học. Có kế
hoạch tự học, người học sẽ thực hiện nhiệm vụ học tập một cách khoa học, năng
động, sáng tạo và hiệu quả hơn.
* Quản lý việc xây dựng nội dung tự học
Nội dung tự học là hệ thống kiến thức học tập có tính bắt buộc phải hoàn
thành và hệ thống kiến thức tự đào sâu, mở rộng các vấn đề, nội dung học tập mà
thầy cô giảng trên lớp.
* Quản lý việc bồi dưỡng phương pháp tự học
Tự học phải được xác định bắt đầu từ mục đích, động cơ học tập đúng đắn,
qua đó hình thành cách học, biện pháp học, kỹ thuật học .v.v. mà có thể gọi là kỹ
năng tự học. Do vậy, người học cần phải được hướng dẫn, bồi dưỡng và rèn luyện
kỹ năng tự học ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông, từ đó mới có
thể xây dựng được phương pháp tự học. Xây dựng phương pháp tự học của bản thân
theo một kế hoạch hợp lý, là điều kiện đảm bảo giúp cho người học đạt hiệu quả
học tập cao hơn. Mỗi học sinh cần phải xác định và chọn cho mình phương pháp tự
học phù hợp; giáo viên, cha mẹ học sinh cần phải hướng dẫn và tạo điều kiện đảm
bảo để học sinh xây dựng kế hoạch tự học và lựa chọn phương pháp tự học phù hợp.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer Page 25 of 16.
http://www.lrc-tnu.edu.vn