BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHOUVONG BOUPHAPHANH
TÌNH HÌNH BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG TRÂU BÒ
TẠI TỈNH SEKONG - CHDCND LÀO VÀ ỨNG
DỤNG MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ BỆNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHOUVONG BOUPHAPHANH
TÌNH HÌNH BỆNH TỤ HUYẾT TRÙNG TRÂU BÒ
TẠI TỈNH SEKONG - CHDCND LÀO VÀ ỨNG
DỤNG MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ BỆNH
Vi sinh vật - Truyền nhiễm, Khoa Thú y , Ban chủ nhiệm Khoa Thú y, Ban Quản
lý đào tạo - Học Viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi
học tập và hoàn thành luận văn đúng tiến độ.
Luận văn này được thực hiện với sự hỗ trợ của lãnh đạo, cán bộ của Sở
Nông- Lâm Nghiệp và cán bộ chi cục thú y, phòng Nông- Lâm Nghiệp của các
Huyện Tỉnh Sê Kong CHDCND- Lào giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong qúa
trình thực hiện luận văn Tôi xin trân trọng cảm ơn sự hỗ trợ qúy bấu đó.
Trong thời gian nghiên cứu đề tài tôi cũng nhận được sự hỗ trợ và giúp đỡ
tận tình từ lãnh đạo đến cán bộ phòng thí nghiệm khám chứa bệnh gia súc gia
cầm Thành phố Pak Sê Tinh Chăm Pa Sắk CHDCND - Lào, Sự giúp đỡ nhiệt
tình của của lãnh đạo và cán bộ Thú y Thủ Đô Viêng Chăn CHDCND-Lào đã
tạo điều kiện thuận lợi và thời gian giúp đỡ tôi trong qúa trình nghiên cứu và
hoàn thành luận văn tôi xin trân thành cảm ơn.
Hà Nội, Ngày
tháng
Năm 2015
Tác giả luận văn
PHOUVONG BOUPHAPHANH
ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
Mục tiêu nghiên cứu
2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
3
1.1 Tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu bò trên thế giới và ở chdcnd lào
3
1.1.1 Tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu bò trên thế giới
3
1.1.2 Tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu bò ở CHDCND Lào
5
1.2 Bệnh tụ huyết trùng trâu bò
7
1.2.1 Vi khuẩn gây bệnh tụ huyết trùng trâu bò
7
1.2.2 Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh tụ huyết trùng trâu bò
iii
25
trâu bò ở tỉnh Sê Kong
25
2.2.3 Phân lập vi khuẩn Pasteurella multocida ở trâu, bò tại tỉnh
Sê Kong
25
2.2.4 Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tụ huyết trùng trâu, bò
nuôi tại tỉnh Sê Kong
26
2.3 Nguyên liệu
26
2.4 Phương pháp nghiên cứu
26
2.4.1 Phương pháp xác định ca bệnh
27
31
3.1.2 Tình hình chăn nuôi trâu bò, ở tỉnh Sê Kong
33
3.2 Tình hình bệnh và tiêm phòng vacxin tụ huyết trùng trâu, bò ở
tỉnh sê kong
33
3.2.1 Tình hình bệnh trên đàn trâu bò nuôi tại tỉnh Sê Kong
33
3.2.2 Tình hình bệnh tụ huyết trùng trên đàn trâu, bò nuôi tại tỉnh
Sê Kong
35
3.2.3 Tình hình tiêm phòng vacxin bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại
tỉnh Sê Kong năm 2011-2015
41
3.3 Phân lập vi khuẩn Pasteurella multocida ở trâu, bò nuôi tại tỉnh
sê kong
42
51
Kết luận
51
Đề nghị
52
TÀI LIỆU THAM KHẢO
53
PHỤ LỤC
56
v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ADN
Acid deoxyribonucleic
AGPT
Agar gel precipitation test
Mannheimia haemolytica
OIE
Office International des Epizooties
PCR
Polymerase chain reaction
P. multocida
Pasteurella multocida
pp
Payper
vi
DANH MỤC BẢNG
Số bảng
Tên bảng
Trang
Tình hình bệnh Tụ huyết trùng ở trâu nuôi tại tỉnh Sê Kong năm
2011 – 2015 theo lứa tuổi
3.5
38
Tình hình bệnh Tụ huyết trùng ở bò nuôi tại tỉnh Sê Kong năm
2011 – 2015 theo lứa tuổi
3.6
5
40
Tình hình tiêm phòng vacxin bệnh Tụ huyết trùng trâu bò tại tỉnh
Sê Kong từ năm 2011 đến 2015
42
3.7
Kết quả phân lập Pasteurella multocida ở trâu tại tỉnh Sê kong
43
3.8
3.13
Kết quả điều trị bệnh Tụ huyết trùng ở trâu tại tỉnh Sê Kong
50
3.14
Kết quả điều trị bệnh Tụ huyết trùng ở bò tại tỉnh Sê Kong
50
vii
DANH MỤC HÌNH
Số hình
Tên hình
Trang
1.1 Tình hình bệnh Tụ huyết trùng trâu bò ở Lào năm 2011 và 2015
6
3.1 Vị trí địa lý tỉnh Sê Kong
32
Đặt vấn đề
Bệnh tụ huyết trùng (Pasteurellosis) là môt bệnh truyền nhiễm cấp tính
gây bệnh cho nhiều loài gia súc, gia cầm. Trong đó có trâu, bò bị bệnh với
những biểu hiện sốt cao, mệt mỏi, khó thở, giảm ăn hoặc bỏ ăn, chướng
bụng... gây những thiệt hại đáng kể cho nền kinh tế nói chung và ngành nông
nghiệp nói riêng.
Chăn nuôi trâu, bò đang là môt ngành quan trọng trong nền nông nghiệp
Lào. Chăn nuôi trâu, bò hàng năm cung cấp một lượng sức kéo và lượng phân
bón cho trổng trọt, cung cấp rất lớn nguổn thực phẩm như: thịt, sữa có chất lượng
và giá trị dinh dưỡng cao cho xã hội tiêu dùng.
Chăn nuôi trâu, bò muốn phát triển tốt và cho hiệu quả kinh tế, ngoài
công tác giống, thức ăn, quản lý chăm sóc thì công tác phòng chống dịch bệnh
là rất quan trọng. Do đặc điểm của từng vùng, từng khu vực và từng địa
phương, do nhiều yếu tố và nguyên nhân khác nhau nên vẫn còn một số bệnh
truyền nhiễm xẩy ra như bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đã gây thiệt hại lớn về
kinh tế cho nhân dân.
Ở Lào, bệnh tụ huyết trùng trâu, bò đã được xác định có mặt ở hầu hết các
địa phương trong cả nước (Cục Thú y và Thủy sản, 2003). Chính vì vậy bệnh này
luôn được xác định là đối tượng nghiên cứu của ngành thú y trong những năm
qua, hiện tại và những năm tiếp theo.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh tụ huyết trùng và phân lập vi
khuẩn Pasteurella nhưng nó chỉ mang tính chất vùng, miền đại diện cho khu vực
chứ chưa đại diện chung cho toàn bộ được.
Do đặc điểm dịch tễ học của bệnh phức tạp, nguồn gieo rắc mầm bệnh là
động vật khoẻ mang trùng vẫn chưa được làm sáng tỏ, gặp điều kiện thuận lợi
bệnh phát ra ồ ạt hoặc phát ra lẻ tẻ theo từng địa phương. Bởi vậy việc nghiên
cứu tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu, bò trên cả nước và phân lập vi khuẩn
1
vi khuẩn.
Theo Luis Pasteur, người có nhiều đóng góp vào nghiên cứu phát hiện ra
loại vi khuẩn này, năm 1887 Trevisan đã đề nghị đặt tên cho vi khuẩn là
Pasteurella (De Alwis, 1992). Do Pasteurella gây bệnh cho nhiều loài gia súc,
gia cầm nên tên của vi khuẩn, theo những năm trước đây, được gắn liền với tên
của loài vật mà chúng gây bệnh. vi khuẩn gây bệnh phân lập từ bò được gọi tên
là Pasteurella boviseptica, từ lợn là Pasteurella suiseptica. Rosenbush and
Merchant (1939) đề nghị đặt tên cho vi khuẩn là Pasteurella multocida, và tên
này được gọi cho đến nay. Bệnh do Pasteurella multocida gây ra thường ở hai
thể chủ yếu nhiễm trùng máu - xuất huyết (Haemorrhagic Septicaemia - HS) và
viêm phổi ở bò (Bovine Pneumonia). Thể nhiễm trùng máu - xuất huyết thấy ở
trâu, bò các nước châu Á và châu Phi (Bain et al, 1982).
Từ năm 1887 đến nay bệnh đã được phát hiện ở nhiều nước trên thế giới
thuộc khắp các châu lục.
Châu Phi: Theo những báo cáo trước đây, tụ huyết trùng xẩy ra không lớn
bởi số lượng trâu, bò ít. Theo De Alwis (1999), bệnh tụ huyết trùng đã có ở vùng
Bắc Phi, Trung Phi, Đông châu Phi và cả Nam châu Phi. Những năm gần đây,
bệnh được phát hiện ở nhiều nước thuộc châu lục này. Tại Đông Phi, bệnh xuất
hiện ở Eritrea vào tháng 6/2009. Tại Nam Phi, bệnh xuất hiện ở South Africa vào
tháng 11/2011. Tại Tây Phi, bệnh xuất hiện ở Ghana, Niger và Sierra Leone vào
3
tháng 10/2010, tháng 12/2013 và tháng 12/2014. Bệnh cũng đã xuất hiện ở trâu
bò hoang dã tại Sierra Leone vào tháng 12/2014 (OIE, 2015a)
Châu Mỹ: bệnh xẩy ra ở bò rừng tại các công viên quốc gia trong các năm
1912, 1922, 1966, 1967; ở bò sữa năm 1969 và ở bò thịt vùng California năm
1993. Cùng năm 1993, ổ dịch tụ huyết trùng xẩy ra ở bò tại Canada. Bệnh xẩy ra
tại một số nước Nam Mỹ, nơi có mât độ trâu cao và các điều kiện tự nhiên tương
2005-2015
Bệnh tụ huyết trùng
Khu vực
Nước
Tây Á
Armenia
8/2010
Đông Nam Á
Malaysia
6/2012
Đông Âu
Azerbaijan
6/2014
Bắc Âu
Latvia
12/2012
Tây Phi
Sierra Leone
12/2014
Nam Phi
South Africa
11/2011
Trâu bò nuôi
Trâu bò hoang dã
2009
6/2014
12/2014
(Nguồn: OIE, 2015a
http://www.oie.int/wahis_2/public/wahid.php/Diseaseinformation/statuslist)
1.1.2. Tình hình bệnh tụ huyết trùng trâu bò ở CHDCND Lào
Bệnh tụ huyết trùng trên gia súc ở Lào được phát hiện từ những năm cuối
thế kỷ 20 bởi các nhà nghiên cứu người Ấn Độ. Misra R.P (1987) đã thông báo
về bệnh tụ huyết trùng trâu, bò ở các tỉnh miền Bắc, miền Trung và miền Nam
giai đoạn1979 - 1986. Bệnh xảy ra ở các tỉnh miền Bắc như: Siêng Khuang, Say
Nha Bu Ly, Luang Năm Tha, Luang Pha Bang các hàng năm trâu, bò chết trung
2015
Hình 1.1. Tình hình bệnh Tụ huyết trùng trâu bò ở Lào năm 2011 và 2015
(Nguồn: OIE Disease distribution map, 2015b)
6
Theo thông tin dịch bệnh từ OIE, lần gần nhất có báo cáo về bệnh tụ huyết
trùng ở Lào là vào 6 tháng đầu năm 2011. Năm 2015, mặc dù chưa thấy báo cáo
về tình hình bệnh tụ huyết trùng ở Lào, nhưng dữ liệu bản đồ cho thấy các nước
Việt Nam, Campuchia và Thái Lan (chung biên giới với Lào) đều có bệnh Tụ
huyết trùng (OIE, 2015b). Như vậy chắc chắn bệnh tụ huyết trùng vẫn đang lưu
hành ở đàn trâu bò nuôi tại Lào.
1.2. Bệnh tụ huyết trùng trâu bò
Bệnh tụ huyết trùng trâu bò (Pasteurellosis bovum) là một bệnh truyền
nhiễm cấp tính ở trâu, bò do cầu trực khuẩn Pasteurella multocida (P. multocida)
thuộc các typ A, B, D, E gây ra. Các biểu hiện đặc trưng: tụ huyết và xuất huyết
ở những vùng đặc biệt trên cơ thể, vi khuẩn thường xâm nhập vào máu gây bại
huyết; vì vậy tên bệnh còn được gọi là bệnh bại huyết - xuất huyết
(Haemorrhagic septicaemia - HS) ở trâu, bò.
1.2.1. Vi khuẩn gây bệnh tụ huyết trùng trâu bò
1.2.1.1. Phân loại
Họ Pasteurellaceae gồm 15 chi, 7 chi trong số đó là những vi khuẩn rất
quan trọng đối với thú y: Actinobacillus, Avibacterium, Haemophilus,
Histophilus, Mannheimia, Pasteurella và Bibersteinia. (Quinn và cộng sự, 2011).
Những chi họ này có một số đặc điểm chung, một vài vi khuẩn được tái phân loại
dựa vào những nghiên cứu giải trình tự gen 16s RNA. Pasteurella trehalosi (
trước đây được gọi là Pasteurella haemolytica biotype T) đã được xếp loại lại
thành Bibersteinia trehalosi (Blackall và cộng sự, 2007). Những chủng vi khuẩn
P. haemolytica được phân lập trước đây và từng cho là thuộc nhóm biotype A thì
thấy có sự lưu hành của type B (Dziva et al., 2008).
Quinn và cộng sự (2011) đã tổng hợp và phân loại một số vi khuẩn thuộc
họ Pasteurellaceae gây bệnh cho trâu bò. Trong đó chủ yếu là P. multocida type
A, B và E gây bệnh cho trâu bò nhưng type A liên quan nhiều với bệnh viêm
phổi địa phương, Mannheimia haemolytica gây bệnh cho trâu bò ở dạng viêm
phổi. Ngoài ra có một số khác cũng gây bệnh cho trâu bò nhưng hiếm gặp như:
M. granulomatis và P. lymphangitidis.
1.2.1.2. Đặc điểm hình thái
P.multocida là vi khuẩn gram âm, trong môi trường nuôi cấy mới và tổ
chức động vật vi khuẩn bắt màu lưỡng cực đặc trưng khi nhuộm với Leishman
hoặc xanh methylene. Nếu nuôi cấy trong môi trường nhân tạo thì ít thấy tính
chất này. Manniger (1919) giải thích tính lưỡng cực của vi khuẩn là do tế bào vi
khuẩn đang ở giai đoạn sinh sản, trước khi phân chia các tế bào phát triển trong
động vật hay trong môi trường nuôi cấy; để lâu vi khuẩn tăng lên về kích thước,
nguyên sinh chất tập trung ở hai đầu tế bào nên khi nhuộm thấy dạng khuẩn
lưỡng cực, phần thân tế bào không bắt màu.
Vi khuẩn P.multocida là loài hiếu khí hay yếm khí tuỳ tiên có dạng cầu
trực khuẩn bắt màu gram âm và có kích thước nhỏ (0,2 x 1-2 µm). Vi khuẩn có
giáp mô không sinh nha bào và bắt màu lưỡng cực, vi khuẩn có thể đứng riêng lẻ
hoặc đứng thành đôi. Theo Smith (1959) kích thước và hình thái của vi khuẩn có
sự thay đổi phụ thuộc vào nguổn gốc của chúng.
Vi khuẩn phân lập từ bò có kích thước đồng nhất 0,5 µm - 1,2 µm. Carter
(1967) cho rằng tính đa dạng của vi khuẩn liên quan đến điều kiện nuôi cấy thiếu
oxy. Vi khuẩn thường đổng nhất trong máu đông vật, trong môi trường nuôi cấy
vi khuẩn thường có nhiều hình dạng như hình trứng, hình cầu.
Theo Rosenbush và Merchant (1939) khi nuôi cấy vi khuẩn trong môi
trường có thêm cacbon vi khuẩn thường mọc thành chuỗi, hình thái của vi khuẩn
8
Neomycine có tác dụng ngăn chặn sự phát triển của P. pseudotubecculosis để vi
9
khuẩn P.multocida phát triển.
Theo Namioka và Murata (1961b) môi trường để phân lập, nuôi giữ và thu
hoạch kháng nguyên, môi trường giữ giống tươi và đông khô dùng cho vi khuẩn
P.multocida như sau: Môi trường phân lập, môi trường thạch có thêm 5% - 10%
huyết thanh thỏ hoặc ngựa.
Môi trường nuôi cấy và thu hoạch kháng nguyên: môi trường YPC thạch,
môi trường này giúp phục hổi những khuẩn lạc thoái hoá và thu được những
kháng nguyên có chất lượng dùng trong các phản ứng sinh hoá và định type vi
khuẩn. Khi giữ giống tươi có thể dùng môi trường này đậy nút kín ở 40C giữ
được 2 - 3 tuần.
Để đông khô giữ giống: dùng môi trường YPC không cho thạch mà cho
thêm 1,0 gam sucarose 1,0 gam sodium glutamic, vi khuẩn ở dạng đông khô có
thể giữ được10 năm trong điều kiên 40C.
Trong quá trình nuôi cấy vi khuẩn ở môi trường lỏng, người ta có thể
dùng phương pháp sục khí, để tăng cường sự phát triển của vi khuẩn
P.multocida. Khi so sánh 2 phương pháp nuôi: sục khí và cấy tĩnh thấy số lượng
vi khuẩn tăng lên gấp 20 lần ở cùng loại môi trường, người ta áp dụng phương
pháp nuôi cấy này để tăng số lượng vi khuẩn trong 1ml canh trùng và để rút ngắn
thời gian nuôi cấy trong sản xuất vacxin phòng bênh.
Theo Carter (1952), trong môi trường nước thịt, vi khuẩn P.multocida
mọc tốt tạo mùi tanh đặc trưng, mùi tanh đặc trưng này thể hiên rõ nhất ở pha
phát triển nhanh. Sau khi nuôi cấy lâu, mùi tanh này mất dần.
Nuôi cấy trên môi trường thạch thường ở 370C sau 24 giờ vi khuẩn
P.multocida phát triển thành các dạng khuẩn lạc sau:
- Dạng S (Smooth) khuẩn lạc có mặt vổng trơn bóng loáng, dung quang
Theo Nguyễn Như Thanh (2001), độc lực của vi khuẩn giảm dần từ dạng
S đến dạng R. Theo Carter (1952) và Rimler (1992) khuẩn lạc của vi khuẩn P.
multocida tập trung ở 2 dạng chính: khuẩn lạc có dung quang sắc cầu vồng và
khuẩn lạc có dung quang màu xanh. Dung quang của khuẩn lạc liên quan đến vỏ
nhầy của vi khuẩn, vi khuẩn có khuẩn lạc dung quang sắc cầu vồng đứng riêng lẻ
hoặc từng đôi có vỏ nhầy và rất độc, thường gây bệnh thể cấp tính, khuẩn lạc có
dung quang màu xanh kém độc lực hơn dạng S, thường gặp ở những gia súc bị
bênh theo tính chất vùng dịch địa phương (Rimler and Rohoades, 1987).
Theo Hedleston (1996), những khuẩn lạc của vi khuẩn mới phân lập có
dung quang không đồng đều và có xu hướng dính vào nhau. Dung quang của
khuẩn lạc cũng thay đổi khi cấy chuyển nhiều lần qua môi trường dinh dưỡng
hoặc tiêm truyền qua động vật thí nghiêm khuẩn lạc có thể chuyển từ dạng S
sang dạng M hoặc dạng R và ngược lại. Rosenbush and Merchant (1939) cho
rằng khi cấy vi khuẩn P. multocida trên thạch máu hay tiêm truyền qua động vật
11
thí nghiêm, khuẩn lạc của vi khuẩn được tăng cường độ dung quang. Tác giả giải
thích rằng hiên tượng dung quang của khuẩn lạc vi khuẩn có liên quan đến tính
chất của một số hợp chất có khả năng hấp thụ những tia ánh sáng nhất định có
trong vi khuẩn. Vi khuẩn nuôi cấy lâu ngày hoặc cấy chuyển nhiều lần thì khuẩn
lạc có sự thay đổi.
1.2.1.4. Đặc tính sinh vật hoá học
Có nhiều công trình nghiên cứu đặc tính sinh hoá của vi khuẩn
P.multocida và dựa vào các đặc tính và các phản ứng sinh hoá này của vi khuẩn
P.multocida để xác định và phân biệt với các loài vi khuẩn khác và chủng vi
khuẩn có nguồn gốc từ các loài động vật khác nhau.
Carter (1955) đã cho rằng các chủng P.multocida type A phân giải
Arabinose và Dullitol, không phân giải Xylose. Các type B và type C phân giải
từng loại vi khuẩn. Dựa trên sự khác nhau về tính chất sinh hoá, để ứng dụng vào
việc chẩn đoán phân lập vi khuẩn, những phản ứng sinh hoá này của vi khuẩn
P.multocida được xác định để phân biệt với các loài vi khuẩn khác, dùng để xác
định các chủng vi khuẩn từ các loài động vật khác nhau và dùng để phân biệt các
loài vi khuẩn khác thuộc giống Pasteurella.
Quinn và cộng sự (2011) đã đưa ra bảng so sánh một số đặc tính sinh vật
hóa học của những chủng Pasteurella và Mannheimia gây bệnh chính.
Bảng 1.2. Phân biệt một số Pasteurella và Mannheimia gây bệnh chính
M.
haemolytica
Đặc điểm
Pasteurella species
Dung huyết máu cừu
Mọc trên MacConkey
Mùi đặc trưng
+
+
-
P.
P.
B. trehalosi
multocida
pneumotropica
+
+
+
+
v
+
+
+
v
+
+
Lên men L-arabinose
Lên men Maltose
Lên men D-xylose
+
+
v
v
+
-
v
v
Ghi chú:
tụ huyết trùng trâu, bò cũng gặp các chủng thuộc typ B.
* Giáp mô của vi khuẩn Pasteurella multocida
Nhiều tác giả nghiên cứu độc lực của vi khuẩn P.multocida đã khẳng định
độc lực của vi khuẩn P.multocida liên quan chặt chẽ với giáp mô của vi khuẩn.
Vi khuẩn P.multocida sản sinh trong điều kiện nhất định sẽ sinh ra giáp mô bao
quanh tế bào. Manninger (1919) đã xác định những vi khuẩn có giáp mô thì thấy
có độc lực và những vi khuẩn không có giáp mô thì thấy không có độc lực. Theo
Caster (1967), những vi khuẩn P.multocida phân lập được từ động vật mắc bệnh
14
cấp tính sẽ thấy có giáp mô và có độc lực. Khi nuôi cấy vi khuẩn này lâu trong
môi trường nhân tạo, giáp mô của vi khuẩn sẽ mất và vi khuẩn không còn độc
lực. Nhưng ta lại cấy tiếp vi khuẩn mất giáp mô này trong môi trường cho thêm
máu hay tiêm truyền qua động vật thí nghiệm thì vi khuẩn P.multocida tái tạo lại
giáp mô và thể hiện độc lực. Caster còn cho rằng khi nuôi cấy vi khuẩn ở 370C
trong môi trường nhân tạo qua một đêm thấy vi khuẩn phát triển giáp mô đầy đủ,
sau đó mất dần đi. Điều này chứng tỏ giáp mô chỉ tổn tại ở những vi khuẩn non.
Theo tác giả thì khả năng xâm nhập và sự phát triển của vi khuẩn ở trong
ký chủ là nhờ sự có mặt của giáp mô. Một chủng mất khả năng tái tạo giáp mô
cũng sẽ không còn độc lực. Nhiều chủng khi phân lập có giáp mô rõ ràng nhưng
độc lực lại ít, vì độc lực của vi khuẩn có thể phụ thuộc vào cấu trúc hoá học của
giáp mô hơn là sự có mặt của chúng. Có thể nhuộm được lớp vỏ giáp mô của vi
khuẩn bằng phương pháp nhuộm Hiss và phương pháp nhuộm Anthony.
1.2.2. Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh tụ huyết trùng trâu bò
1.2.2.1. Loài vật và lứa tuổi mắc bệnh
Trong thiên nhiên: trâu, bò cảm thụ mạnh nhất. Trâu, bò rừng cũng mắc
bệnh. Bệnh từ trâu, bò có thể lây sang ngựa, chó và lợn vì vậy trong ổ dịch tụ
huyết trùng trâu, bò cần chú ý phòng bệnh cho các loài động vật này. Bê, nghé