Báo cáo bệnh tụ huyết trùng trâu bò - Pdf 41

BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG TRÂU BÒ

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
Kính thưa cô và các bạn!
Trong chuyên ngành chăn nuôi – thú y, chúng ta đã được học nhiều môn chuyên
ngành như: Cơ thể động vật, dược lý, dinh dưỡng, bệnh học đại cương…Trong đó,
bệnh truyền nhiễm nói riêng là môn học chuyên nghiên cứu những bệnh có tính chất
lây lan ở gia súc.
Việt Nam chúng ta, thời tiết diễn biến phức tạp, mưa, nóng, lạnh rất thất thường
nên đàn trâu, bò, nguy cơ xảy ra bệnh đường hô hấp rất cao, với nhiều loại bệnh nguy
hiểm, trong đó bệnh tụ huyết trùng ở trâu bò là phổ biến, dễ lây lan, song mang tính
chất địa phương là chính. Chính vì thế, dưới sự hướng dẫn của cô Lữ Ngọc Thảo –
giảng viên bộ môn Bệnh truyền nhiễm, nhóm chúng tôi đã chọn chủ đề: “ Bệnh tụ
huyết trùng trâu bò”, nhằm mục đích cung cấp các kiến thức cơ bản về chần đoán, điều
trị và biện pháp phòng trị bệnh này, để việc chăn nuôi của bà con nông dân đạt được
sự thuận lợi nhất.
Trong quá trình biên soạn tài liệu có phần gấp rút, nguồn tài liệu tham khảo
cũng hạn chế, do đó khó tránh khỏi những sai sót, rất mong cô và các bạn thông cảm.
Nhóm chúng tôi rất trân trọng những ý kiến đóng góp và xây dựng để khắc phục
những lỗi trong tài liệu và cũng như làm cho tập tài liệu này thêm phần hoàn thiện
hơn.
Cuối cùng nhóm xin chúc cả lớp đạt nhiều thành công trong môn học – Bệnh
truyền nhiễm nói riêng và trong học kỳ cuối nói chung đều đạt nhiều thành tựu. Nhóm

1


BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG TRÂU BÒ

cũng xin kính chúc cô dồi dào sức khỏe, mẹ tròn con vuông, và hạnh phúc! Chúc buổi
báo cáo của lớp ta ngày hôm nay thành công tốt đẹp!

Pasteurella oviseptica gây bệnh ở dê, cừu
Pasteurella aviseptica gây bệnh ở gà…
Đến năm 1939, Rosenbush và Merchant [79] đã đề nghị đặt tên cho vi khuẩn này là
Pasteurella multocida, để chỉ khả năng gây bệnh cho nhiều loài vật của chúng, tên này
đã được công nhận chính thức trên thế giới và sử dụng cho đến ngày nay.
Lignieres (1900)[62] cho rằng: bệnh tụ huyết trùng có ít nhất ở 6 loài vật nuôi khác
nhau. Hai thuật ngữ chỉ bệnh là Haemorrhagic septicaemia và Pasteurellosis được xem
là đồng nghĩa. Tuy nhiên, gần đây theo qui ước của tổ chức FAO (FAO/WHO/CIF,
1970), trong các tài liệu quốc tế về súc sản, hai thuật ngữ này được dùng phân biệt,
Haemorrhagic septicaemia dùng chỉ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái
Nguyên ệnh do P. multocida thuộc serotype I Roberts gây
ra, còn Pasteurellosis dùng chỉ bệnh do vi khuẩn Pasteurella gây ra.
Ở Châu Á, bệnh tụ huyết trùng trâu, bò do P. multocida gây ra thường ở hai thể chủ
3


BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG TRÂU BÒ

yếu: Nhiễm trùng máu - xuất huyết (Haemorrhagic septicaemia - HS) và viêm phổi ở
bò (Bovine pneumonic pasteurellosis). Ngày nay, sau hơn một trăm năm kể từ khi phát
hiện lần đầu, P. multocida vẫn là nguyên nhân gây bệnh tụ huyết trùng cho nhiều loài
gia súc gia cầm. Tuy có tính thích nghi gây bệnh trên các loài vật khác nhau, nhưng P.
multocida đều có những đặc tính cơ bản giống nhau.
1.2 Ở Việt Nam
Bệnh tụ huyết trùng ở Việt Nam được phát hiện vào những năm cuối thế kỷ 19:
Cudamie thông báo về bệnh ở trâu thuộc tỉnh Bà Rịa và Long Thành năm 1868, sau đó
Gemain (1869) phát hiện bệnh ở Gò Công, Yersin phát hiện bệnh ở ở các tỉnh miền
Trung vào các năm 1889-1895. Năm (1901) Shein bằng phương pháp phân lập và tiêm
truyền qua động vật thí nghiệm đã xác nhận ổ dịch ở trâu, bò xảy ra ở Tây Ninh là do
vi khuẩn P. multocida (Phan Đình Đỗ và Trịnh Văn Thịnh, 1958) [4]). Theo Đoàn Thị

5


BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG TRÂU BÒ

1%, axit fenic 5% đều diệt được trong thời gian 1-3 phút. Các chất sát trùng thông
thường cũng dễ tiêu diệt được vi khuẩn.
Nguồn bệnh chính là các trâu bò mang trùng. Vi khuẩn ký sinh ở niêm mạc mũi,
hầu và tuyến hạnh nhân. Trên đàn gia súc đã từng xảy ra bệnh, có đến hơn 40% trâu
bò khoẻ mạnh vẫn mang trùng.

Hình 2: Vi khuẩn P. multocida và các tế bào
Về đặc tính sinh học của vi khuẩn gây bệnh tụ huyết trùng. P. multocida là vi
khuẩn hiếu khí và yếm khí tùy tiện, ưa kiềm nhẹ, pH=7,2-7,4, có thể nuôi cấy ở nhiệt
độ từ 13 độ C đến 38 độC, thích hợp nhất là 37 độ C. Vi khuẩn gram âm, cầu trực
khuẩn, không di động, không hình thành nha bào, không có giáp mô. Đặc tính kháng
nguyên không đồng nhất: có 2 nhóm kháng nguyên chính P. multocida, P. hemolytica.

6


BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG TRÂU BÒ

Vi khuẩn P. multocida có thể nuôi cấy ở nhiều loại môi trường như: Môi trường
nước thịt, môi trường thạch thường. Theo (Jablonski và cs, 1996) để vi khuẩn P.
multocida phát triển tốt trên môi trường nhân tạo cần thêm một số chất như: cystein,
glutamic axit, leucine, methionine, muối vô cơ, nicotinamide, pantothenate, thiamine
và đường. Trong đó leucin tác dụng kích thích tăng trưởng. Trên các môi trường nuôi
cấy thông thường vi khuẩn phát triển kém, vi khuẩn phát triển tốt hơn trên môi trường
nuôi cấy có bổ sung 5-10% huyết thanh hoặc máu động vật.

Prederickson (1973) khi nghiên cứu tính chất sinh hóa của vi khuẩn đã chia P.
multocida thành 6 type (biotype) dựa trên các phản ứng phân giải các loại đường sau:
8


BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG TRÂU BÒ

- Type 1: Phân giải Arabinose, Ducitol và Xylose
- Type 2: Không phân giải Arabinose, Ducitol và Xylose
- Type 1, 6: Phân giải Xylose
- Type 2, 3, 4, 5: Không phân giải Xylose
- Type 6: Không phân giải Manitol, Sorbitol.
2.2 Loài vật mắc bệnh
Trong tự nhiên hầu hết các loài gia súc, gia cầm, loài có vú và loài chim đều
mẫn cảm với bệnh. Theo Lignieres (1900) [62] ít nhất có 6 dạng bệnh tụ huyết trùng
khác nhau: Ở gà, trâu, bò, lợn, cừu, dê, ngựa và chó, cả 6 dạng bệnh này đều thấy ở
thỏ. Bệnh thấy ở trâu, bò, lợn, thỏ, chó, mèo, hươu, ngựa, chồn, khỉ, dê và cừu (Carter,
1959[44]). Bệnh còn thấy ở bò rừng, nai, sơn dương, lợn rừng, thỏ rừng, voi, lạc đà và
báo tuyết ở Hymalaya (De Alwis,1982[48]). Nhiều tác giả đã khẳng định: Nơi nào có
bệnh tụ huyết trùng trâu, bò thì ở đó người ta cũng phát hiện bệnh này ở động vật
hoang dã.
De Alwis (1982) [48] cho rằng loài vật cảm nhiễm mạnh nhất đối với bệnh tụ
huyết trùng là trâu, bò trong đó trâu mẫn cảm hơn bò. Tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ chết của
các loài vật với bệnh tụ huyết trùng trâu, bò phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như mức
độ cảm nhiễm của vùng, mức độ bùng nổ của các vụ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu –
Đại học Thái Nguyên ịch trước đó, mức độ miễn dịch toàn
đàn, đặc biệt phụ thuộc vào lứa tuổi mắc bệnh.

9


viêm ở các lớp niêm mạc và vào hạch lâm ba (hạch hầu, hạch sau hầu, hạch bả vai);
VK nhân lên làm hạch bị viêm, thủy thũng các vùng xung quanh hạch làm cho hệ
thống hàng rào bị phá hủy.
Hạch hầu : chèn ép khí quản gây khó thở.
Hạch sau hầu : đẩy lưỡi ra ngoài.
Hạch bả vai : gây què.
Sau đó Vi khuẩn tụ huyết trùng xâm nhập vào máu gây sốt, và tiết nội độc tố.
Chính các nội độc tố này phá huỷ cấu tạo của thành mạch máu làm cho máu ngấm vào
các mô xung quanh tạo nên hiện tượng tụ huyết, da đỏ.
Vi khuẩn sau đó đến khắp các hệ cơ quan và gây ra các bệnh lý đặc trưng. Các
chủng có độc tố mạnh làm con vật chết nhanh, các chủng có độc tố yếu hơn gây bệnh
kéo dài với các tổn thương viêm và hoại tử ở phổi, gan, tim, thận và khớp.
2.5 Tuổi mắc bệnh
Bệnh xảy ra ở hầu hết các lứa tuổi, những con đang bú mẹ ít mắc hơn những
con trưởng thành. Tuổi hay bị nhất là từ 6 tháng đến 2, 3 năm. Trâu, bò 1-3 tuổi dễ
mắc hơn trâu bò già và khi mắc thì tỷ lệ chết cao hơn. Trâu bò càng béo, khỏe, trẻ càng
dễ mắc bệnh và tỷ lệ chết cao. Bê, nghé dưới 6 tháng tuổi ít mắc bệnh. Theo De Alwis
(1984) mức độ cảm nhiễm của động vật non mạnh hơn động vật già. Khi nghiên cứu
dịch tại Srilanka tác giả cho biết tỷ lệ mắc bệnh đối với trâu bò dưới 2 năm tuổi là 3032%, trong khi đó trâu, bò trên 2 năm tuổi chỉ mắc bệnh 3-5% ở bò và 8-9% ở trâu.
3. TRIỆU CHỨNG

11


BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG TRÂU BÒ

Có 3 thể bệnh tụ huyết trùng:
3.1. Thể quá cấp tính
Gia súc thường chết nhanh, kèm theo sốt cao và triệu chứng thần kinh như vật
trở nên hung dữ, điên và hút đầu vào tường, hoặc giãi dụa, run rẩy… nặng thì lăn ra

Hình 4: Bò bị tụ huyết trùng vùng hầu họng sưng to và chảy nước dãi.
- Bệnh phát triển nhanh từ 3 giờ đến 3-5 ngày thú có thể chết. Trâu chết nhanh hơn bò.
Trâu tỷ lệ chết là 90-95 %, bò khoảng 5-10 %.
3.3. Thể mãn tính
Bệnh có thể kéo dài đến cuối ổ dịch, vật cũng có thể còn viêm ruột tiêu chảy,
13


BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG TRÂU BÒ

viêm phổi ho từng cơn. Bệnh tiến triển từ vài tuần đến vài tháng. Con vật có thể khỏi
bệnh nếu được chăm sóc tốt và ngược lại sẽ yếu dần rồi chết.
4. BỆNH TÍCH
4.1 Bệnh tích đặc trưng
- Do chết nhanh nên xác con vật vẫn béo.
- Tụ máu ở cơ quan phủ tạng, các tổ chức liên kết dưới da xuất huyết lấm tấm, thịt
nhão.
- Gan và thận bị viêm, màng phổi xuất huyết lốm đốm, dày lên và dính vào thành
mạch ngực. Tim xuất huyết.
- Phổi bị viêm bị gan hóa từ thùy trước đến 1/3 thùy sau của phổi.

Hình 5: Phổi bị xuất huyết, gan hóa có màu tím sen.
4.2 Bệnh tích chung
14


BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG TRÂU BÒ

Tụ máu, xuất huyết ở một số xoang và cơ quan phủ tạng.
Tổ chức liên kết dưới da thủy thũng, thấm dịch nhớt màu hồng, keo nhày dễ đông.

+ Trong lòng khí, phế quản có nhiều dịch nhớt và bọt màu hồng
5. CHẨN ĐOÁN
5.1 Các phương pháp chuẩn đoán
Dựa trên những triệu chứng, bệnh tích điển hình của bệnh: con vật sốt cao đột
ngột 41 độ C – 42 độ C, niêm mạc mắt đỏ sẫm, chảy nước mắt, nước mũi. Khi sốt cao,
súc vật non có thể có triệu chứng thần kinh: run rảy, đi vòng quanh, húc đầu vào
chuồng, kêu rống lên.
Ăn kém hoặc bỏ ăn, giảm nhu động dạ cỏ. Hạch dưới hầu xưng to chèn ép làm
cho lưỡi luôn thè ra ngoài nên người chăn nuôi còn gọi “trâu, bò hai lưỡi” hoặc “trâu,
bò lưỡi đòng”.
Thấy con vật ho nhiều và thở rất khó khăn vì súc vật bị viêm phổi cấp. Hạch
trước vai và trước đùi xưng rất to làm cho súc vật đi lại khó khăn hoặc không đi lại
được, nằm bệt một chỗ.
Bệnh diễn biến nhanh và nặng do nhiễm trùng huyết và viêm phổi cấp làm cho
trâu bò chết sau 1 – 3 ngày với tỷ lệ 100%, nếu không được điều trị kịp thời nhất là bê,
nghé. Ở da bụng nổi màu tím hoa cà rất đặc trưng, còn bò khi đánh lông sẽ thấy lấm
tấm những nốt đỏ bằng hạt đỗ xanh trên da.
17


BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG TRÂU BÒ

Phổi xung huyết rất nặng, màu tím nẫu, bỏ vào nước không chìm, danh từ
chuyên môn gọi là phổi bị nhục hóa. Nếu trong đàn đã có con bị tụ huyết trùng ban
đêm chỉ cần soi đèn pin nếu thấy môi trên nước chảy nhỏ giọt chắc chắn con đó đã
mắc bệnh vì lưỡi bị cứng lại không liếm môi được, chữa ngay những con này là kịp
thời....
Chuẩn đoán vi trùng học là cơ bản : phết kính tiêu bản nhuộm Giemsa, Gram.
Tiêm truyền qua động vật thí nghiệm: chuột bạch chết nhanh trong vòng 24 giờ.
Nuôi cấy trên các loại môi trường xem đặc tính sinh hoá. (tham khảo TCVN

Enrofloxacine;

Thiamfenicol…
Hai loại thuốc này (strep và peni) nên tiêm riêng, không nên tiêm chung một
lần, vì một loại có tính axit, một loại có tính kiềm nên trộn lẫn trong một sơranh thuốc
sẽ giảm tác dụng.
Ngoài ra còn có thể dùng thuốc Cefalosporin (thuốc nhân y). Trâu, Bò lớn có
thể dùng 5 – 6 lọ 1g cho 1 lần tiêm, chỉ cần tiêm ngày 1 lần là đủ, liệu trình điều trị 3-5
ngày.
Tuy nhiên do bệnh diễn biến nhanh nên chỉ điều trị có hiệu quả cao khi sử dụng
kháng sinh sớm, đủ liều, đủ liệu trình và kết hợp với thuốc hạ sốt, trợ sức. Đồng thời
phải tăng cường quản lý, chăm sóc và bồi dưỡng tốt cho gia súc bệnh.
Có thể áp dụng một số phác đồ điều trị bệnh như sau :
+ Phác đồ 1: Thuốc điều trị dùng kháng sinh Streptomycin (hoặc Kanamyxin)
liều dùng 25mg/kgTT tiêm bắp, phối hợp Gentacostrim hoặc Hancotmix liều dùng
200mg/kgTT.cho uống. Dùng thuốc liên tục 4 – 5 ngày. Thuốc chữa triệu chứng dùng
thuốc tiêm Analgin, HanaginC hạ sốt cho con vật. Thuốc trợ tim mạch dùng thuốc
tiêm phối hợp cafein, Multivit-forte, VitaminC; Trường hợp con vật quá yếu có thể
truyền huyết thanh mặn ngọt với liều 1000 – 2000ml/100kg thể trọng. Về hộ lý vẫn
phải cho con vật ăn cỏ tươi, mềm, ngon và bổ sung cho ăn thêm cám hoặc cháo gạo
đồng thời cách ly con vật để điều trị.
19


BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG TRÂU BÒ

+ Phác đồ 2: Thuốc điều trị: Hanoxylin LA: dùng liều 1 ml/10kgTT. Thuốc tiêm
một liều tác dụng điều trị kéo dài 3 – 5 ngày. Các loại thuốc chữa triệu chứng, thuốc
trợ tim mạch và chăm sóc hộ lý (làm giống như phác đồ 1)
+ Phác đồ 3: Dùng thuốc điều trị loại kháng sinh Hansunvil-10 (tên khác

+ NOVA-NORCINE: Tiêm bắp 1ml/20 kg thể trọng, ngày 1 lần trong 4-5 ngày.
+ NOVA-GENTASONE 10%: Tiêm bắp 1ml/20kg thể trọng, ngày 1 lần trong 34ngày.
+ NOVA-AMDECOL: Tiêm bắp 1ml/12-15 kg thể trọng, ngày 1 lần trong 4-5
ngày.
+ NOVA-TETRA LA: Tiêm bắp 1ml/ 20 kg thể trọng, 2 ngày tiêm một lần.
+ TIALIN 10%: Tiêm bắp 1ml/10-12 kg thể trọng, ngày 1 lần trong 4-5 ngày liên
tục.
+ NOVA-DOXYCOL: Tiêm bắp 1ml/15-20 kg thể trọng, ngày 1 lần trong 4-5
ngày.
+ NOVA-PEN-STREP: 1 lọ/ 80kg thể trọng, ngày tiêm 2 lần trong 4-5 ngày.
+ NOVA-PENI-STREPTO: Tiêm bắp 1ml/12kg thể trọng, ngày 1 lần trong 34ngày.
- Kết hợp với việc tăng cường sức kháng bệnh, giúp thú mau hồi phục bệnh, tăng
21


BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG TRÂU BÒ

hiệu quả điều trị bệnh. Dùng 1 trong các sản phẩm sau:
+ NOVASAL: Tiêm bắp 15-20ml/ con/ lần, 2 ngày tiêm một lần cho đến khi hết
bệnh.
+ NOVA-C.VIT: Tiêm bắp 1ml/10 kg thể trọng, ngày 1 đến 2 lần cho đến khi hết
bệnh.
+ NOVA-B.COMPLEX: Tiêm bắp 10ml/con, ngày 1 lần trong 4-5 ngày.
- Khi có triệu chứng sốt cao, khó thở dùng thêm chế phẩm trợ hô hấp, hạ sốt:
+ NOVA-ANA C: Tiêm bắp 10ml/con/lần, ngày 2 lần cho đến khi hết sốt (hoặc
dùng NOVA-ANAZINE 20%).
+ NOVA-ACB.COMPLEX: 1ml/20-30 kg thể trọng, ngày 1 đến 2 lần cho đến khi
hết sốt.
+Trợ hô hấp NOVA-BROMHEXINE PLUS: Tiêm bắp 1ml/10 kg thể trọng, ngày
1

+ NOVA-THIASUL: 2g/ kg thức ăn tinh.
b. Khi dịch xảy ra

23


BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG TRÂU BÒ

Cách ly ngay với nguồn gây bệnh, nếu dịch chưa tới thì tiến hành tiêu độc khử
trùng chuồng trại ngay, tránh để những vật lạ xâm nhập vào chuồng trại trâu bò: chó,
mèo, chuột, diệt ruồi nhặn. Cách ly những con bệnh ra khỏi đàn để tiến hành theo dõi
và điều trị. Cỏ cho ăn cũng phải đảm bảo không nằm trong nguồn lây bệnh.
Cho trâu bò dùng các chế phẩm để tăng sức đề kháng (vì bệnh thường tấn công
những con có sức đề kháng yếu), có thể tiêm Catosal với liều dùng 1cc/7-10kg thể
trọng cho đàn trâu bò.
Tiến hành tiêm phòng để bảo vệ cho đàn vật nuôi.
7.2. Vaccine phòng bệnh
Đây là biện pháp quan trọng nhất để chủ động không để bệnh xảy ra. Phải đảm bảo
tiêm phòng định kỳ vácxin Tụ huyết trùng cho đàn trâu bò theo đúng hướng dẫn của
cơ quan thú y, và nếu có lựa chọn thì nên chọn vaccine có chủng tương đồng với
chủng đang hoành hành tại địa phương để đạt hiệu quả phòng bệnh cao nhất (tại trại
bò Ba Tri – Bến Tre họ thường dùng vaccine keo phèn chùng P52 của công ty
Navetco) . Lưu ý tiêm phòng cả vácxin lở mồm long móng, khi vận chuyển ở nơi khác
về cần tiêm cả một số loại thuốc phòng ký sinh trung đường máu .

24


BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG TRÂU BÒ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status