Tác động của nợ công đối với tăng trưởng kinh tế việt nam - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

__________________

MAI THỊ PHƯƠNG THẢO

TÁC ĐỘNG CỦA NỢ CÔNG ĐỐI VỚI
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh – 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
_____________________

MAI THỊ PHƯƠNG THẢO

TÁC ĐỘNG CỦA NỢ CÔNG ĐỐI VỚI
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: Tài chính – ngân hàng
Mã số: 60340201

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÊ ĐẠT CHÍ


2.1 Khung lý thuyết, các mô hình kinh tế về nợ công và tăng trưởng ......................... 5
2.1.1 Khung lý thuyết về nợ công và tăng trưởng kinh tế .................................... 5
2.1.2 Các mô hình kinh tế về nợ công và tăng trưởng kinh tế .............................. 9
2.2 Các bằng chứng thực nghiệm và khung phân tích ................................................ 11
2.2.1 Các bằng chứng thực nghiệm..................................................................... 11
2.2.2 Giới thiệu khung phân tích nền tảng .......................................................... 17
2.3 Các nghiên cứu về nợ công và tăng trưởng tại Việt Nam .................................... 25
CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .....................................35
3.1 Dữ liệu nghiên cứu ............................................................................................... 35
3.1.1 Nguồn dữ liệu nghiên cứu .......................................................................... 35


3.1.2 Cơ sở ước tính tốc độ tăng năng suất nhân tố tổng hợp TFP ..................... 35
3.2 Phương pháp nghiên cứu ...................................................................................... 44
3.3 Dự báo mô hình lý thuyết ..................................................................................... 48
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU ..............................................................50
4.1 Diễn tả mẫu phân tích ........................................................................................... 50
4.2 Trình tự phân tích dữ liệu ..................................................................................... 51
4.3 Kết quả của các phương pháp kiểm định và ước lượng ....................................... 52
4.3.1 Kiểm định nghiệm đơn vị .......................................................................... 52
4.3.2 Kiểm định đường bao................................................................................. 52
4.3.3 Kết quả xác định độ trễ tối ưu .................................................................... 53
4.3.4 Kết quả ước lượng mối quan hệ dài hạn bằng mô hình ARDL ................. 56
4.3.5 Kết quả kiểm định tự tương quan .............................................................. 58
4.3.6 Kết quả kiểm định phương sai thay đổi ..................................................... 59
4.3.7 Kết quả kiểm định sự phù hợp của dạng hàm ............................................ 59
4.3.8 Kết quả mô hình hiệu chỉnh sai số ECM ................................................... 60
4.3.9 Kết quả kiểm định tổng tích lũy CUSUM ................................................. 62
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN ........................................................................................... 63
5.1 Các kết quả nghiên cứu chính ............................................................................... 63


GDP

Gross Domestic product

Tổng sản phẩm quốc nội

GNP

Gross National Product

Tổng sản lượng quốc gia

IMF

International Monetary Fund

Quỹ Tiền tệ quốc tế

Organization for Economic

Tổ chức Hợp tác và Phát triển

Co-operation and Development

Kinh tế

PIM

Perpetual Inventory Method

Bảng 4.8: Kết quả kiểm định tự tương quan bậc 2 ...................................................... 59
Bảng 4.9: Kiểm định phương sai thay đổi ................................................................... 59
Bảng 4.10: Kiểm định sự phù hợp của dạng hàm ........................................................ 60
Bảng 4.11: Kết quả ước lượng hệ số ngắn hạn bằng mô hình ECM ........................... 60
Bảng 5.1: Tổng hợp kết quả từ mô hình của luận văn ................................................ 63


DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 4.1: Các lựa chọn độ trễ tối ưu của mô hình ARDL theo tiêu chí SC ................ 54
Hình 4.2. Kiểm định tổng tích lũy của phần dư CUSUM ............................................ 62


1

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1 Lý do chọn đề tài
Nợ công tăng cao đã và đang trở thành một bài toán thách thức lớn dành cho các
nền kinh tế đang phát triển trong hai thập niên đầu của thế kỷ 21 hiện nay. Trong
quá trình chuyển đổi kinh tế, các quốc gia đang phát triển cần nhiều vốn cho hoạt
động đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng. Để tài trợ cho ngân sách này, các Chính phủ
có thể gia tăng vay mượn hoặc đánh thuế cao hơn cho sản lượng đầu ra của nền
kinh tế. Tuy nhiên, thuế thường có xu hướng bóp méo cấu trúc giá cả, tạo ra các vấn
đề vốn giữa các thế hệ, và thậm chí nó có thể gây ra sự chuyển dịch nguồn lực vốn
đầu tư ra khỏi quốc gia. Vì vậy phương án vay mượn nợ để tài trợ cho chi tiêu công
nhằm tăng phúc lợi xã hội và thúc đẩy kinh tế thường được các Chính phủ lựa chọn
nhiều nhất.
Các nhà làm chính sách cũng như các tổ chức quốc tế đã chỉ ra rằng ở các quốc gia
đang phát triển, trong đó có Việt Nam, nợ nội địa ít được quan tâm so với nợ nước
ngoài. Việc phát hành nợ nội địa có tác dụng bảo vệ quốc gia đó tránh khỏi những

tương ứng 45 đến 64 nghìn tỷ đồng. Với mức thâm hụt này, Việt Nam đang thuộc
diện là nước có thâm hụt ngân sách cao nhất so với các nước trong khu vực.
Tính trong giai đoạn 2007-2014, nợ công Việt Nam đã tăng khoảng 25%, đạt mức
tăng trung bình 4%/năm. Tính theo tốc độ tăng trung bình, đến năm 2019, dự báo
nợ công Việt Nam sẽ đạt mức 100% GDP. Nợ công đạt trên 100% GDP là một con
số không nhỏ đối với nền kinh tế đang phát triển và quy mô nhỏ, phụ thuộc nhiều
vào xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp thô và công nghiệp nhẹ như Việt Nam.
Tỷ lệ trả nợ trực tiếp của Chính phủ so với tổng thu ngân sách Nhà nước năm 2014
khoảng 14,2% (theo quy định của Chiến lược nợ công là không quá 25%) nhưng
nếu tính cả vay để đảo nợ và trả nợ vay về cho vay lại thì khoảng 26,2%.
Theo “Nợ công Việt Nam qua góc nhìn chuyên gia” (Vương Nguyệt Minh, 2013),
Việt Nam là nước có thu nhập trung bình thấp, dân số đang già hóa nhanh, năng
suất lao động bình quân thấp và giảm dần, gây áp lực lớn khiến nợ công tăng nhanh
hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế.


3

Từ những luận cứ trong sử dụng nợ nội địa và nợ nước ngoài ở các quốc gia đang
phát triển và với số liệu hiện nay về thực trạng nợ công của Việt Nam, việc nghiên
cứu về sự tác động của nợ công đến tăng trưởng kinh tế là hết sức cần thiết, vì qua
đó có thể giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan về thực trạng nợ công hiện nay, đồng
thời cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách các biện pháp nhằm nâng cao lợi
ích của việc sử dụng các công cụ nợ.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về nợ công đã đưa ra các quan điểm trái
ngược về sự tác động của nợ đối với tăng trưởng kinh tế của các quốc gia trên thế
giới. Chẳng hạn, Levy và Chowdhury (1993) đã kết luận rằng nợ nước ngoài có thể
gián tiếp làm giảm tổng thu nhập quốc dân GNP thông qua tác động làm sụt giảm
vốn đầu tư, gia tăng tỷ lệ thuế. Fosu (1996) tranh luận rằng tăng trưởng GDP chịu

ước lượng tác động giữa các biến số kinh tế đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam.
Trong dài hạn, chúng tôi sử dụng kiểm định đồng liên kiết và mô hình phân phối trễ
tự hồi quy ARDL để phân tích và ước lượng tác động giữa các biến số kinh tế đối
với tăng trưởng kinh tế Việt Nam.
1.5 Giới thiệu tổng quan cấu trúc bài nghiên cứu
Kết cấu của bài nghiên cứu sẽ đi theo trình tự như sau:
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng thực nghiệm và khung phân tích
Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu được sử dụng để đo lường tác động
của nợ công lên tăng trưởng kinh tế và mối quan hệ của nợ công với tăng trưởng
trong ngắn hạn và dài hạn.
Chương 4: thảo luận về kết quả kiểm định và ước lượng của mô hình.
Chương 5: đưa ra các kết luận chính của bài nghiên cứu, đề xuất các giải pháp và
hạn chế của mô hình.


5

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT, BẰNG CHỨNG
THỰC NGHIỆM VÀ KHUNG PHÂN TÍCH
2.1 Khung lý thuyết, các mô hình kinh tế về nợ công và tăng trưởng
Lý thuyết về mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế là một đề tài thu hút
được nhiều tranh luận của các học giả thuộc các trường phái kinh tế khác nhau, cả
tân cổ điển và Keynes. Tuy nhiên, các nghiên cứu của các học giả này không đưa ra
một câu trả lời đồng nhất mà tồn tại 3 luồng quan điểm:
- Thứ nhất, quan điểm nợ công có tác động tiêu cực đối với tăng trưởng kinh tế
quốc gia với đại diện là Friedman (1988).
- Thứ hai, quan điểm nợ công ở mức hợp lý có tác động tích cực đến tăng trưởng
kinh tế do tác động đến tổng cầu thuộc về các nhà kinh tế học theo trường phái
Keynes.

phủ có thể đưa ra các gói kích cầu để tác động vào nền kinh tế. Các gói kích cầu này
có thể thực hiện bằng cách Chính phủ đi vay để tăng chi tiêu công. Việc tăng tổng
cầu sẽ có tác dụng thúc đẩy tổng cung và từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Robert Eisner (1984) cho rằng nếu nợ công ở mức hợp lý sẽ có tác động làm gia
tăng việc tổng cầu, tăng tỷ suất lợi nhuận đầu tư từ đó thúc đẩy đầu tư cho dù lãi
suất có tăng lên. Chính vì thế, ông đã áp dụng lý thuyết này trong các phân tích thực
chứng và chỉ ra rằng thâm hụt ngân sách (hay nợ công) có quan hệ tỷ lệ thuận với
tốc độ tăng trưởng của thu nhập. Những phát hiện của Eisner tuy nhiên lại không
nhận được nhiều sự đồng tình chẳng hạn, Gramlich (1989) cho rằng việc sử dụng
nợ công để tài trợ cho thâm hụt ngân sách không quan trọng trong việc quyết định
tính hiệu quả của chính sách tài khóa. Quan điểm của phái Keynes cũng vấp phải sự
phản đối của những người theo trường phái kinh tế Ricardo khi họ cho rằng chi tiêu
tăng thêm của Chính phủ sẽ không có tác động lên mức thu nhập vì người dân sẽ
lập tức tiết kiệm nhiều hơn để trả thuế tăng lên trong tương lai hoặc bù lại lạm phát
cao hơn do Chính phủ tăng chi tiêu trong hiện tại. Tác động ròng lên tổng cầu sẽ
bằng không.


7

(iii) Quan điểm 3: Nợ công có tác động rất nhỏ tới tăng trưởng kinh tế
Quan điểm của trường phái Ricardo trong đó Robert Barro (1989) là một đại diện
tiêu biểu. Quan điểm này cho rằng, thâm hụt ngân sách (nợ công) có tác động rất
nhỏ tới nền kinh tế vì nợ công không có tác động gì đến tổng cầu. Việc gia tăng chi
tiêu công ngày hôm nay sẽ làm tăng thuế cả ở hiện tại và tương lai trong khi người
tiêu dùng sẽ định hướng hành vi tiêu dùng của họ dựa trên giá trị hiện tại của thu
nhập của họ trong tương lai. Dù cho việc gia tăng thuế diễn ra ở hiện tại hay tương
lai thì việc tiêu dùng cũng sẽ giảm tương ứng với việc chi tiêu của Chính phủ.
Robert Barro (1989) cho rằng khi Chính phủ vay nợ thì nhóm người già nhận thấy
rằng con cháu họ sẽ bị thiệt hại hơn (giả sử là người già quan tâm tới phúc lợi của

ròng lên tổng cầu sẽ bằng không.
Barro cũng thừa nhận rằng các giả thiết này là quá mạnh tuy nhiên cũng cho rằng dù
cho lý thuyết của trường phái Ricardo không hoàn hảo thì vẫn có thể sử dụng được
như là một tiêu chuẩn để đo lường tính hiệu quả của chính sách tài khóa của một
quốc gia. Vì vậy, để đưa ra nhận định quan điểm nào phù hợp với từng thời điểm
của quốc gia còn phải phụ thuộc vào nhân tố quan trọng đó là hành vi của người
tiêu dùng cũng như tính hiệu quả trong việc chi tiêu ngân sách Nhà nước.
Các lý thuyết trên đây cho thấy nợ công có thể có tác động tích cực và tiêu cực và
cho rằng nợ công ở mức hợp lý có thể kích thích tăng trưởng kinh tế. Vậy mức nợ
công hợp lý là bao nhiêu hay và tại sao vượt qua mức đó thì nợ công sẽ có tác động
xấu đến tăng trưởng kinh tế?
Câu trả lời nằm trong lý thuyết về ngưỡng nợ của Krugman (1988).
Krugman (1988) trình bày một tình trạng vượt ngưỡng nợ là tình trạng trong đó số
tiền dự kiến chi trả nợ sẽ giảm dần khi dung lượng nợ tăng lên. Lý thuyết này cho
rằng nếu như nợ trong tương lai vượt quá khả năng trả nợ của một nước thì các chi
phí dự tính chi trả cho các khoản nợ sẽ kìm hãm đầu tư trong nước từ đó ảnh hưởng
xấu đến tăng trưởng.
Lập luận của lý thuyết “ngưỡng nợ” có thể được xem xét qua đường cong Laffer.
Ðường cong Laffer cho thấy rằng tổng nợ càng lớn sẽ đi kèm với khả năng trả nợ
càng giảm. Trên phần dốc lên của đường cong, giá trị hiện tại của nợ càng tăng sẽ đi
cùng với khả năng trả nợ cũng tăng lên. Trên phần dốc xuống của đường cong, giá
trị hiện tại của nợ càng tăng lại đi kèm với khả năng trả nợ càng giảm.


9

Ðỉnh đường cong Laffer đã gợi ý điểm mà tại đó sự tăng lên trong tổng nợ bắt đầu
tạo ra gánh nặng cho đầu tư, cải tổ kinh tế và các hoạt động khác. Ðây là điểm mà
tại đó nợ bắt đầu ảnh hưởng ngược chiều đến tăng trưởng. Vì vậy đỉnh của đường
cong Laffer là mức độ nợ tối ưu mà một quốc gia có thể duy trì mà không phải lo

xem là yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến gia tăng sản lượng quốc gia. Yếu tố
này còn được nhấn mạnh như là vốn nhân lực của nền kinh tế.
 Đất đai nông nghiệp và tài nguyên thiên nhiên khác R: là một trong những
yếu tố sản xuất cổ điển, những tài nguyên quan trọng nhất là đất đai, khoáng
sản, đặc biệt là dầu mỏ, rừng và nguồn nước. Tài nguyên thiên nhiên có vai
trò quan trọng để phát triển kinh tế, có những quốc gia được thiên nhiên ưu
đãi có thể đạt được mức thu nhập cao từ việc tận dụng, sản xuất và mua bán
nguồn tài nguyên thiên nhiên đó.
 Công nghệ: trong suốt lịch sử loài người, tăng trưởng kinh tế rõ ràng không
phải là sự sao chép giản đơn, là việc đơn thuần chỉ tăng thêm lao động và tư
bản, ngược lại, nó là quá trình không ngừng thay đổi công nghệ sản xuất.
Công nghệ sản xuất cho phép cùng một lượng lao động và tư bản có thể tạo
ra sản lượng cao hơn, nghĩa là quá trình sản xuất có hiệu quả hơn. Ứng dụng
các công nghệ mới vào sản xuất sẽ nâng cao quy mô sản lượng, chất lượng
sản phẩm, tiết kiệm lao động sống, chi phí sản xuất thấp, do đó gia tăng tổng
sản lượng quốc gia.
Như vậy hàm sản xuất tổng hợp được thể hiện như sau:
Y = F (K, L, R, T)
Ngoài các yếu tố đầu vào trên, tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc vào những yếu tố
khác nữa, được gọi là yếu tố phi kinh tế, như:
 Thể chế kinh tế – chính trị: bao gồm bộ máy tổ chức thực hiện, pháp luật, các
chế độ, chính sách, chiến lược, những nguyên tắc quản lý… Một thể chế
không phù hợp sẽ tạo rào cản làm ảnh hưởng đến sử dụng hiệu quả các
nguồn lực. Do đó yếu tố thể chế đóng vai trò “hành lang” thuận lợi cho quá
trình tăng trưởng kinh tế của một quốc gia.
 Đặc điểm văn hóa – xã hội, tôn giáo: trình độ văn hóa của một dân tộc thấp
sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất, đến khả năng nghiên cứu sáng tạo ra các
phát minh. Những tập tục cổ hũ, quan niệm sống lạc hậu sẽ cản trở việc ứng



Bình Dương và các nước châu Phi ở phía Nam trong giai đoạn 1970-1988. Kết quả


12

nghiên cứu tìm thấy rằng nợ nước ngoài có thể gián tiếp làm giảm tổng thu nhập
quốc dân GNP thông qua tác động làm sụt giảm vốn đầu tư, gia tăng tỷ lệ thuế.
Cunningham (1993) tìm thấy rằng gánh nặng nợ có ảnh hưởng tiêu cực lên tăng
trưởng kinh tế do gây ra sự sụt giảm trong năng suất lao động và vốn. Trong nghiên
cứu khác của Sawada (1994) tìm thấy rằng các nước mắc nợ cao đối mặt với vấn đề
“debt overhang”. Bởi vì khoản nợ nước ngoài cao hơn giá trị hiện giá của dòng lợi
tức trong tương lai nên khi tổng nợ càng lớn thì khả năng trả nợ của các nước này
càng giảm dần.
Chowdhury (2001) nghiên cứu thực nghiệm về nợ công và tăng trưởng kinh tế tại
các quốc gia đang phát triển từ 1982 đến 1999. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu nợ công
của các quốc gia và chia làm hai nhóm nước là nhóm nước mắc nợ cao và nhóm
nước mắc nợ thấp. Kết quả tìm thấy các quốc gia thuộc cả hai nhóm nước đều chịu
tác động tiêu cực từ nợ công lên tăng trưởng kinh tế. Trong đó, nhóm nước mắc nợ
cao đối mặt với tình trạng “debt overhang”, họ sẽ phải tiếp tục đối mặt với vấn đề
sụt giảm kinh tế, tăng trưởng chậm, nghèo đói, và lại tiếp tục vay nợ. Để giảm được
khó khăn này các nước mắc nợ cao cần phải được xóa nợ hoặc có các chương trình
cải cách, xử lý nợ thích hợp.
Siddiqui và Malik (2001) tiến hành kiểm tra tác động của nợ công lên tăng trưởng
kinh tế tại các quốc gia thuộc khu vực châu Á gồm Ấn Độ, Sri Lanka và Pakistan
trong giai đoạn từ 1975 đến 1999. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng (panel data) áp
dụng phương pháp thống kê bình phương nhỏ nhất OLS kết hợp mô hình Fixed
Effect để đo lường tác động cụ thể của nợ công lên tăng trưởng kinh tế, với biến
giải thích chính của mô hình tăng trưởng gồm có tỷ lệ nợ nước ngoài so với GDP, tỷ
lệ chi trả nợ, tỷ lệ đầu tư so với GDP, tỷ lệ thâm hụt ngân sách so với GDP, tốc độ
tăng trưởng dân số và độ mở cửa hoạt động thương mại. Kết quả tìm thấy các biến

ru-pi sẽ tăng lên và kết quả là gánh nặng chi trả nợ tăng cao hơn, kéo theo sự sụt
giảm trong tăng trưởng kinh tế và gia tăng mức độ nghèo đói của quốc gia đó.
Nghiên cứu ủng hộ việc nêu ra những lý do căn bản gây nên tăng gánh nặng nợ và
các tác động trái chiều của nợ lên tăng trưởng kinh tế khi xây dựng chiến lược cắt
giảm nợ. Các phương pháp cải cách chính sách thuế, mở rộng sản xuất và đa dạng
hóa xuất khẩu có thể sẽ rất hữu ích trong việc đối phó, khắc phục vấn đề nợ công.


14

Nghiên cứu Schclarek (2004) trên 59 nước đang phát triển và các nước công nghiệp
từ 1970 đến 2002. Schclarek tìm thấy ở các nước công nghiệp không có bất kỳ một
mối quan hệ tuyến tính hay phi tuyến tính nào giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế.
Nghiên cứu lại tìm thấy đối với các nước đang phát triển, nợ nước ngoài có tác
động phi tuyến tính – tiêu cực lên tăng trưởng kinh tế. Schclarek cho rằng ở các
quốc gia đang phát triển thì không tồn tại mối quan hệ hình chữ U đảo ngược giữa
nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế như Pattillio (2002) đã đưa ra. Vì theo
Pattillio (2002) ở các quốc gia đang phát triển, nợ nước ngoài có tác động tích cực
lên tăng trưởng kinh tế nếu tỷ lệ nợ trên GDP ở dưới một ngưỡng nợ nào đó, chỉ khi
tỷ lệ này vượt qua ngưỡng nợ đó thì nợ có tác động tiêu cực lên tăng trưởng kinh tế.
Một nghiên cứu khác của Waheed (2006) cho thấy thâm hụt ngân sách có thể được
tài trợ bằng nợ nội địa. Do vậy để giảm nợ công Chính phủ nên hạn chế tình trạng
thâm hụt ngân sách bằng cách tập trung vào cắt giảm chi phí phát triển hơn là gia
tăng thuế thu nhập trong nước.
Tương tự, Kumar và Woo (2010) nghiên cứu thực nghiệm trên 38 nền kinh tế phát
triển và mới nổi giai đoạn 1970 – 2007 tìm thấy rằng có một mối quan hệ nghịch
chiều giữa nợ và tăng trưởng kinh tế. Trong dài hạn, mối quan hệ giữa nợ và tăng
trưởng kinh tế là yếu hơn trong ngắn hạn.
Qureshi và Ali (2010) sử dụng phương pháp thống kê bình phương nhỏ nhất OLS
để kiểm định và tìm thấy rằng nợ công có tác động tiêu cực rất lớn đối với nền kinh

mại trong dài hạn của nền kinh tế Ấn Độ.
Vanlalramsanga (2012) tiến hành một nghiên cứu thực nghiệm nhằm kiểm tra mối
quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế tại bang Mizoram, Ấn Độ. Mô hình
của Vanlalramsanga được thiết lập với biến phụ thuộc là tốc độ tăng trưởng kinh tế
được đo lường bằng chỉ số tổng sản lượng của bang và biến độc lập là tỷ lệ nợ công.
Dữ liệu được thu thập là số liệu về tăng trưởng kinh tế và nợ công trong khoảng
thời gian 1987-2010 với 23 quan sát. Nghiên cứu này trước hết áp dụng phân tích
hồi quy để kiểm tra mối liên hệ phụ thuộc giữa các biến của mô hình. Để kiểm tra
sự ổn định của dữ liệu chuỗi thời gian, kiểm định Augmented Dickey-Fuller (ADF)
được áp dụng. Sau đó, tác giả sử dụng Pair-wise Granger Causality để tìm ra mối


16

quan hệ nhân quả giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế. Kết quả phân tích cho thấy
nợ công có quan hệ tỷ lệ nghịch với tăng trưởng kinh tế, nghĩa là, nợ công càng lớn
thì tăng trưởng kinh tế càng giảm. Tuy nhiên, kết quả phân tích sử dụng Pair-wise
Granger Causality lại cho thấy khi kinh tế tăng trưởng chậm thì nợ công sẽ tăng
trong khi nợ công cao lại không phải là nguyên nhân dẫn đến kinh tế suy giảm.
Nghiên cứu của Vanlaramsanga có đóng góp là áp dụng Pair-wise Granger
Causality để trả lời câu hỏi nợ công cao có phải là nguyên nhân làm cho tăng trưởng
kinh tế chậm lại hay không. Tuy nhiên, việc giới hạn dữ liệu trong vòng 23 năm tại
một bang ở Ấn Độ làm giảm khả năng áp dụng của kết quả nghiên cứu ở các bối
cảnh khác. Egert (2013) đã tiến hành một nghiên cứu thực nghiệm nhằm xác định
một mức trần nợ công mà trên mức đó thì nợ công sẽ có quan hệ tỷ lệ nghịch với
tăng trưởng, nghĩa là càng tăng nợ công thì tăng trưởng càng giảm. Tác giả sử dụng
bộ dữ liệu Reinhart-Rogoff công bố bởi Herndon et al. (2013) trong đó có dữ liệu
về nợ công và tăng trưởng của các nước OECD trong thời gian hơn 200 năm từ
1790 đến 2009. Các mức trần nợ công 30%, 60%, 90% đã được sử dụng phương
pháp thống kê mô tả để phân tích mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng trong

liên hệ số người lao động và máy móc với quy mô sản lượng của doanh nghiệp. Ví
dụ, hàm sản xuất của một nhà máy dệt may sẽ cho ta biết nhà máy có thể sản xuất
thêm bao nhiêu sản lượng nếu tuyển dụng thêm 50 người lao động và mua thêm
năm chiếc máy dệt nữa. Các hàm sản xuất thường được phát triển từ mối liên hệ
giữa một số yếu tố đầu vào hữu hình nhất định và số sản lượng vật chất hữu hình
được sản xuất ra từ số yếu tố đầu vào đó. Ở cấp độ quốc gia hay toàn bộ nền kinh
tế, hàm sản xuất mô tả mối quan hệ giữa quy mô lực lượng lao động của một nước
và giá trị trữ lượng vốn với mức tổng sản lượng nội địa của đất nước đó. Mối quan
hệ trong toàn nền kinh tế này được gọi là hàm tổng sản lượng.
Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi tiếp cận mô hình tăng trưởng từ hàm sản
lượng. Nếu Y tượng trưng cho tổng sản lượng (và do đó cũng là tổng thu nhập), K
là trữ lượng vốn, và L là cung lao động; ở dạng tổng quát nhất, hàm tổng sản lượng
có thể được biểu thị như sau:
Y = F (K, L)

(2.1)



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status