Các nhân tố tác động đến thu nhập hộ gia đình trường hợp hộ đồng bào dân tộc khmer trên địa bàn tỉnh cà mau - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

HUỲNH CÔNG THIỆU

CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THU NHẬP HỘ
GIA ĐÌNH: TRƯỜNG HỢP HỘ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC
KHMER TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp. Hồ Chí Minh - 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

HUỲNH CÔNG THIỆU

CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THU NHẬP HỘ
GIA ĐÌNH: TRƯỜNG HỢP HỘ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC
KHMER TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. BÙI THỊ MAI HOÀI

Tp. Hồ Chí Minh - 2016

2.1.2. Đặc trưng kinh tế hộ dân tộc Khmer ..................................................... 9
2.2. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP HỘ GIA ĐÌNH ...............13
2.2.1. Các nhân tố liên quan đến đặc điểm chủ hộ ........................................ 13
2.2.2. Các nhân tố liên quan đến đặc điểm của hộ......................................... 14
2.3. CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI .....................................16
2.3.1. Các nghiên cứu ngoài nước ................................................................. 16
2.3.2. Các nghiên cứu trong nước ................................................................. 18
2.4. KINH NGHIỆM TRONG VIỆC HỖ TRỢ NÂNG CAO THU NHẬP CHO HỘ
ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ CỦA VIỆT NAM ..........................................20
2.5. TÓM TẮT CHƯƠNG 2 .....................................................................................22


Chương 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................................................... 23
3.1. MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ................................................................................23
3.1.1. Khung nghiên cứu ............................................................................... 23
3.1.2. Mô hình phân tích ............................................................................... 24
3.2. DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..............................................24
3.2.1. Mô tả và định nghĩa các biến trong mô hình ....................................... 24
3.2.2. Dữ liệu thứ cấp ................................................................................... 27
3.2.3. Dữ liệu sơ cấp ..................................................................................... 28
3.2.4. Phương pháp phân tích dữ liệu ........................................................... 29
3.3. TÓM TẮT CHƯƠNG 3 .....................................................................................31
Chương 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ................................................................. 32
4.1. TỔNG QUAN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC KHMER TỈNH
CÀ MAU GIAI ĐOẠN 2011 – 2015 ........................................................................32
4.1.1. Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Cà Mau ............................... 32
4.1.2. Thu nhập của người dân tộc Khmer tỉnh Cà Mau ................................ 34
4.1.3. Thực trạng chính sách, chương trình hỗ trợ đối với đồng bào DTTS tại
tỉnh Cà Mau .................................................................................................. 34
4.1.4. Thách thức trong công tác giảm nghèo đối với người dân tộc Khmer . 38

BHYT

Bảo hiểm y tế

DTTS

Dân tộc thiểu số

ĐBSCL

Đồng bằng Sông Cửu Long

NHCSXH

Ngân sách Chính sách xã hội

OLS

Bình phương bé nhất

TPHCM

Thành phố Hồ Chí Minh

UBND

Ủy ban nhân dân


DANH MỤC CÁC BẢNG

sách hỗ trợ thời gian qua, bước đầu đã mang lại được một số kết quả quan trọng;
góp phần làm thay đổi diện mạo bộ mặt vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn
tỉnh, củng cố được niềm tin của đồng bào đối với Đảng và Nhà nước.
Tuy nhiên, những kết quả thu được chưa thực sự bền vững; tỷ lệ hộ tái nghèo
và phát sinh nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số hàng năm vẫn còn khá cao, trên
40%; đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc Khmer, hiện vẫn còn một bộ phận khá lớn
đang rất khó khăn, khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa dân tộc này với các dân
tộc khác trong tỉnh vẫn chưa được thu hẹp và hộ đồng bào dân tộc Khmer trên địa
bàn tỉnh luôn chiếm phần lớn trong tổng số hộ nghèo và cận nghèo, nhất là tại các
huyện có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn của tỉnh Cà Mau.
Qua tìm hiểu, tác giả nhận thấy mặc dù đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu trong
và ngoài nước phân tích, đánh giá về các nhân tố tác động đến thu nhập hộ gia đình,
nhất là hộ gia đình khu vực nông thôn. Tuy nhiên, những nghiên cứu về nội dung
trên đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số thì tương đối hạn chế; đặc biệt là nghiên


2

cứu về các nhân tố tác động đến thu nhập của hộ đồng bào dân tộc Khmer thì rất ít
và chưa có nghiên cứu nào xem xét cho trường hợp của tỉnh Cà Mau.
Liên quan gần nhất với đề tài tác giả đang nghiên cứu hiện có nghiên cứu của
Nguyễn Quốc Nghi và Bùi Văn Trịnh (2011), thông qua số liệu điều tra trực tiếp từ
150 hộ Khmer ở Trà Vinh, 90 hộ Chăm ở An Giang và áp dụng mô hình phân tích
hồi quy tuyến tính đã chỉ ra các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ dân tộc thiểu
số ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là: trình độ học vấn của chủ hộ, trình độ
học vấn của lao động trong hộ, số nhân khẩu trong hộ, số hoạt động tạo thu nhập
của hộ, độ tuổi của lao động trong hộ và các yếu tố tiếp cận với các chính sách hỗ
trợ. Trong đó, yếu tố số nhân khẩu và độ tuổi của lao động trong hộ tỷ lệ nghịch với
thu nhập bình quân/người của hộ dân tộc, yếu tố số hoạt động tạo ra thu nhập của
hộ có tác động mạnh nhất đến thu nhập bình quân/người của dân tộc thiểu số ở

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Hộ đồng bào dân tộc Khmer trên địa bàn 11 xã đặc biệt khó khăn của tỉnh Cà
Mau được phê duyệt tại Quyết định số 2405/QĐ-TTg ngày 10/12/2013 của Thủ
tướng Chính phủ.
1.3.2. Phạm vi thu thập dữ liệu
Tỉnh Cà Mau có 11 xã đặc biệt khó khăn có số đông đồng bào dân tộc Khmer
sinh sống thuộc các huyện: Đầm Dơi, Trần Văn Thời và U Minh. Đề tài chọn ngẫu
nhiên các ấp của 11 xã này để thu thập dữ liệu sơ cấp.
Các dữ liệu thứ cấp sử dụng trong đề tài được giới hạn trong khoảng thời gian
từ năm 2011 đến năm 2015. Số liệu sơ cấp được thu thập trong thời gian từ tháng
02/2016 đến tháng 03/2016.
1.3.3. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua việc lập mô
hình hồi quy đa biến bình phương bé nhất (OLS) để xem xét, đo lường các nhân tố
tác động đến thu nhập. Mô hình hồi quy bao gồm: biến phụ thuộc là thu nhập của hộ
đồng bào dân tộc Khmer và các biến độc lập được xác định trên cơ sở chọn lựa các
biến có ý nghĩa (kinh tế và thống kê) được phát hiện từ cơ sở lý thuyết và từ các
nghiên cứu liên quan trước đây.


4

1.4. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn bao gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách.


lương và không có bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào.


6

Hộ làm công: là hộ có các thành viên trong gia đình làm công ăn lương và hộ
không có bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào.
Hộ thuần nông: là hộ có các thành viên trong gia đình đều làm việc trong khu
vực nông nghiệp.
Hộ sản xuất kinh doanh: là những hộ gia đình mà việc làm của những thành
viên trong hộ đều thuộc khu vực công nghiệp và khu vực dịch vụ.
Hộ nông nghiệp – làm công: là những hộ gia đình mà việc làm của các thành
viên trong hộ vừa thuộc khu vực nông nghiệp, vừa làm công ăn lương.
Hộ nông nghiệp – sản xuất kinh doanh: là những hộ có các thành viên trong
gia đình làm việc trong khu vực nông nghiệp, hoặc công nghiệp, hoặc dịch vụ, hoặc
cả 3 khu vực.
Hộ sản xuất kinh doanh – làm công: là những hộ gia đình mà việc làm của các
thành viên trong hộ vừa thuộc khu vực công nghiệp, dịch vụ; vừa làm công ăn
lương.
Hộ nông nghiệp – sản xuất kinh doanh – làm công: là hộ mà việc làm của các
thành viên trong hộ thuộc khu vực nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và kể cả làm
công ăn lương.
Hộ có những đặc điểm thay đổi theo thời gian. Khi xã hội còn ở một trình độ
phát triển thấp, với kinh tế tự cấp tự túc là nhân tố cơ bản cấu thành nên hộ. Song,
khi xã hội phát triển cao hơn, thì các thành viên của hộ có thể không còn làm chung
và ăn chung nữa. Họ có thể cùng sống chung, nhưng làm việc ở những nơi khác
nhau, và có thể chỉ đóng góp một phần thu nhập vào một số hoạt động chung của
hộ.
2.1.1.2. Kinh tế nông hộ
Kinh tế nông hộ là một hình thức cơ bản và tự chủ trong nông nghiệp. Nó

ngữ ám chỉ cho một nhóm người từ một quốc gia khác đến cư trú trên lãnh thổ của
một quốc gia có chủ quyền mà họ là công dân của quốc gia này”.
Theo Nghị định số 05/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về Công tác
dân tộc, là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất về dân tộc tính đến thời điểm hiện tại,
đã đưa ra khái niệm về dân tộc thiểu số và các khái niệm khác có liên quan như sau:
“Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên
phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. “Dân tộc thiểu số rất ít


8

người” là dân tộc có số dân dưới 10.000 người.
“Dân tộc đa số” là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước,
theo điều tra dân số quốc gia. “Vùng dân tộc thiểu số” là địa bàn có đông các dân
tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
“Công tác dân tộc” là những hoạt động quản lý nhà nước về lĩnh vực dân tộc
nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số cùng phát triển,
đảm bảo sự tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
2.1.1.4. Thu nhập của hộ nông dân
Theo Samuelson và Nordhause (1997), thu nhập là số tiền thu được hay tiền
mặt mà mộ người hay hộ gia đình kiếm được trong một khoảng thời gian nhất định
(thường là một năm).
Theo Singh và Strauss (1986) cho rằng thu nhập của hộ gia đình gồm thu nhập
chính từ nông nghiệp và thu nhập từ phi nông nghiệp.
Theo Tổng cục Thống kê (2010) định nghĩa: Thu nhập của hộ gia đình là toàn
bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ gia
đình và các thành viên trong hộ nhận được trong một thời gian nhất định, thường là
một năm. Thu nhập bao gồm: (1) thu nhập từ tiền công, tiền lương; (2) thu nhập từ
sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản (sau khi đã trừ chi phí và thuế sản xuất); (3) thu

thấp. Đặc điểm của đồng bào Khmer ở ĐBSCL là trên 90% dân số sống ở nông
thôn, cư trú thành những cụm dân cư gọi là phum, sóc tương đối biệt lập với cộng
đồng các dân tộc khác, cũng có một bộ phận đồng bào sống xen kẽ với người Kinh,
còn một số hộ sinh sống rải rác ở vùng sâu, vùng xa và ở ven các kênh rạch (Tổng
cục thống kê, 2010).
Do ảnh hưởng sâu sắc bởi Phật giáo Tiểu thừa, nên trong triết lý sống của
người Khmer thường thiên về các giá trị tinh thần hơn vật chất. Đa phần người dân
Khmer thích một cuộc sống an lành, không đua chen để làm giàu. Họ thích thảnh
thơi, an nhàn hơn so với các dân tộc khác. Công việc làm ăn đều trông chờ ở số
phận. Họ tin rằng có phận, có phước mới làm giàu được, vì thế họ ít chịu tìm hiểu
làm thế nào để nâng cao năng suất, thu hoạch có kết quả nhiều như người Kinh,
người Hoa. Hầu hết họ thiên về đời sống tinh thần hơn vật chất, họ tin ở kiếp sau,


10

kiếp này chỉ là sống tạm (Liêu Ngọc Ân, 2013).
Người Khmer sẵn sàng đóng góp tiền của, công sức để xây dựng những ngôi
chùa khang trang, lộng lẫy, trong khi họ chấp nhận cuộc sống nghèo túng trong
những căn nhà lụp xụp. Họ cũng sẵn sàng vay nợ để tổ chức các lễ hội truyền thống,
ma chay, tiệc cưới long trọng, hoặc đóng tiền để con em họ được vào chùa tu v.v..
Chính triết lý sống như vậy đã ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống của
người Khmer (Trang Thiếu Hùng, 2014).
2.1.2.2. Kinh tế hộ Khmer mang nặng tính tự cung, tự cấp
Hộ Khmer tồn tại lâu đời với phương thức canh tác truyền thống trên những
vùng đất bị chia cắt, ruộng đất manh mún. Phần lớn sản xuất của họ phụ thuộc vào
thiên nhiên. Những năm mưa thuận, gió hoà thì được mùa, những năm thời tiết
không thuận lợi thì đời sống bà con gặp nhiều khó khăn.
Trong những năm qua, được sự quan tâm đầu tư của Đảng, Nhà nước; kinh tế
hộ dân tộc Khmer có nhiều chuyển biến tích cực, nhiều hộ đã chủ động học tập,

gian nhàn rỗi, vừa tăng thu nhập.
Sản xuất tiểu thủ công nghiệp của người Khmer chủ yếu là cung cấp những vật
dụng trong sinh hoạt gia đình. Nghề thủ công được người Khmer thực hiện trong
những lúc rảnh rỗi công việc đồng áng và gắn với những sinh hoạt gia đình. Một số
sản phẩm thủ công cổ truyền được tiêu thụ trên thị trường như chiếu, đan mây tre.
Trong lĩnh vực thương nghiệp, số lượng người Khmer sống bằng nghề buôn
bán rất ít. Trong lĩnh vực này, người Khmer chủ yếu là buôn bán nhỏ với các cửa
hiệu tạp hoá, dịch vụ ăn uống, v.v.. vừa ít vốn lại ít hàng. Một số vừa bán hàng vừa
sản xuất nông nghiệp hoặc làm dịch vụ nhỏ như sửa xe, làm nhân công các xưởng
sửa chữa, nhân công xí nghiệp, nhà máy.
Như vậy, đặc trưng nổi bật nhất của kinh tế hộ Khmer là kinh tế nông nghiệp
đóng vai trò nền tảng, chi phối. Các hoạt động khác tuy có bước phát triển, nhưng
còn mang tính chất nhỏ lẻ, chưa phổ biến và hiệu quả chưa cao.
2.1.2.4. Quy mô sản xuất nhỏ
Diện tích đất sản xuất vùng đồng bào Khmer bình quân là 0,3 ha/người. Trong
đó, số hộ không đất và thiếu đất sản xuất ngày càng gia tăng. Ngoài ra, hộ Khmer có
tập quán truyền thống là đất nông nghiệp mang tính sở hữu chung của nhiều hộ


12

trong cùng dòng họ, không có sự phân chia rõ ràng; cùng 1 mảnh đất nhưng nhiều
hộ canh tác, mỗi hộ được giao cho làm 1 vụ hoặc 1 năm, sau đó chuyển sang hộ
khác; nhưng mỗi hộ đều tự nhận toàn bộ mảnh đất đó là do mình làm chủ. Do tập
quán này mà việc canh tác của mỗi hộ không liên tục, đất đai không được quan tâm
cải tạo, dễ phát sinh tranh chấp do không xác định được hộ làm chủ thật sự (Ban
Dân tộc tỉnh Cà Mau, 2015).
Bên cạnh diện tích đất bình quân thấp, khả năng tích tụ và tập trung vốn của
hộ dân tộc Khmer còn nhiều hạn chế. Do vậy, hộ dân tộc Khmer thường xuyên hoạt
động trong tình trạng thiếu vốn. Mặc dù hệ thống ngân hàng có cố gắng, nhưng mới

nhập của hộ. Các đặc điểm của chủ hộ bao gồm: Trình độ học vấn, tuổi của chủ hộ,
nghề nghiệp.
2.2.1.1. Trình độ học vấn
Chủ hộ có trình độ học vấn cao thường có nhiều hiểu biết, trình độ chuyên
môn tay nghề cao, họ có thể hoàn thành tốt theo yêu cầu của công việc, có nhiều cơ
hội thăng tiến lên vị trí cao hơn nên thu nhập của họ cũng sẽ cao hơn. Bên cạnh đó,
trong lĩnh vực nông nghiệp, nếu chủ hộ có trình độ càng cao hiểu biết càng nhiều thì
chủ hộ càng có điều kiện thuận lợi trong tiếp cận và ứng dụng khoa học kỹ thuật
vào sản xuất để tăng năng suất, tối thiểu hóa chi phí, từ đó mang lại thu nhập cao
hơn cho hộ.
Bùi Quang Bình (2010) cho rằng giáo dục và đào tạo cùng với chất lượng của
nó là quá trình đem tới cho mỗi người học vốn kiến thức kỹ năng và kinh nghiệm,
giúp họ không ngừng hoàn thiện, gia tăng tích lũy chúng. Mức vốn con người phụ
thuộc vào thời gian chi phí đầu tư để học hành trong hệ thống giáo dục và từng trải
trong cuộc sống. Giáo dục đào tạo quyết định lượng vốn con người và đến lượt nó
lượng vốn con người sẽ quyết định thu nhập của mỗi người. Như vậy, người ta sẽ
càng có thêm sự cân nhắc khi đầu tư vào giáo dục đào tạo với kỳ vọng về một mức
thu nhập tốt hơn trong tương lai. Nghiên cứu thực nghiệm của Trương Châu (2013)
cũng cho thấy có mối quan hệ tích cực của trình độ học vấn của chủ hộ đến thu
nhập của các hộ ở các xã trên địa bàn biên giới tỉnh Tây Ninh.
Vì vậy, trình độ học vấn của chủ hộ và những người trong gia đình có ảnh
hưởng đến khả năng tăng thu nhập của gia đình.


14

2.2.1.2. Nghề nghiệp của chủ hộ
Theo Borjas (2005), thông thường người lao động làm việc trong ngành nông
nghiệp được trả công thấp hơn những người làm trong ngành công nghiệp và dịch
vụ do yêu cầu về kỹ năng, trình độ của ngành này thấp. Bên cạnh đó, khu vực nông

các vùng nông thôn ngày nay đã từng bước tham gia vào các hoạt động sản xuất
kinh tế phi nông nghiệp, các hoạt động này góp phần vào tăng thu nhập của hộ.
Các Nghiên cứu thực nghiệm của Đinh Phi Hổ và Hoàng Thị Thu Huyền
(2010) ở Phú Thọ, Trương Châu (2013) ở Tây Ninh chỉ ra tác động tích cực của số
hoạt động tạo thu nhập đến thu nhập của hộ.
2.2.2.3. Diện tích đất canh tác
Đất sản xuất là tư liệu chính và mang tính quyết định của hộ gia đình làm nông
ở nông thôn để tạo ra thu nhập cho hộ gia đình. Do đó, thiếu đất sản xuất hoặc
không có đất sản xuất thường thì thu nhập thấp.
Nghiên cứu thực nghiệm của Nguyễn Sinh Công (2004), Mwanza (2011) và
Trương Châu (2013) đã cho thấy thu nhập của hộ tỷ lệ thuận với diện tích đất sản
xuất, tức là diện tích đất sản xuất càng nhiều thì thu nhập của hộ càng cao.
2.2.2.4. Tiếp cận chính sách
Việc nhận được hỗ trợ từ nhà nước và chính quyền địa phương sẽ làm tăng thu
nhập của hộ dân tộc. Vì thế, vấn đề tiếp cận chính sách hỗ trợ của nhà nước và
chính quyền địa phương đối với người dân tộc là rất quan trọng. Nguyễn Quốc Nghi
và cộng sự (2010) nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người dân
tộc thiểu số ở Đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng yếu tố
tiếp cận chính sách có ảnh hưởng tích cực đến thu nhập của hộ.
2.2.2.5. Vay vốn
Vốn là điều kiện thiết yếu ban đầu của các nông hộ kết hợp với trình độ sản
xuất kinh doanh, tiếp thu khoa học kỹ thuật và nhanh nhạy nắm bắt thị trường đã
giúp nhiều hộ mạnh dạn áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để tăng năng suất,
tăng sản lượng, tăng tỷ trọng hàng hóa và hạ giá thành sản phẩm. Vốn tín dụng của
ngân hàng, sẽ giúp những hộ không có kinh nghiệm, sản xuất không có hiệu quả, có


16

ruộng đất quá ít hoặc thiếu vốn cho quá trình sản xuất có khả năng giải quyết được


biết lẫn nhau và sự chia sẻ những giá trị đạo đức, phong cách kết nối thành viên
trong các tập đoàn, các cộng đồng lại với nhau (trích bởi Đinh Phi Hổ, 2014).
Karttunen (2009) cho rằng nguồn lực vốn con người của hộ gia đình và các
yếu tố nhân khẩu xã hội như giới tính, trình độ học vấn của chủ hộ cùng với tỷ lệ
phụ thuộc ảnh hưởng đến thu nhập của Hộ.
Với mục đích đưa ra các chiến lược hiệu quả hơn để tăng tốc độ tăng trưởng
kinh tế nông thôn ở Mozambique, Walker và cộng sự (2004) đã thực hiện nghiên
cứu tìm hiểu về “Nguồn gốc và các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình
ở nông thôn”. Nghiên cứu được thực hiện dựa trên số liệu của cuộc khảo sát của Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Mozambique (2002), gọi tắt là TIA. Kết quả
của bài nghiên cứu đã cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ ở
Mozambique là: giới tính, tuổi, trình độ học vấn của hộ, tài sản của hộ, cơ sở hạ
tầng, tiềm năng sản xuất (đa dạng cây trồng và sinh thái),…
Shrestha và Eiumnoh (2000) nghiên cứu về “Các yếu tố quyết định đến thu
nhập nông hộ ở lưu vực sông Sakae Krang của Thái Lan”. Với cỡ mẫu là 192 hộ gia
đình là nông thôn, kết quả hồi quy đa biến cho thấy những nhân tố ảnh hưởng đến
thu nhập của những hộ ở vùng đồng bằng và đồi núi chủ yếu bao gồm: Nguồn thu
từ nông nghiệp, phi nông nghiệp, giáo dục, nhận thức của người dân về môi trường,
hiện trạng sở hữu đất đai, số thành viên trong độ tuổi lao động.
Nghiên cứu của Yang (2004) về “Giáo dục và phân bổ hiệu quả: sự phát triển
thu nhập hộ gia đình trong thời gian cải cách nông thôn ở Trung Quốc” trong
nghiên cứu đã phân tích sự đóng góp của giáo dục và sự phân bổ nguồn lực của hộ
trong việc tăng trưởng thu nhập của hộ gia đình ở nông thôn Trung Quốc. Dữ liệu
phân tích thực nghiệm của nghiên cứu này được thu thập từ kết quả khảo sát thu
nhập hộ gia đình của tỉnh Tứ Xuyên từ năm 1986 đến năm 1995. Trong đó, các yếu
tố ảnh hưởng bao gồm: trình độ học vấn, kinh nghiệm của chủ hộ và các thành viên
trong hộ, vị trí nơi ở của chủ hộ, nguồn vốn của hộ.
Nghiên cứu đã chứng minh trình độ học vấn là một yếu tố quan trọng để ngành
công nghiệp ở nông thôn phát triển nhanh chóng và cũng tạo nên nguồn thu nhập ổn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status