Header Page 1 of 258.
LỜI CÁM ƠN
Trong quá trình học tập em đã nhận được sự dạy bảo, giúp đỡ và động viên hết
sức tận tình của các thầy cô, gia đình và bạn bè.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn cô giáo,
PGS.TS. Trần Thị Thanh Hương – Phó trưởng Bộ môn Y đức và Y xã hội học,
Viện Đào tạo Y học Dự phòng và Y tế Công cộng, cô đã tận tình hướng dẫn và chỉ
bảo cặn kẽ cho em trong suốt quá trình học tập và thực hiện khóa luận này.
Em xin gửi lời cảm ơn trân trọng tới GS.TS Phạm Thị Minh Đức - Trưởng
khoa Khoa học sức khỏe Trường ĐH Thăng Long đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ em
trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa học.
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Đại học
Trường Đại học Thăng Long Hà Nội đã tạo môi trường học tập thuận lợi cho em
trong suốt 4 năm dưới mái trường.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô trong bộ môn Điều Dưỡng Trường
ĐH Thăng Long đã tận tình chỉ bảo, dìu dắt, trang bị kiến thức và đạo đức nghề
nghiệp của người thầy thuốc cũng như giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập tại
trường.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban giám hiệu, Phòng đào tạo trường ĐH
Thăng Long, Ban Lãnh đạo khoa Thận Nhân Tạo Bệnh Viện Bạch Mai và bệnh
nhân khoa Thận nhân tạo Bệnh Viện Bạch Mai đã tạo điều kiện và giúp đỡ em hoàn
thành khóa luận này.
Và cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới gia đình, người thân
và bạn bè đã luôn ở bên cạnh động viên, khích lệ và hỗ trợ em để em không ngừng
học tập và phần đấu trưởng thành như ngày hôm nay.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 05 tháng 11 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Quỳnh Vân
được công bố ở trên bất kỳ tài liệu nào.
Hà Nội, ngày 05 tháng 11 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Quỳnh Vân
Footer Page 2 of 258.
Thang Long University Library
Header Page 3 of 258.
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BN
: Bệnh nhân
ĐTĐ
: Đái tháo đường
FAV
: Fistula arm venous
LMCK
: Lọc máu chu kỳ
: Giá trị nhỏ nhất
Max
: Giá trị lớn nhất
OR
: Tỷ suất chênh
RL
: Rối loạn
SD
: Độ lệch chuẩn
WHO
: Tổ chức Y tế Thế giới
Footer Page 3 of 258.
Header Page 4 of 258.
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ.............................................................................................................1
Footer Page 4 of 258.
Thang Long University Library
Header Page 5 of 258.
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .....................................................................21
3.1. Đặc điểm chung .............................................................................................21
3.2. Các yếu tố xã hội ............................................................................................23
3.3. Tình trạng lo âu trầm cảm của đối tượng nghiên cứu ....................................23
3.3.1. Điểm lo âu, trầm cảm của bệnh nhân .......................................................23
3.3.2. Tỷ lệ lo âu, trầm cảm của đối tượng nghiên cứu ......................................24
3.3.3. Tỷ lệ lo âu, trầm cảm của bệnh nhân .......................................................25
3.4. Một số yếu tố liên quan tới tình trạng lo âu của bệnh nhân ...........................26
3.4.1. Tình trạng lo âu liên quan nhân khẩu học ...............................................26
3.4.2. Tình trạng lo âu liên quan đến bệnh ........................................................27
3.4.3. Tình trạng lo âu liên quan yếu tố xã hội ..................................................28
3.5. Một số yếu tố liên quan đến tình trạng trầm cảm của bệnh nhân ...................29
3.5.1. Tình trạng trầm cảm liên quan đến nhân khẩu học..................................29
3.5.2. Tình trạng trầm cảm liên quan đến bệnh .................................................30
3.5.3. Tình trạng trầm cảm liên quan yếu tố xã hội ...........................................31
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN ........................................................................................32
4.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu. ...................................................32
4.2. Tình trạng lo âu và trầm cảm của bệnh nhân theo thang điểm HADS. ..........33
4.2.1. Điểm số lo âu và trầm cảm theo thang điểm HADS ................................33
4.2.2. Tình trạng lo âu và trầm cảm trên bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối
lọc máu chu kỳ .........................................................................................33
4.3. Các yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu và trầm cảm của bệnh nhân. .........34
4.4. Hạn chế của nghiên cứu ..................................................................................38
Biểu đồ 3.1. Mối tương quan giữa điểm lo âu và điểm trầm cảm tính theo thang đo HADS ...24
Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ lo âu và trầm cảm của đối tượng nghiên cứu ..............................25
Biểu đồ 3.3. Tỷ lệ lo âu và trầm cảm của bệnh nhân ................................................25
Footer Page 7 of 258.
Header Page 8 of 258.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy thận mạn (STM) là hội chứng lâm sàng và sinh hóa tiến triển qua nhiều năm
tháng, trong đó chức năng thận giảm dần tương ứng với số lượng nephron của thận
bị tổn thương. Khi chức năng thận giảm tới ngưỡng nhất định sẽ gây ra những rối
loạn nội môi: ứ đọng các độc như ure, creatinin, mất cân bằng nước điện giải, rối
loạn cân bằng kiềm - toan và rối loạn các chức năng nội tiết của thận. Suy thận mạn
là một quá trình tiến triển và hậu quả cuối cùng là suy thận giai đoạn cuối cần đòi
hỏi điều trị thay thế chức năng thận.
Quá trình tiến triển từ suy thận mạn đến suy thận giai đoạn cuối trung bình là
10 năm. Quá trình này có thể nhanh hay kéo dài còn tùy thuộc vào nguyên nhân suy
thận cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến chức năng thận.
Số lượng bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối cần điều trị thay thế chức năng
thận trên thế giới rất lớn và không ngừng gia tăng. Tại Châu Âu, năm 1990 là 79,4
bệnh nhân chẩn đoán mới suy thận giai đoạn cuối/triệu dân và tăng 47% vào năm
1998, 117/triệu dân [35], tại Australia và New Zealand, năm 2001, tỷ lệ này lần lượt
là 92 và 107/triệu dân, và tỷ lệ này gần như tăng gấp đôi mỗi năm tại Australia [30].
Trong báo cáo từ hệ thống dữ liệu quốc gia Mỹ, số lượng bệnh nhân tham gia điều
trị thay thế năm 1973 là 10.000 và tăng lên 86.354 năm 1983 và đạt tới 506.206 vào
ngày 31/12/2006 [37]. Những bệnh nhân cần điều trị thay thế trên đều có nhu cầu
lựa chọn phương pháp điều trị thay thế thận khác nhau phù hợp với hoàn cảnh và
điều kiện của mình. Hiện tại, lọc máu chu kỳ (LMCK) có xu thế được lựa chọn và
cứu tiếp cận về vấn đề này còn nhiều hạn chế. Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài:
“Lo âu, trầm cảm của bệnh nhân lọc máu chu kỳ tại khoa Thận nhân tạo Bệnh
viện Bạch Mai năm 2015 và một số yếu tố liên quan” với 2 mục tiêu sau:
1. Mô tả tình trạng lo âu, trầm cảm của người bệnh lọc máu chu kỳ tại khoa
Thận nhân tạo bệnh viện Bạch Mai năm 2015.
2. Mô tả một số yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu, trầm cảm của người
bệnh lọc máu chu kỳ tại khoa Thận nhân tạo Bệnh viện Bạch Mai.
2
Footer Page 9 of 258.
Header Page 10 of 258.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Sơ lược về giải phẫu và sinh lý thận
1.1.1. Giải phẫu:
Bình thường cơ thể mỗi người có 2 quả thận hình hạt đậu nằm dọc hai bên
cột sống, sau phúc mạc, ở khoảng giữa đốt sống ngực 12 đến đốt sống thắt lưng 3.
Thận nằm sát thành sau bụng xung quanh có đám mỡ quanh thận bao phủ, phía
ngoài được bao bọc bởi lá cân quanh thận. Thận ở người bình thường dài khoảng
10-12 cm, rộng 5-6 cm, dày 3cm.
Hình 1.1. Giải phẫu, sinh lý chức năng thận
Mỗi thận bao gồm bao thận có thể bóc tách khỏi nhu mô thận. Nhu mô thận
gồm phần tủy ở trong và sẫm màu, phần vỏ ở ngoài sát bao thận, nhạt màu hơn. Tủy
thận có hình cánh quạt được cấu thành bởi các quai Henle và ống góp, tạo thành 1218 khối hình nón gọi là tháp Malpighi. Đáy tháp nằm ở ranh giới giữa vỏ thận và
tủy thận, đỉnh tháp hướng vào bể thận tạo thành núm thận. Mỗi núm thận tạo thành
- Đào thải các chất cặn bã có hại hoặc không cần thiết của quá trình chuyển
hóa thông qua cơ chế lọc và tái hấp thu.
- Điều hòa huyết áp thông qua hệ thống Renin-Angiotensin-Aldosteron, hệ
thống Prostagladin, Kallicrein-Kinin.
- Chức năng nội tiết: điều hòa khối lượng hồng cầu thông qua sản xuất
Erythropoietin, điều hòa chuyển hóa Calci thông qua sản xuất 1,25 dihydroxy
cholecalciferon.
4
Footer Page 11 of 258.
Header Page 12 of 258.
- Điều hòa các chuyển hóa khác thông qua giáng hóa một số chất: insulin,
glucagon, parathyroid, calcitonin, β2microglobulin .
1.2. Bệnh học suy thận mạn tính:
1.2.1. Khái niệm :
Suy thận mạn là hậu quả cuối cùng của các bệnh thận, tiết niệu mạn tính làm
chức năng thận giảm dần tương ứng với số lượng nephron của thận bị tổn thương và
mất chức năng không hồi phục. Khi mức lọc cầu thận giảm dưới 50% (60ml/phút)
so với mức bình thường (120ml/phút) thì được xem là suy thận mạn.
Nguyên nhân suy thận mạn tính có nhiều loại khác nhau, thường do một trong
số các nguyên nhân bao gồm bệnh cầu thận, bệnh ống kẽ thận, bệnh mạch máu thận,
bệnh bẩm sinh và di truyền…[7],[11].
1.2.2. Phân chia giai đoạn suy thận mạn tính:
Suy thận mạn tính tiến triển theo thời gian, các đơn vị chức năng thận bị phá
hủy dần làm giảm mức lọc cầu thận, tích lũy các độc chất và gây ra các biến chứng
của suy thận. Nguyễn Văn Xang chia suy thận mạn thành 4 giai đoạn dựa vào hệ số
IIIa
20 – 11
3,6 – 6,0
300 - 499
IIIb
10 – 5
6,1 – 10
500 - 899
IV
10
≥ 900
Creatinin máu
* Nguồn theo Nguyễn Văn Xang (2008) [12]
5
bệnh kết hợp, các yếu tố
≥ 90
bệnh thận.
Tổn thương thận làm
giảm nhẹ mức lọc cầu
Kiểm soát các yếu tố nguy
60 - 90
thận
3
4
Giảm mức lọc cầu
thận mức độ vừa
Giảm nghiêm trọng
mức lọc cầu thận
nguy cơ tim mạch, làm
chậm quá trình tiến triển
tăng
2
Chỉ định điều trị
6
Footer Page 13 of 258.
Header Page 14 of 258.
- Tăng huyết áp chiếm tỉ lệ cao, là nguyên nhân suy thận hoặc hậu quả của suy
thận mạn.
- Hội chứng ure máu cao với các biểu hiện:
o Chán ăn, buồn nôn, nôn.
o Ngứa ngoài da, chuột rút.
o Thần kinh: nhức đầu, kích thích hoặc hôn mê.
o Hô hấp: khó thở, rối loạn nhịp thở.
o Tim mạch: mạch nhanh, có thể có tiếng cọ màng tim, hoặc rối loạn nhịp.
o Xuất huyết ngoài da hoặc nội tạng.
- Suy tim: thường ở giai đoạn muộn.
Cận lâm sàng:
- Công thức máu : thiếu máu.
- Ure, Creatinin máu tăng cao.
- Rối loạn điện giải, kiềm toan.
- Protein niệu dương tính.
- Ngoài ra còn một số xét nghiệm khác để tìm nguyên nhân suy thận như :
Xquang, siêu âm hệ tiết niệu, CT-Scanner ổ bụng,…
1.2.4. Điều trị suy thận mạn tính :
Lựa chọn phương pháp điều trị suy thận mạn tính căn cứ vào mức độ suy thận
của bệnh nhân. Theo Nguyễn Văn Xang, chỉ định điều trị nội khoa chỉ áp dụng cho
các bệnh nhân suy thận mạn tính khi mức lọc cầu thận còn > 10 ml/phút [32]. Tuy
nhiên, theo khuyến cáo The National Kidney Foundation’s Kidney Disease
thể để lấy đi các sản phẩm cặn bã và nước dư thừa, dựa trên hai cơ chế cơ bản là
khuyếch tán và siêu lọc.
Ghép thận là phương pháp điều trị thay thế thận hoàn hảo nhất. Thận ghép có
thể thay thế cả chức năng điều hoà nội môi và chức năng nội tiết của thận suy. Bệnh
nhân được ghép thận có sức khoẻ và cuộc sống gần hoàn toàn bình thường, có thể
trở lại với công việc thường ngày.
8
Footer Page 15 of 258.
Header Page 16 of 258.
1.3. Rối loạn lo âu, trầm cảm
1.3.1. Lo âu
1.3.1.1. Đặc điểm của lo âu
Lo âu là một trạng thái căng thẳng cảm xúc lan tỏa, hết sức khó chịu nhưng
thường mơ hồ, bâng quơ kèm theo nhiều triệu chứng cơ thể như cảm giác trống
rỗng ở thượng vị, siết chặt ở ngực, hồi hộp vã mồ hôi, đau đầu, run, khô miệng đau
cơ, kèm sự bứt rứt bất an đứng ngồi không yên [13]. Theo U.Baumann, lo là một
hiện tượng phản ứng cảm xúc tự nhiên tất yếu của con người trước những khó khăn,
thử thách đe dọa của tự nhiên, xã hội mà con người phải tìm ra các giải pháp để
vượt qua, vươn tới, tồn tại [9].
Lo âu có hai thành phần chính: Các biểu hiện báo trước của cảm giác cơ thể
(khô miệng, đánh trống ngực…) và trải nghiệm cảm giác khiếp sợ. Lo âu cũng ảnh
hưởng lên tư duy, tri giác và học tập. Có sự liên quan giữa lo âu và hoạt động (trí óc
và cơ thể). Lúc ban đầu, khi lo âu vừa mới được khuấy động lên thì hoạt động được
cải thiện tốt lên: đó là thời kỳ hoạt bát, và khi lo âu trở nên quá mức làm hao tốn
nhiều năng lượng thì chuyển sang thời kỳ suy yếu, làm giảm khả năng của các động
xem xét trước đám đông.
- Rối loạn căng thẳng sau sang chấn: Bệnh nhân có các giấc mơ lặp đi lặp lại
về các sự kiện gây sang chấn, kéo dài ít nhất một tháng.
- Rối loạn hoảng sợ: Bệnh nhân có các cơn hoảng loạn đột ngột, lặp đi lặp lại
kéo dài một vài tháng.
- Chứng sợ khoảng trống: Bệnh nhân luôn sợ và tránh né các nơi và tình
huống khó tảu thoát khi bị tấn công.
- Rối loạn lo âu toàn thể: Lo âu quá mức, xuất hiện hầu như mọi ngày trong 6 tháng.
- Rối loạn ám ảnh- cưỡng bức: Bệnh nhân có các suy nghĩ ám ảnh (không loại
bỏ đi được) như nghi bệnh, sợ bẩn dẫn đến hành vi cưỡng bức (lặp đi lặp lại) như
rửa tay, kiểm tra đi kiểm tra lại… [13].
1.2.1.2. Biểu hiện lâm sàng
Các biểu hiện của lo âu thường rất đa dạng phức tạp, có lúc xuất hiện một
cách tự phát không rõ nguyên nhân, hoàn cảnh rõ rệt. Các triệu chứng thường rất
thay đổi, nhưng phổ biến là bệnh nhân cảm thấy sợ hãi, lo lắng về bất hạnh tương
lai, dễ cáu, khó tập trung tư tưởng, căng thẳng vận động, bồn chồn đứng ngồi không
yên, đau căng đầu, đầu óc trống rỗng, run rẩy, không có khả năng thư giãn, hoạt
động quá mức thần kinh tự trị như vã mồ hôi, mạch nhanh hoặc thở gấp, hồi hộp,
đánh trống ngực, khó chịu vùng thượng vị, chóng mặt, khô mồm [22], [36].
1.3.2. Trầm cảm
1.3.2.1. Đặc điểm của trầm cảm
Trầm cảm là một rối loạn thuộc nhóm rối loạn khí sắc thể hiện sự ức chế của
cảm xúc, tư duy và vận động [10], [13]. Theo ICD-10 [39], một giai đoạn trầm cảm
điển hình gồm các triệu chứng chính như khí sắc trầm, mất mọi quan tâm thích thú,
10
Footer Page 17 of 258.
Header Page 18 of 258.
- Cảm giác không đáng giá hoặc cảm giác có tội không đúng hoặc quá mức
- Giảm khả năng suy nghĩ hoặc tập trung bất định
11
Footer Page 18 of 258.
Thang Long University Library
Header Page 19 of 258.
- Ý tưởng tái diễn về cái chết hoặc tự tử [39].
Theo phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ 10 (ICD-10), sự hỗn hợp các triệu
chứng là phổ biến, trầm cảm cùng tồn tại với lo âu là thường gặp nhất [39].
1.3.3. Một số nghiên cứu về lo âu trầm cảm trên bệnh nhân mạn tính
Trong một nghiên cứu của E. Frick, M. Tyroller và M. Panzer (2007) về vấn
đề lo âu trầm cảm trên bệnh nhân ung thư điều trị xạ trị, tỷ lệ lo âu được báo cáo là
28,6%, trong khi đó tỷ lệ trầm cảm là 25,5 %. Nghiên cứu đã sử dụng công cụ đánh
giá Hospital Axiety and Depression Scale (HADS) [40].
L.J. Mackenzie và cộng sự (2013) đã tiến hành nghiên cứu: Đau khổ tâm lý
trên bệnh nhân ung thư trải qua điều trị xạ trị. Nghiên cứu này đã cho thấy tỷ lệ lo
âu thực sự là 15% (95%CI 11%-18%) và 5,7% (95% CI 3,6%-7,9%) cho trầm cảm
thực sự. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những bệnh nhân được chẩn đoán ung thư
tuyến tiền liệt có biểu hiện lo âu thấp hơn so với những người mắc ung thư tuyến
vú, và những bệnh nhân từ 70 tuổi trở lên có tỷ lệ thấp hơn đáng kể về sự hiện diện
của lo âu so với nhóm tuổi từ 18-49 tuổi. Với khả năng có sự biểu hiện của trầm
cảm giữa các nhóm trong phân tích hồi quy đa biến, nhóm bệnh nhân được chẩn
đoán những loại ung thư phổ biến khác (bao gồm ung thư đầu và cổ, phổi, đại trực
tràng, da melanoma) cao gấp 3,4 lần nhóm bệnh nhân ung thư vú. Trong phân tích
4,2 và tỷ lệ lo âu là 12,1% ; điểm trầm cảm trung bình của tất cả các bệnh nhân là
4,0 ± 3,8 và tỷ lệ trầm cảm là 8,4% [35].
Nghiên cứu của S.M. Sellick và A.D. Edwardson (2007) cho thấy với lo âu, nữ
giới có tỷ lệ cao hơn hẳn nam giới về tình trạng lo âu (23,7% và 13,7%) [33].
Nghiên cứu của S. Pascoe, S. Edelman và A.Kidman (2000) đã chỉ ra rằng có
tỷ lệ cao hơn đáng kể về lo âu ở nữ so với nam (p=0,045), tuy nhiên không có sự
khác biệt này ở tỷ lệ trầm cảm (p>0,05) [34].
1.3.4. Các thang đo đánh giá tình trạng lo âu, trầm cảm ở bệnh nhân
Có nhiều thang điểm trắc nghiệm để đánh giá các mức độ rối loạn tâm lý ở
bệnh nhân, trong đó các trắc nghiệm của Beck và Zung, thường được sử dụng đặc
trưng trên các bệnh nhân rối loạn tâm thần:
Thang tự đánh giá lo âu của Zung (Self Rating Anxiety Scale): do W.W.
Zung (1971) đề xuất, lấy thông tin trực tiếp từ người bệnh, là một test khách quan,
định lượng hóa và chuẩn hóa, sử dụng nhanh, được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)
thừa nhận là một test đánh giá trạng thái lo âu. Test gồm 20 câu hỏi dành cho người
bệnh tự đánh giá, đánh số thứ tự theo cột dọc từ 1 đến 20, cột ngang đánh giá 4 mức
tần suất xuất hiện triệu chứng theo thời gian:
1 điểm: Không có hoặc ít thời gian
2 điểm: Đôi khi
13
Footer Page 20 of 258.
Thang Long University Library
Header Page 21 of 258.
3 điểm: Phần lớn thời gian
11 trở lên chỉ ra sự có mặt của một rối loạn lo âu hay trầm cảm thực sự, khoảng
điểm từ 8 đến 10 được coi như một gợi ý có thể có triệu chứng của lo âu hay trầm
cảm, từ 0 đến 7 điểm là bình thường [14].
14
Footer Page 21 of 258.
Header Page 22 of 258.
Theo I. Bjelland và cộng sự (2002), ngưỡng điểm 11 được áp dụng rộng rãi ở
những nghiên cứu về bệnh mạn tính để chỉ ra sự có mặt của tình trạng lo âu hay
trầm cảm với độ nhạy trong khoảng 0,7 – 0,95 và độ đặc hiệu 0,83 [24]. Bên cạnh
đó, thang đo này có ưu điểm ngắn gọn, dễ hiểu, dễ sử dụng, đánh giá đồng thời hai
loại rối loạn tâm lý lo âu và trầm cảm, bệnh nhân có thể tự đọc và trả lời các câu hỏi
theo hướng dẫn, hoặc trả lời gián tiếp qua phỏng vấn của người nghiên cứu trong
vòng vài phút. Đồng thời S. Moorey và các cộng sự (1991) đã xác nhận rằng HADS
là một công cụ hữu ích cho sự đánh giá lo âu, trầm cảm trên bệnh nhân bệnh mạn
tính[23]. Thang đo này được quản lý và phân phối bởi một nhà xuất bản – “ Quỹ
quốc gia về nghiên cứu giáo dục” tại Anh – cung cấp quy mô, biểu đồ ghi điểm số,
hướng dẫn sử dụng với các bản dịch có sẵn cho những ngôn ngữ Ả rập, Nhật Bản,
Trung Quốc, Urdu… và tất cả những ngôn ngữ khác nếu liên hệ với nhà xuất bản
[31]. Tại Việt Nam, thang đo này đãđược mua bản quyền và dịch sang tiếng Việt
bởi Khoa nghiên cứu y học hành vi thuộc Trường Đại học New South Well, Úc.
15
Footer Page 22 of 258.
Footer Page 23 of 258.
Header Page 24 of 258.
2.5. Công cụ và kỹ thuật thu thập thông tin
2.5.1 Công cụ thu thập thông tin
Thông tin thu thập qua bộ câu hỏi có sẵn được thiết kế dựa trên nhóm biến số
chỉ số và thang đo lường về sự lo âu và trầm cảm tại bệnh viện (Hospital Anxiety
and Depression – HADS). Thang đo này gồm có 14 câu trong đó 7 câu đánh giá về
lo âu và 7 câu đánh giá về trầm cảm. Các câu này tập trung vào các triệu chứng chủ
yếu liên quan tới lo âu, trầm cảm. Bệnh nhân cần cung cấp các thông tin liên quan
tới các dấu hiệu này theo 4 mức độ từ 0 tới 3 điểm.
Kết quả được phân tích theo điểm trung bình của tổng điểm mỗi loại câu hỏi A (lo
âu) hay D (trầm cảm), và theo các mức độ:
Từ 0 đến 7 điểm : bình thường
Từ 8 đến 10 điểm : gợi ý có thể có triệu chứng của lo âu hoặc trầm cảm
Từ 11 đến 21 điểm: lo âu hoặc trầm cảm (lo âu hay trầm cảm thực sự)
2.5.2. Kỹ thuật thu thập thông tin
Thu thập thông tin bằng cách phỏng vấn BN theo bộ câu hỏi.( Phần phụ lục).
2.5.3. Các bước tiến hành nghiên cứu:
Bước 1 : Lựa chọnđối tượng nghiên cứu dựa vào tiêu chuẩn chọn BN.
Bước 2 : Giải thích về nghiên cứu.
Bước 3 : Thu thập dữ liệu nghiên cứu theo bộ câu hỏi phỏng vấn.
Bước 4 : Phân tích và xử lý số liệu thống kê.
Bước 5 : Viết báo cáo.
17
Tình trạng hôn Tỷ lệ %: tỷ lệ BN theo từng loại tình trạng hôn
Thông
tin
cá
nhân
nhân
Số
nhân trên tổng số BN tham gia NC.
năm
học Tỷ lệ %: tỷ lệ BN theo từng nhóm năm học đã
hoàn thành
hoàn thành trên tổng số BN tham gia NC.
Tình trạng làm Tỷ lệ %: tỷ lệ BN theo từng loại tình trạng làm
việc hiện tại
việc trên tổng số BN tham gia NC.
Tỷ lệ %: tỷ lệ BN hưởng BHYT cho chi trả
BHYT
chăm sóc tại BV trên tổng BN tham gia NC.
của các BN trên tổng BN tham gia NC.
Bệnh kèm theo
gia NC.
Tỷ lệ %: tỷ lệ các nhóm bệnh kèm theo của các
BN trên tổng số BN tham gia NC.
Tai biến trong Tỷ lệ %: tỷ lệ nhóm các tai biến ở các BN trên
buổi lọc máu
tổng số BN tham gia NC.
Thời gian lọc Tỷ lệ %: tỷ lệ các tháng điều trị trên tổng số BN
máu
tham gia NC.
18
Footer Page 25 of 258.