BỘGIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
HUỲNH CÔNG THIỆU
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THU NHẬP HỘ GIA
ĐÌNH: TRƯỜNG HỢP HỘ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC
KHMER TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU
LUẬN VĂN THẠC SĨKINH TẾ
Tp. Hồ Chí Minh -2016
BỘGIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
HUỲNH CÔNG THIỆU
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THU NHẬP HỘ GIA ĐÌNH: TRƯỜNG HỢP
HỘ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU
Chuyên ngành: Tài chính –Ngân hang
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:PGS.TS. BÙI THỊ MAI HOÀI
Tp. Hồ Chí Minh -2016
LỜI CAM ĐOAN
2.3.1. Các nghiên cứu ngoài nước.................................................................16
2.3.2. Các nghiên cứu trong nước.................................................................18
2.4. KINH NGHIỆM TRONG VIỆC HỖTRỢNÂNG CAO THU NHẬP CHO
HỘĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐCỦA VIỆT
NAM..........................................20
2.5. TÓM TẮT CHƯƠNG
2.....................................................................................22
Chương 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU......................................................23
3.1. MÔ HÌNH NGHIÊN
CỨU................................................................................23
3.1.1. Khung nghiên cứu...............................................................................23
3.1.2. Mô hình phân tích...............................................................................24
3.2. DỮLIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU..............................................24
3.2.1. Mô tảvà định nghĩa các biến trong mô hình.......................................24
3.2.2. Dữliệu thứcấp...................................................................................27
3.2.3. Dữliệu sơ cấp.....................................................................................28
3.2.4. Phương pháp phân tích dữliệu...........................................................29
3.3. TÓM TẮT CHƯƠNG
3.....................................................................................31
Chương 4. KẾT QUẢNGHIÊN CỨU.................................................................32
4.1. TỔNG QUAN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC KHMER
TỈNH CÀ MAU GIAI ĐOẠN 2011 –
2015........................................................................32
4.1.1. Đặc điểm tựnhiên và kinh tếxã hội tỉnh Cà Mau...............................32
4.1.2. Thu nhập của người dân tộc Khmer tỉnh Cà Mau................................34
4.1.3. Thực trạng chính sách, chương trình hỗtrợđối với đồng bào DTTS tại
tỉnh Cà Mau..................................................................................................34
Phụlục 2: KẾT QUẢPHÂN TÍCH SỐLIỆU PHỎNG VẤN 2016
Chương 1.GIỚI THIỆU
1.1.
SỰCẦNTHIẾTCỦAVẤNĐỀNGHIÊNCỨU
Cà Mau là tỉnh cực Nam của Tổ quốc, là vùng đất trẻ, có điều kiện tự nhiên đa
dạng, được thiên nhiên ưu đãi.Cà Mau là điểm đến lập nghiệp của các dân tộc khắp
cả nước, nhất là sau ngày đất nước thống nhất. Đến nay, Cà Mau đã có 13 dân tộc,
trong đó có 12 dân tộc thiểu số với 11.994 hộ; đông nhất là đồng bào dân tộc
Khmer với 7.801 hộ, tiếp đến là đồng bào dân tộc Hoa với 1.954 hộ, còn lại 10 dân
tộc khác với quy mô 2.239 hộ. Trong những năm qua, với việc xác định tầm quan
trọng và ý nghĩa chiến lược của công tác quản lýnhà nước về dân tộc và thực hiện
chính sách dân tộc, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội; tỉnh
Cà Mau đã tập trung nguồn lực và thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp hỗ trợ đối với
đồng bào dân tộc thiểu số, nhằm tạo ra những điều kiệnphát triển bình đẳng giữa
các dân tộc, từng bước nâng cao toàn diện đời sống vật chất, tinh thần của người
dân. Những chương trình, chính sách hỗ trợ thời gian qua, bước đầu đã mang lại
được một số kết quả quan trọng; góp phần làm thay đổi diện mạo bộ mặtvùng đồng
bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh, củng cố được niềm tin của đồng bào đối với
Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, những kết quả thu được chưa thực sự bền vững; tỷ
lệ hộ tái nghèo và phát sinh nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số hàng năm vẫn
cònkhá cao, trên 40%; đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc Khmer, hiện vẫn còn
một bộ phận khá lớn đang rất khó khăn, khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa
dân tộc này với các dân tộc khác trong tỉnh vẫn chưa được thu hẹp và hộ đồng bào
dân tộc Khmer trên địa bàn tỉnh luôn chiếm phần lớn trong tổng số hộ nghèo và
cận nghèo, nhất là tại các huyện có điều kiện kinh tế -xã hội đặc biệt khó khăn của
tỉnh Cà Mau. Qua tìm hiểu, tác giả nhận thấy mặc dù đã có rất nhiều đề tài nghiên
các mục tiêu sau:Mục tiêu 1: Đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến thu
nhập hộ dân tộc Khmer của tỉnh Cà Mau;
Mục tiêu 2: Gợi ý chính sách nhằm nâng cao thu nhập hộ dân tộc Khmer trên địa
bàn tỉnh Cà Mau.Các mục tiêu ở trên sẽ trả lời cho 2 câu hỏi nghiên cứu:Những
yếu tố nào tác động đến thu nhập của hộ dân tộc Khmer và mức độ ảnh hưởng
mạnh yếu của từng yếu tố đến thu nhập của hộ dân tộc Khmer trên địa bàn tỉnh Cà
Mau?Cần có những giải pháp gì để nâng cao thu nhập cho hộ dân tộc Khmer trên
địa bàn tỉnh Cà Mau?
1.3. ĐỐITƯỢNGVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU
1.3.1. Đối tượng nghiên cứuHộ đồng bào dân tộc Khmer trên địa bàn 11 xã đặc
biệt khó khăn của tỉnh Cà Mau được phê duyệt tại Quyết định số 2405/QĐ-TTg
ngày 10/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ.
1.3.2. Phạm vi thu thập dữliệuTỉnh Cà Mau có 11 xã đặc biệt khó khăn có số đông
đồng bào dân tộc Khmer sinh sống thuộc các huyện:Đầm Dơi, Trần Văn ThờivàU
Minh. Đề tài chọn ngẫu nhiên các ấp của 11 xã này để thu thập dữ liệu sơ cấp.Các
dữ liệu thứ cấp sử dụng trong đề tài được giới hạn trong khoảng thời gian từnăm
2011 đến năm 2015. Số liệu sơ cấp được thu thập trong thời gian từ tháng 02/2016
đến tháng 03/2016.
1.3.3. Phương pháp nghiên cứuLuận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định
lượng thông qua việc lập mô hình hồi quy đa biến bình phương bé nhất (OLS) để
xem xét, đo lường các nhân tố tác động đến thu nhập. Mô hình hồi quy bao gồm:
biến phụ thuộc là thu nhập của hộ đồng bào dân tộc Khmer và các biến độc lập
được xác định trên cơ sở chọn lựa các biến có ý nghĩa (kinh tế và thống kê) được
phát hiện từ cơ sở lý thuyết và từ các nghiên cứu liên quan trước đây.
1.4. BỐCỤC CỦA LUẬN VĂNLuận văn bao gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
thành viên trong gia đình đều làm việc trong khu vực nông nghiệp.Hộ sản xuất
kinh doanh: là những hộ gia đình mà việc làm của những thành viên trong hộ đều
thuộc khu vực công nghiệp và khu vực dịch vụ.Hộ nông nghiệp –làm công: là
những hộ gia đình mà việc làm của các thành viên trong hộ vừa thuộc khu vực
nông nghiệp, vừa làm công ăn lương.Hộ nông nghiệp –sản xuất kinh doanh: là
những hộ có các thành viên trong gia đình làm việc trong khu vực nông nghiệp,
hoặc công nghiệp, hoặc dịch vụ, hoặc cả 3 khu vực.Hộ sản xuất kinh doanh –làm
công: là những hộ gia đình mà việc làm của các thành viên trong hộ vừa thuộc khu
vực công nghiệp, dịch vụ; vừa làm công ăn lương.Hộ nông nghiệp –sản xuất kinh
doanh –làm công: là hộ mà việc làm của các thành viên trong hộ thuộc khu vực
nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và kể cả làm công ăn lương.Hộ có những đặc
điểm thay đổi theo thời gian. Khi xã hội còn ở một trình độ phát triển thấp, với
kinh tế tự cấp tự túc là nhân tố cơ bản cấu thành nên hộ. Song, khi xã hội phát triển
cao hơn, thì các thành viên của hộ có thể không còn làm chung và ăn chung nữa.
Họ có thể cùng sống chung, nhưng làm việc ở những nơi khác nhau, và có thể chỉ
đóng góp một phần thu nhập vào một số hoạt động chung của hộ.2.1.1.2. Kinh
tếnông hộKinh tế nông hộ là một hình thức cơ bản và tự chủ trong nông nghiệp.
Nó được hình thành và phát triển một cách khách quan, lâu dài dựa trên sự tư hữu
các yếu tố sản xuất. Đây là loại hình sản xuất có hiệu quả về kinh tế -xã hội, phù
hợp với sảnxuất nông nghiệp, thích ứng, tồn tại và phát triển trong mọi chế độ kinh
tế xã hội. Kinh tế nông hộ phát triển tạo ra sản lượng hàng hóa đa dạng, có chất
lượng,
7giá trị ngày càng cao, góp phần tăng thu nhập cho mỗi gia đình nông dân, cải
thiện đời sống mọi mặt ở nông thôn, cung cấp sản phẩm cho công nghiệp và xuất
khẩu, đồng thời thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngay từ kinh tế hộ.Đặc trưng
bao trùm của kinh tế nông hộ là các thành viên trong hộ làm việc một cách tự chủ,
tự nguyện vì lợi ích kinh tế của bản thân gia đình mình. Mặt khác, kinh tế nông hộ
là nền sản xuất nhỏ mang tính tự cung, tự túc hoặc có sản xuất hàng hóa với năng
hộnông dânTheo Samuelson và Nordhause (1997), thu nhập là số tiền thu được hay
tiền mặt mà mộ người hay hộ gia đình kiếm được trong một khoảng thời gian nhất
định (thường là một năm). Theo Singh và Strauss (1986) cho rằng thu nhập của hộ
gia đình gồm thu nhập chính từ nông nghiệp và thu nhập từ phi nông nghiệp.Theo
Tổng cục Thống kê (2010) định nghĩa: Thu nhập của hộ gia đình là toàn bộ số tiền
và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ gia đình và
các thành viên trong hộ nhận được trong một thời gian nhất định, thường là một
năm. Thu nhập bao gồm: (1) thu nhập từ tiền công, tiền lương; (2) thu nhập từ sản
xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản (sau khi đã trừ chiphí và thuế sản xuất); (3) thu
nhập từ ngành nghề phi nông, lâm, thủy sản (sau khi đã trừ chi phí sản xuất và thuế
sản xuất); (4) thu khác được tính vào thu nhập như cho biếu, mừng, lãi tiết
kiệm,...Cần lưu ý giữa các khoảnthu tính vào thu nhập và các khoản thu không tính
vào thu nhập. Các khoản không tính vào thu nhập gồm rút tiền tiết kiệm, thu nợ,
bán tài sản, vay nợ, tạm ứng và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được do liên
doanh, liên kết trong sản xuất kinh doanh,...Như vậy, thu nhập của hộ nông dân
còn được chia theo 3 loại sau: (1) Thu nhập nông nghiệp, là thu nhập từ các hoạt
động sản xuất trong nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản:
(2) Thu nhập phi nông nghiệp, là thu nhập được tạo ra từ các hoạt động ngành nghề
công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp,
9bao gồm các ngành nghề chế biến, sản xuất vật liệu xây dựng, gia công
cơ khí....Ngoài ra, thu nhập phi nông nghiệp còn được tạo ra từ các hoạt động
thương mại dịch vụ như buôn bán, thu gom; (3) Thu nhập khác, là các nguồn thu từ
các hoạt động làm thêm, làm thuê, làm công ăn lương; từ các nguồn trợ cấp xã hội
hoặc các nguồn thu bất thường khác.2.1.2. Đặc trưng kinh tếhộdân tộc KhmerDo
phong tục tập quán, kinh tế hộ dân tộc Khmer ở Cà Mau nói riêng và hộ dân tộc
Khmer các tỉnh ĐBSCL nói chung và có những đặc trưng cơ bản sau:2.1.2.1.
Vềtrình độsản xuấtNgười Khmer vốn có lịch sử hình thành, kỹ thuật sản xuất,
phong tục tập quán, bản sắc văn hoá riêng. Hầu hết họ đều sử dụng tiếng Việt như
trọt, chăn nuôi và phát triển các ngành nghề truyền thống như chăn nuôi, đan lát,
gốm...do đó, kinh tế hộ phát triển đáng kể. Tuy nhiên, do điều kiện sản xuất kinh
doanh gặp khó khăn, tập quán canh tác lạc hậu, trình độ hạn chế, cộng với “sức ỳ”
của tư tưởng trông chờ, ỷ lại, nên hoạt động sản xuất kinh doanh của một bộ phận
người dân tộc Khmer còn mang tính tự phát. Họ sản xuất ra trước hết là để thỏa
mãn nhu cầu bản thân, còn lại mới đem bán để mua về các sản phẩm khác. Mặc dù
sản xuất hàng hóavùng đồng bào dân tộcKhmer đã có bước phát triển, nhưng vẫn
còn một bộ phận bà con chưa thoát khỏi tình trạng sản xuất khép kín tự cung, tự
cấp (Ban Dân tộc tỉnh Cà Mau, 2015).2.1.2.3. Cơ cấu kinh tếhộvới nông nghiệp là
nền tảngSản xuất nông nghiệp chiếm mộtđịa vị quan trọng trong đời sống kinh tế
và có ảnh hưởng to lớn trong các mặt sinh hoạt văn hoá, xã hội, tôn giáo...của
người Khmer. Nghề nghiệp chính của hộ dân tộc Khmer là trồng lúa khoảng 54%,
trồng
11trọt hoa màu chiếm 9%, chăn nuôi gia súc, gia cầm, thuỷ hải sản khoảng 18%,
buôn bán 3% và một bộ phận đồng bào đi làm thuê, làm mướn, chiếm khoảng 16%
dân số dân tộc Khmer (Ban Dân tộc tỉnh Cà Mau, 2015).Trong sản xuất nông
nghiệp, người Khmer có truyền thống sản xuất và kỹ thuật canh tác khá phong phú.
Đóchính là kết quả của người nông dân Khmer trong quá trình chinh phục thiên
nhiên vùng ĐBSCL và sự giao lưu văn hoá với các dân tộc anh em cùng định cư
trong vùng. Tuy nhiên, sản xuất còn mang tính độc canh cây lúa, chưa sử dụng hết
tiềm năng đất đai và nguồn lao động dồi dào ở vùng nông thôn.Ngoài sản xuất
nông nghiệp, người Khmer còn có một số hoạt động kinh tế khác. Tuỳ từng vùng,
từng thời điểm nhất định mà các hoạt động như tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ được
người nông dân Khmer tranh thủ làm thêm, vừa tận dụng thời gian nhàn rỗi, vừa
tăng thu nhập.Sản xuất tiểu thủ công nghiệp của người Khmer chủ yếu là cung cấp
những vật dụng trong sinh hoạt gia đình. Nghề thủ công được người Khmer thực
hiện trong những lúc rảnh rỗi công việc đồng áng và gắn với những sinh hoạt gia
đình. Một số sản phẩm thủ công cổ truyền được tiêu thụ trên thị trường như chiếu,
làm thuê chiếm tỷ trọng thấp.Những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà
nước, thu nhập của đại bộ phận bà con dân tộc đã được nâng lên đáng kể. Tuy
nhiên, so với các dân tộc khác, thu nhập của người Khmer cơ bản vẫn còn
thấp. Tỷ lệ nghèo của người Khmer luôn cao hơn so với các dân tộc khác. Hiện
tại, số hộ Khmer nghèo ở tỉnh Cà Mau còn chiếm khoảng 35,1%, trong đó nhiều hộ
có hoàn cảnh rất khó khăn.Thu nhập thấp, ý thức tiết kiệm chưa cao, do vậy đa
phần thu nhập của bà con thường chỉ để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt gia đình, ít
chú trọng đầu tư mở rộng sản xuấtkinh doanhhay cho con em ăn học. Đó cũng
chính là lý do giải thích tại sao kinh tế -xã hộivùng đồng bào dân tộccòn kém phát
triển, đời sống vật chất và
15nông nghiệp thường theo mùa vụ và phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên.
Việc đa dạng hóa nguồn thu nhập từ hoạt động sản xuất giúp hộ gia đình nông thôn
có thể giảm thiểu rủi ro và cải thiện thu nhập. Micevska và Rahut (2007) cho rằng
các vùng nông thônngày nay đã từng bước tham gia vào các hoạt động sản xuất
kinh tế phi nông nghiệp, các hoạt động này góp phần vào tăng thu nhập của hộ.Các
Nghiên cứu thực nghiệm của Đinh Phi Hổ và Hoàng Thị Thu Huyền (2010)
ở Phú Thọ, Trương Châu (2013) ở Tây Ninh chỉ ra tác động tích cực của số hoạt
động tạo thu nhập đến thu nhập của hộ.2.2.2.3. Diện tích đất canh tácĐất sản xuất
là tư liệu chính và mang tính quyết định của hộ gia đình làm nông ở nông thôn để
tạo ra thu nhập cho hộ gia đình. Do đó, thiếu đất sản xuất hoặc không có đất sản
xuất thường thì thu nhập thấp. Nghiên cứu thực nghiệm của Nguyễn Sinh Công
(2004), Mwanza (2011) và Trương Châu (2013) đã cho thấy thu nhập của hộ tỷ lệ
thuận với diện tích đất sản xuất, tức là diện tích đất sản xuất càng nhiều thì thu
nhập của hộ càng cao.2.2.2.4. Tiếp cận chính sáchViệc nhận được hỗ trợ từ nhà
nước và chính quyền địa phương sẽ làm tăng thu nhập của hộ dân tộc. Vì thế, vấn
đề tiếp cận chính sách hỗ trợ của nhà nước và chính quyền địa phương đối với
người dân tộc là rất quan trọng. Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2010) nghiên cứu
về các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người dân tộc thiểu số ở Đồng bằng
thu nhập. Vốn xã hội bao gồm phần lớn xây dựng giữa những con người với nhau:
đó là sự tin tưởng, hiểu biết lẫn nhau và chia sẻ những giá trị đạo đức, phong cách
kết nối thành viên trong các cộng đồng lại với nhau: Sự hiểu
17biết lẫn nhau và sự chia sẻ những giá trị đạo đức, phong cách kết nối thành viên
trong các tập đoàn, các cộng đồng lại với nhau (trích bởi Đinh Phi Hổ,
2014).Karttunen (2009) cho rằng nguồn lực vốn con người của hộ gia đình và các
yếu tố nhân khẩu xã hội như giới tính, trình độ học vấn của chủ hộ cùng với tỷ lệ
phụ thuộc ảnh hưởng đến thu nhập của Hộ.Với mục đích đưa ra các chiến lược
hiệu quả hơn để tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế nông thôn ở Mozambique, Walker
và cộng sự (2004) đã thực hiện nghiên cứu tìm hiểu về “Nguồn gốc và các yếu tố
ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình ở nông thôn”. Nghiên cứu được thực hiện
dựa trên số liệu của cuộc khảo sát của BộNông nghiệp và Phát triển nông thôn
Mozambique (2002), gọi tắt là TIA. Kết quả của bài nghiên cứu đã cho thấy các
yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ ở Mozambique là: giới tính, tuổi, trình
độ học vấn của hộ, tài sản của hộ, cơ sở hạ tầng, tiềm năngsản xuất (đa dạng cây
trồng và sinh thái),...Shrestha và Eiumnoh (2000) nghiên cứu về “Các yếu tố quyết
định đến thu nhập nông hộ ở lưu vực sông Sakae Krang của Thái Lan”. Với cỡ
mẫu là 192 hộ gia đình là nông thôn, kết quả hồi quy đa biến cho thấy những nhân
tố ảnh hưởng đến thu nhập của những hộ ở vùng đồng bằng và đồi núi chủ yếu bao
gồm: Nguồn thu từ nông nghiệp, phi nông nghiệp, giáo dục, nhận thức của người
dân về môi trường, hiện trạng sở hữu đất đai, số thành viên trong độ tuổi lao
động.Nghiên cứu của Yang (2004) về “Giáo dục và phân bổ hiệu quả: sự phát triển
thu nhập hộ gia đình trong thời gian cải cách nông thôn ở Trung Quốc”
trong nghiên cứu đã phân tích sự đóng góp của giáo dục và sự phân bổ nguồn lực
của hộ trong việc tăng trưởng thu nhập của hộ gia đình ở nông thôn Trung Quốc.
Dữ liệu phân tích thực nghiệm của nghiên cứu này được thu thập từ kết quả khảo
sát thu nhập hộ gia đình của tỉnh Tứ Xuyên từ năm 1986 đến năm 1995. Trong đó,
các yếu tố ảnh hưởng bao gồm: trình độ học vấn, kinh nghiệm của chủ hộ và các
nghiệm làm việc.Nghiên cứu của Trần Xuân Long (2009) “Một số nhân tố chính
ảnh hưởng đến
19thu nhập nông hộ huyện Tri Tôn, tỉnh Cà Mau”. Dữ liệu nghiên cứu được thu
thập điều tra từ 135 hộ nông dân tại 5 xã trên địa bàn huyện Tri Tôn, tỉnh An
Giang. Nghiên cứu đã sử dụng mô hình hồi quy theo phương pháp ước lượng bình
phương bé nhất (OLS) để xác định nhân tố chính ảnh hưởng đến thu nhập của nông
hộ. Kết quả nghiên cứu đã chứng minh trình độ học vấn của chủ hộ, diện tích
ruộng đất, giá lúa, số nguồn thu nhập từ nông nghiệp có ảnh hưởng đến tổng thu
nhập của nông hộ. Các biến như tuổi của chủ hộ, số lao động, số lần tham dự
khuyến nông, số nguồn thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp không có ý nghĩa
thống kê.Nghiên cứu của Trần Trọng Tín (2010) với đề tài “Các yếu tố tác động
đến thu nhập hộ nghèo tỉnh Vĩnh Long” dựa trên cơ sở dữ liệu thu thập được từ
200 hộ nghèo của tỉnh Vĩnh Long. Nghiên cứu đã sử dụng mô hình hồi quy theo
phương pháp ước lượng bình phương bé nhất (OLS) để phân tích các yếu tố tác
động đến thu nhập hộ nghèo. Kết quả phân tích số liệu đã chứng minh rằng diện
tíchđất canh tác, tuổi của chủ hộ, vấn đề vay vốn đều tác động đến thu nhập của hộ
nghèo.Huỳnh Thanh Phương (2011) nghiên cứu về “Các yếu tố ảnh hưởng đến thu
nhập của các hộ gia đình làm nghề phi nông nghiệp tại huyện Đức Hòa, Long An”.
Qua phân tích nghiêncứu 250 mẫu quan sát và vận dụng phương pháp hồi quy để
nghiên cứu. Kết quả cho thấy học vấn trung bình của chủ hộ, số người làm việc
trong hộ, quy mô hộ gia đình, được vay vốn tính dụng, số năm đi học của chủ hộ
có ảnh hưởng đến thu nhập của người dân làm nghề phi nông nghiệp.Nghiên cứu
của Huỳnh Văn Thông (2012) đề tài “Một số nhân tố chính ảnh hưởng đến thu
nhập nông hộ huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp”. Với số mẫu điều tra là 300 mẫu ở
06 xã. Thông qua các biến của phương trình hồi quy đa biến, kết quả nghiên cứu đã
chứng minh trình độ học vấn của chủ hộ, diện tích đất, giá lúa,... có ảnh đến thu
nhập của nông hộ.Nghiên cứu của Bùi Văn Trịnh, Nguyễn Quốc Nghi và Trần Quế
Anh (2011) về “Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình ở khu vực
công tác dân tộc, trong nổ lực cải thiện toàn diện điều kiện sống cho đồng bào dân
tộc thiểu số được
21Chính phủ, Ủy ban Dân tộc và các Bộ, ngành Trung ương quan tâm và thực hiện
kỳ quyết; đã có rất nhiều chương trình, chính sách hỗ trợ được ban hành và triển
khai thực hiện rộng khắp trong cả nước, nhất là tại các vùng có đông đồng bào dân
tộc thiểu số sinh sống. Trong đó, trọng tâm là các chương trình, chính sách tập
trung vào việc hỗ trợ nâng cao thu nhập cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số; cụ thể
các chương trình, chính sách trong giai đoạn 2011 –2015 (1)bao gồm:Về phát triển
sản xuất: có 29 văn bản chỉ đạo chung và chính sách hỗ trợ được áp dụng tại vùng
dân tộc thiểu số và miền núi; thông qua đó, hộ đồng bào dân tộc thiểu số được hỗ
trợ giống, thức ăn chăn nuôi, công cụ lao động, máy móc, thiết bị chế biến sản
phẩm nông nghiệp, vật tư, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật; hỗ trợ tập huấn, tham
quan và chuyển giao kỹ thuật... tạo điều kiện thuận lợi, giúp các xã đặc biệt khó
khăn của cả nước thực hiện 2.682 mô hình phát triển sản xuất, tổ chức 814 lớp tập
huấn về khuyến nông, khuyến lâm và chuyển giao kỹ thuật cho trên 1,3 triệu hộ
dân tộc thiểu số. Về chính sách tín dụng: có 12 văn bản chỉ đạo chung và chính
sách được ban hành và triển khai thực hiện. Theo số liệu của Ngân hàng Chính
sách xã hội, tính đến 31/5/2015 tổng số dư nợ các chương trình tín dụng ưu đãi
thực hiện tại vùng dân tộc thiểu số và miền núi đạt 135.686 tỷ đồng với hơn 8,4
triệu khách hàng còn dư nợ. Các chính sách tín dụng đã góp phần quan trọng hỗ trợ
về vốn, tạo điều kiện giúp hộ dân tộc thiểu số phát triển sản xuất kinh doanh và
phát triển kinh tế hộ.Chính sách giảm nghèo: Chương trình giảm nghèo vùng dân
tộc thiểu số và miền nuói thực hiện theo Nghị quyết số 80/NQ-CP của Chính
phủ, Quyết định 1489/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và các chương
trình, chính sách giảm nghèo khác do các Bộ, ngành theo dõi, quản lý. Qua 5
năm thực hiện, các chương trình, chính sách giảm nghèo tiếp tục hoàn thành mục
tiêu về giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo chung của cả nước đã giảm được 8,23% so với
năm 2010. Thông qua thực hiện chương trình 135 về hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng,
phát triển sản xuất cho các xã
(1)Trích:BáocáoTổngkếtcôngtácdântộcnhiệmkỳ20112015vàphươnghướng,nhiệmvụcôngtácdântộcgiaiđoạn2016-2020;(trang4-12)
động tạo ra thu nhập; (8) tiếp cận chính sách; (9) Vay vốn từ các định chế chính
thức.Hình 3-1: Khung nghiên cứu của đềtàiNguồn: Lược khảo các nghiên cứu có
liên quanKinh nghiệm của chủ hộTrình độ học vấn của chủhộTỷ lệ phụ thuộcSố
nhân khẩu trong hộThu nhập của hộ đồng bào Khmer trên địa bàn tỉnh Cà
MauNghề nghiệp chính của chủ hộ Vay vốn chính thức Tiếp cận chính sáchSố hoạt
động tạo ra thu nhậpDiện tích đất sản xuất
243.1.2. Mô hình phân tíchMô hình kinh tế lượng: Y = b0+ biXi+ εTrong đó:Y : là
thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình (biến phụ thuộc), đơn vị tính là ngàn
đồng/người/năm; b0: là hằng số hồi quy; bi: là các hệ số hồi quy; Xi: là các biến
độc lậpvà ε: là sai số.3.2. DỮLIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU3.2.1. Mô
tảvà định nghĩa các biến trong mô hình3.2.1.1. Biến phụthuộcTheo Tổng cục thống
kê (2011), thu nhập là tổng số tiền mà một người hay một gia đình kiếm được
trong 1 ngày, 1 tuần hay 1 tháng, hay nói cụ thể hơn là tất cả những gì mà người ta
thu được khi bỏ sức lao động một cách chính đáng được gọi là thu nhập. Thu nhập
bình quân đầu người 1 tháng được tính bằng cách chia tổng thu nhập trong năm
của hộ dân cư chosố nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng.Thu nhập của hộ là
toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừchi phí sản xuất mà
hộ và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định.Thu nhập của
hộ bao gồm: (1) Thu nhập từ tiền công, tiền lương; (2)Thu nhập từ sản xuất nông,
lâm nghiệp, thuỷ sản (sau khi đã trừ chi phí và thuế sản xuất);(3)Thu nhập từ sản
xuất ngành nghề phi nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (sau khi đã trừ chi phí và thuế sản
xuất); (4) Thu khác được tính vàothu nhập như cho biếu, mừng, lãi tiết kiệm... Các
khoản thu không tính vào thu nhập gồm rút tiền tiết kiệm, thu nợ, bán tài sản, vay
nợ, tạm ứng và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được do liên doanh, liên kết
trong sản xuất kinh doanh ...Biến phụ thuộc (Y): Biểu thị thu nhập bình quân đầu
người của hộ đồng bào dân tộc Khmer/năm (1.000 đồng), được tính bằng cách lấy
tổng thu nhập của hộ
25chia cho số nhân khẩu trong hộ. Trong đó, thu nhập của hộ được tính bằng tổng
biến này có mối quan hệ nghịch biến với biến phụ thuộc (Y). Diện tích đất sản xuất
(X6): Là biến thể hiện diện tích đất sản xuất của chủ hộ (1.000m2). Đối với hộ gia
đình ở nông thôn, đất sản xuất là tư liệu chính và có tính chất quyết định đến thu
nhập của hộ. Do đó thiếu đất hoặc không có đất sản xuất thì hộ gia đình thường có
thu nhập thấp. Giả định biến này có quan hệ cùng chiều với biến phụthuộc (Y).Số
hoạt động tạo ra thu nhập (X7): Là biến thể hiện số hoạt động tạo ra thu nhập của
hộ. Ở nông thôn các hoạt động nông nghiệp là chủ yếu và thường sản xuất theo
mùa vụ nênphụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên. Do vậy, việc tạo ra thêm thu
nhập bằng cách đa dạng hoá từ nhiều nguồn giúp gia đình giảm thiểu được rủi ro
và tăng thu nhập. Giả định biến này có quan hệ cùng chiều với biến phụ thuộc
(Y).Bảng 3.1: Biến độc lập trong mô hình nghiên cứuTên biếnDiễn giảiCăn cứ
chọn biếnKỳ vọng dấuNghề nghiệp chính của chủ hộ (X1)Là biến giả, nhận giá trị
là 0 nếu chủ hộ làm nghề nông; 1 nếu nghề khácShrestha và Eiumnoh (2000),
Nguyễn Sinh Công (2004), Nguyễn Thị Yến Mai (2011)(+)Kinh nghiệm củachủ hộ
(X2)Nhận giá trị tương ứng với số năm làm việc của chủ hộ (năm)Nguyễn Xuân
Thành (2006), Nguyễn Quốc Nghi (2011)(+)Trình độ học vấn của chủ hộ
(X3)Nhận giá trị tương ứng với số năm đi học của chủ hộ (năm)Shrestha và
Eiumnoh (2000), Nguyễn Xuân Thành (2006), Bùi Quang Bình (2008), (+)Số nhân
khẩu trong hộ (X4)Thể hiện số người trong hộ gia đình (người)Okurut và cộng sự
(2002),Đinh Phi Hổ (2006)(-)Tỷ lệ phụ thuộc (X5)Tỷ lệ phần trăm tổng số người
không nằm trong độ tuổi lao động trong tổng số người trong hộ(%)Schwarze
(2004), Karttunen (2009) Nguyễn Trọng Hoài (2010)(-)Diện tích đất sản xuất
(X6)Diện tích đất canh tác thực tế của hộ (1.000m2)Shrestha và Eiumnoh (2000),
Lê Thanh Sơn (2008), (+)
27Mwanza (2011)Số hoạt động tạo rathu nhập (X7)Số lượng hoạt động tạo ra thu
nhập của hộ(hoạt động)Đinh Phi Hổ (2010), Nguyễn Quốc Nghi (2011)(+)Tiếp cận
chính sách (X8)Biến giả, nhận giá trị 1 nếu hộ nhận được hỗ trợ của Nhà nước,
ngược lại nhận giá trị 0Nguyễn Quốc Nghi và Bùi Văn Trịnh (2011)(+)Vay vốn
Tại mỗi xã, chọn ngẫu nhiên 2 ấp để tiến hành khảo sát; mỗi ấp phỏng vấn 10 hộ.
Lựa chọn ngẫu nhiên hộ đồng bào dân tộc Khmer từ danh sách do chính quyền cấp
xã cung cấp danh sách trên địa bàn các ấp. Số lượng phiếu khảo sát phân bổ cho
từng xã được trình bày tại bảng 3.2.Bảng 3.2: Phân bổ số lượng phiếu khảo
sátSttTên xãHuyệnSố lượng phiếukhảo sát1Thanh TùngĐầm Dơi202Ngọc
ChánhĐầm Dơi203Tân DuyệtĐầm Dơi204Quách Phẩm BắcĐầm Dơi205Trần
PhánĐầm Dơi206Khánh HòaU Minh207Khánh LâmU Minh208Khánh ThuậnU
Minh209Nguyễn PhíchU Minh2010Khánh Bình Tây BắcTrần Văn
Thời2011Khánh HưngTrần Văn Thời20Tổng số220Nguồn: Tính toán của tác giả
(2016)
293.2.3.2. Thiết kếbảng hỏi định lượngDữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua
phỏng vấn trực tiếp hộ dân tộc Khmer bằng bảng câu hỏi in sẵn. Điều tra viên đến
nhà và phỏng vấn trực tiếp chủ hộ hoặc người đại diện của hộ gia đình. Trong
những trường hợp hộ dân từ chối tham gia vào các cuộc phỏng vấn, hộ đó sẽ được
thay thế bằng hộ gia đình khác.Bảng phỏng vấn gồm 3 phần chủ yếu: Phần đầu
giới thiệu mục đích của cuộc phỏng vấn, yêu cầu phỏng vấn và cam kết với người
cung cấp thông tin. Phần tiếp theo là các mục hỏi được sắp xếp phù hợp theo từng
yếu tố, hình thức câu hỏi đóng. Phần cuối là những câu hỏi mở và thông tin cá
nhân của người được phỏng vấn.Bảng câu hỏi gồm có những thông tin chính như
sau: Thông tin về hộ gia đình: thông tin nhân khẩu, thu nhập, tuổi của chủ hộ, học
vấn; thông tin về nghề nghiệp; tiếp cận chính sách, vay vốn chính thức.Nội dung
chi tiết của bảng câu hỏi khảo sát đượctrình bày ở phần phụ lục. 3.2.3.3. Quy trình
xửlý dữliệu sơ cấpTheo 04 bước chủ yếu sau:Bước 1: Sàng lọc thủ công, loại bỏ
những phiếu khảo sát không hợp lệ như: thiếu thông tin, điền sai thông tin hoặc
thông tin không chính xác.Bước 2: Mã hoá và nhập liệu trên phần mềm Stata12,
trong quá trình nhập tiếp tục loại bỏ những phiếu khảo sát không phù hợp.Bước 3:
Xử lý sơ bộ, kiểm tra mức độ chính xác của quá trình nhập dữ liệu.Bước 4: Tiến
hành xử lý số liệu bằng phần mềm Stataphiên bản 12.03.2.4. Phương pháp phân