Mục Lục
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục bảng biểu
Danh mục hình
Danh sách các chữ viết tắt
Chương 1: Giới thiệu ................................................................................................ 1
1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu: ......................................................................................1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu ..........................................................................................3
1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu .................................................4
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu ..................................................................................4
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu .....................................................................................4
1.4 Phương pháp nghiên cứu ...................................................................................4
1.5 Kết cấu của luận văn ..........................................................................................5
Chương 2: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và các yếu tố ảnh hưởng đến thu
hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ........................................................................ 6
2.1 Định nghĩa về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ..............................................6
2.2 Tác động vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến tăng trưởng kinh tế ........6
2.2.1 Tác động của FDI đối với hoạt động sản xuất ............................................7
2.2.2 Tác động của FDI đến thương mại quốc tế .................................................8
2.2.3 Tác động của FDI đến đầu tư của quốc gia bản địa ....................................8
2.3. Lý thuyết về vị trí của đầu tư của dòng vốn FDI ..............................................9
2.3.1 Lý thuyết về thương mại quốc tế (international trade theory) ....................9
2.3.2 Lý thuyết về lợi thế độc quyền (the theory of firm-specific ownership
advantages) ........................................................................................................ 10
2.3.3 Lý thuyết vòng đời sản phẩm .................................................................. 10
2.3.4 Lý thuyết chiết trung eclectic paradigm (OLI) ........................................ 11
2.4 Các yếu tố tác động đến việc thu hút FDI, bằng chứng từ các nghiên cứu thực
4.2.2.2 Mô hình kinh tế lượng với biến phụ thuộc là biến liên tục ................39
4.2.2.3 Mô hình kinh tế lượng ........................................................................40
4.3.1 Dữ liệu nghiên cứu ....................................................................................43
4.3.1.1 Nguồn dữ liệu......................................................................................43
Chương 5: Kết quả nghiên cứu .............................................................................. 45
5.1 Thống kê mô tả các biến nghiên cứu ...............................................................45
5.2 Kết quả mô hình kinh tế lượng ........................................................................49
5.3 Kiểm định sự phù hợp của mô hình .................................................................59
5.3.1 Kiểm định sự phù hợp của mô hình Probit ...............................................59
5.3.2 Kiểm định sự phù hợp của mô hình OLS .................................................59
Chương 6: Kết luận và hàm ý chính sách ............................................................. 61
6.1 Trình bày các khám phá của nghiên cứu .........................................................61
6.2 Trình bày các hàm ý chính sách ......................................................................61
6.3 Hạn chế của nghiên cứu ...................................................................................63
6.4 Hướng nghiên cứu mở rộng .............................................................................64
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Danh mục bảng biểu
Bảng 2.1: Mô hình OLI đối với đầu tư quốc tế ....................................................... 12
Bảng 5.1: Kết cấu sắp xếp dữ liệu của mô hình ...................................................... 45
Bảng 5.2: Bảng kết quả hồi quy của nhóm 1 (Singapore, Brunei, Malaysia) ......... 49
Bảng 5.3: Bảng kết quả hồi quy của nhóm 2 (Trung Quốc, Ấn Độ) ...................... 51
Bảng 5.4: Bảng kết quả hồi quy nhóm 3 (Brunei, Cambuchia, Trung Quốc, Ấn Độ,
Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan, Việt Nam)
.................................................................................................................................. 53
Bảng 5.5: Bảng kết quả hồi quy của nhóm 4 (Trung Quốc, Việt Nam) ................. 54
Bảng 5.6: Bảng tổng hợp kết quả của các mô hình ................................................. 56
Tổ chức Liên hiệp Quốc tế về
on Trade and Development
Thương mại và Phát triển
TI
Transparency International
Tổ chức Minh bạch Quốc tế
WB
World Bank
Ngân hàng Thế giới
IMF
International Monetary Fund
Quỹ Tiền tệ Thế giới
UNCTA
CPI
OLI
Hình 1.1: Dòng vốn đầu tư FDI giữa các nhóm nước giai đoạn 2005- 2014
Bên cạnh sự gia tăng về lượng vốn FDI giữa các quốc gia, vốn FDI còn được
xem là một động lực quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế của rất nhiều nước
trên thế giới (Wang, 2009). Nhiều chính phủ các nước phát triển cũng như các nước
2
đang phát triển cho rằng FDI có thể giúp họ vượt qua sự trì trệ trong phát triển kinh
tế và giải quyết nạn đói nghèo (Brooks et al., 2010). Theo nghiên cứu của Bwalya
(2006) cho rằng FDI có thể hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế thông qua 3 kênh: (i) hỗ
trợ vốn (không liên quan đến nợ nần) nhằm tài trợ đầu tư cho nước thu hút; (ii) nâng
cao trình độ kỹ thuật của nước thu hút; và (iii) chuyển giao công nghệ mới cho các
doanh nghiệp tại các nước nhận đầu tư. Tầm quan trọng đối với việc gia tăng lượng
vốn FDI cho phát triển kinh tế, xã hội đã dẫn đến sự cạnh tranh lớn giữa các nước,
đòi hỏi chính phủ mỗi quốc gia phải đẩy mạnh xúc tiến và cải thiện môi trường đầu
tư.
Khu vực châu Á là một trong những khu vực có mức độ tham nhũng hàng đầu
trên thế giới với chỉ số tham nhũng trung bình năm 2012 là 3,92 so với 4,56 và 6,57
của châu Mỹ và châu Âu (Transparency International - TI, 2012). Ở Việt Nam tham
nhũng được xem như là nguy cơ lớn đe dọa đến sự tồn vong của chế độ (văn kiện
đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X, 2010), ở Trung Quốc chính phủ nước này
cho rằng nếu Trung Quốc không xử lý tốt vấn đề tham nhũng có thể nguy hiểm đối
với sự tồn vong của Đảng Cộng sản Trung Quốc, một số các quốc gia thuộc khu
vực châu Á có chỉ số đo lường mức độ tham nhũng hàng đầu thế giới như Trung
Quốc, Indonesia, Philippines, Việt Nam, Campuchia đã xảy những vụ án về tham
nhũng trở thành chủ đề bàn luận, phân tích về vấn đề tham nhũng của các học giả,
báo chí toàn thế giới, như ngài tổng thống Suharto của Indonesia được mệnh danh
là ngài1 10% (Shang Jin Wei, 2000).
Ngoài ra, các nghiên cứu về tham nhũng chủ yếu thường tập trung vào những
nhân tố thuộc về vấn đề nội tại của nước nhận vốn đầu tư, mà chưa tập trung nghiên
cứu những đặc điểm của nước đầu tư vốn, nghiên cứu này sẽ nghiên cứu thêm về
mức độ tham nhũng ở quốc gia thực hiện đầu tư ảnh hưởng như thế nào đến quyết
định lựa chọn địa điểm đầu tư của doanh nghiệp nước đó.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu chính của bài viết là xem xét mối quan hệ giữa yếu tố
tham nhũng đến việc thu hút dòng vốn FDI ở các quốc gia nhận đầu tư và việc lựa
chọn địa điểm đầu tư của các quốc gia đầu tư, trong phạm vi nghiên cứu là khu vực
Asean +2 (Asean, Trung Quốc và Ấn Độ). Cụ thể bài viết tập trung làm rõ hai mục
tiêu nghiên cứu sau.
4
Mục tiêu thứ nhất là, kiểm tra ảnh hưởng của yếu tố tham nhũng tại các quốc
gia trong nhóm Asean+2 đến việc thu hút dòng vốn FDI. Mục tiêu thứ hai là, xem
xét ảnh hưởng của yếu tố tham nhũng tại các quốc gia thực hiện đầu tư đến quyết
định đầu tư vốn ra nước ngoài.
1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của bài viết là yếu tố tham nhũng và dòng vốn
FDI dịch chuyển vào các quốc gia Đông Nam Á và Trung Quốc, Ấn Độ (gọi tắt là
Asean +2).
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Nhằm đánh giá ảnh hưởng của yếu tố tham nhũng đến kết quả thu hút FDI của
các quốc gia trong khu vực Asean +2, bài viết đã sử dụng các số liệu về kết quả thu
hút FDI của các quốc gia thuộc khu vực Asean +2 trong hai năm 2011 và 2012,
nguồn dữ liệu được tập hợp từ cơ sở dữ liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới
(WB), Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF), Liên hiệp Quốc tế về Thương mại và Phát triển
nhũng đến thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng sẽ được trình bày trong
phần cuối của chương.
Chương 4: Phương pháp nghiên cứu. Nội dung chính của chương bốn là trình
bày về mô hình lý thuyết, sau đó sẽ là mô hình kinh tế lượng của nghiên cứu và giới
thiệu về bộ dữ liệu cũng như các biến số trong mô hình nghiên cứu.
Chương 5: Kết quả nghiên cứu. Chương này sẽ trình bày các kết quả nghiên
cứu có được từ mô hình nghiên cứu đã được đề xuất tại chương bốn theo từng nhóm
nước, sau đó đưa ra một kết luận chung về kết quả nghiên cứu, phần cuối của
chương năm sẽ trình bày các kiểm định thống kê về sự phù hợp của mô hình nghiên
cứu.
Chương 6: Kết luận và hàm ý chính sách. Chương này sẽ trình bày về các
khám phá của bài viết và đề xuất các hàm ý chính sách có được từ kết quả của
nghiên cứu, ngoài ra trong chương sáu cũng trình bày những hạn chế của bài viết và
hướng nghiên cứu mở rộng của bài viết.
6
Chương 2: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và các yếu tố ảnh hưởng đến thu
hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Chương này nghiên cứu tổng quan về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
bao gồm các lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm về các yếu tố xác định vị trí
của dòng vốn đầu tư nước ngoài. Ngoài ra, trong chương hai cũng nêu lên tác động
của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế.
2.1 Định nghĩa về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Xu thế toàn cầu hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ, câu chuyện giao thương, hợp
tác kinh doanh giữa các doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở thị trường nội địa mà
còn được mở rộng ra ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia nhằm đạt được những mục
tiêu khác nhau của các tổ chức, vì vậy cụm từ vốn đầu tư nước ngoài (foreign direct
investment - FDI) đã trở thành một thuật ngữ phổ biến trên toàn thế giới. Có nhiều
Với công nghệ sản xuất tiên tiến các công ty đa quốc gia đã góp phần thúc đẩy
sản xuất trong nước thông qua tác động về mặt công nghệ, các công ty bản địa vốn
có trình độ sản xuất còn chưa phát triển sẽ có điều kiện để học hỏi phương thức sản
xuất, dây chuyền công nghệ của các công ty đa quốc gia, từ đó nâng cao năng lực
sản xuất của chính mình, góp phần tạo ra năng lực sản xuất lớn hơn cho nền kinh tế
quốc gia nhận đầu tư. Ngoài ra, với sự phát triển của hoạt động đầu tư nước ngoài,
các doanh nghiệp bản địa có thể tham gia vào chuỗi cung ứng của các công ty đa
quốc gia, từ đó quốc tế hóa dây chuyền công nghệ, phương thức quản lý thúc đẩy
hoạt động sản xuất trong nước đạt được sự tăng trưởng. Tuy nhiên, chất lượng và
hàm lượng công nghệ của dòng vốn FDI cũng là một vấn đề đáng lưu ý, một số
quốc gia đang phát triển một mặt không thể tăng năng lực sản xuất của mình, mặt
khác phải đối mặt với các vấn đề về ô nhiễm môi trường khi các công ty đa quốc gia
tìm cách kéo dài thời gian hoạt động của các dây chuyền sản xuất cũ kĩ, đã bị cấm
vận hành ở các quốc gia có trình độ khoa học tiến bộ.
Nghiên cứu của Blomström and Kokko (1996) đã kết luận về vai trò thúc đẩy
của FDI đối với năng suất lao động của quốc gia Kenya, và thúc đẩy sử dụng công
nghệ tiên tiến đối với các công ty bản địa. Các kết quả tương tự cũng đã đạt được
trong các nghiên cứu tại Cameroon của Ghura (1997) và tại Cộng hòa Séc đối với
nghiên cứu của Djankov and Hoekman (2000).
8
Kết quả từ các nghiên cứu của Liu và cộng sự (2001), Nguyễn Thị Tuệ Anh và
cộng sự (2006), Phạm Xuân Kiên (2008), Ludo và cộng sự (2008), Mebratie (2010)
khẳng định rằng vốn đầu tư nước ngoài làm gia tăng năng suất lao động của các
doanh nghiệp tại quốc gia nhận đầu tư.
Tuy nhiên, có một số nghiên cứu chưa thống nhất với các quan điểm của tác
giả nêu trên, các kết quả từ nghiên cứu của De Mello (1999), Konings (2000),
Vahter (2004), Javorcik (2004) cho rằng tác động thúc đẩy sản xuất trong nước của
Thái Lan dần đầu tư vào các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng lớn hơn, nhờ
khơi thông được dòng vốn đầu tư trong nước mà Thái Lan đã đạt được một thời kỳ
tăng trưởng cao. Cũng giống như trường hợp của Thái Lan trong nghiên cứu của
Tang và cộng sự (2008) bằng cách sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian theo quý trong
giai đoạn từ năm 1988 - 2003 tại Trung Quốc đã kết luận rằng FDI có hiệu ứng bổ
sung cho đầu tư trong nước thông qua kênh lan tỏa công nghệ.
2.3. Lý thuyết về vị trí của đầu tư của dòng vốn FDI
Với những lợi ích mang lại cho nền kinh tế các quốc gia bản địa khi nhận
được dòng vốn FDI, thì bài viết cần phải tìm hiểu nguyên nhân tại sao có những
quốc gia thu hút được rất nhiều FDI, nhưng có những quốc gia lại không thể thu hút
được FDI. Vấn đề nêu trên nhận được sự quan tâm của rất nhiều học giả và cả chính
phủ các nước trên toàn thế giới, vì vậy đã có rất nhiều nghiên cứu, với nhiều góc
nhìn cũng như phương diện nghiên cứu khác nhau nhằm trả lời cho vấn đề được nêu
ra ở trên. Sau đây bài viết xin điểm lại một số lý thuyết được thừa nhận rộng rãi
nhằm giải thích cho vấn đề vị trí của dòng vốn FDI.
2.3.1 Lý thuyết về thương mại quốc tế (international trade theory)
Mô hình thương mại quốc tế có nền tảng từ lý thuyết của Heckscher-Ohlin
(1993) được nêu ra như sau: “Một nền kinh tế có lợi thế so sánh trong việc sản xuất,
và do đó sẽ xuất khẩu sản phẩm thâm dụng các yếu tố sản xuất mà nó dồi dào một
cách tương đối, và nhập khẩu các sản phẩm thâm dụng các yếu tố mà nó khan hiếm
một cách tương đối” theo mô hình này, thì các quốc gia phát triển là các quốc gia
dồi dào một cách tương đối về vốn sẽ có xu hướng xuất khẩu vốn vào các quốc gia
đang phát triển vốn đang thiếu hụt tương đối vốn, đó là những nền móng cho việc
giải thích sự dịch chuyển dòng vốn giữa các quốc gia, đặc biệt là xu hướng dịch
10
chuyển dòng vốn FDI từ các quốc gia phát triển sang những quốc gia đang phát
triển.
Tuy nhiên, mô hình của Vernon (1966) cũng có những vấn đề còn hạn chế, mô
hình đã không giải thích được hiện tượng chuỗi giá trị toàn cầu của các sản phẩm,
khi thập niên đầu của thế kỷ đã chứng kiến hiện tượng các cấu thành của một sản
phẩm mới được sản xuất ở khắp các quốc gia trên thế giới từ các quốc gia phát
triển, đến những quốc gia đang phát triển, điện thoại Iphone là sản phẩm mang
thương hiệu của Hoa Kỳ nhưng các cấu thành của Iphone được sản xuất khắp nơi
trên thế giới từ Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc.
2.3.4 Lý thuyết chiết trung eclectic paradigm (OLI)
Lý thuyết chiết trung (eclectic paradigm) được (Dunning, 2001) trình bày
trong các nghiên cứu của mình, theo lý thuyết này thì có ba nhóm nhân tố ảnh
hưởng đến quyết định đầu tư nước ngoài đó là:
Nhân tố đầu tiên trong nhóm ba nhân tố được nêu trong lý thuyết chiết trung là
lợi thế về sở hữu (ownership advantages - O), lợi thế này gắn liền với các quyền sở
hữu của chủ đầu tư nước ngoài ví dụ như quyền sở hữu các bí quyết công nghệ, dây
chuyền sản xuất, văn bằng phát sinh sáng chế được bảo hộ, thương hiệu, nhãn hàng
nổi tiếng.
Nhân tố thứ hai được nêu trong lý thuyết chiết trung là lợi thế về địa điểm đầu
tư (location advantages - L), lợi thế này có được thông qua việc lựa chọn địa điểm
đầu tư, đó là những đặc điểm của nước nhận đầu tư như sự ổn định kinh tế vĩ mô, rõ
ràng, minh bạch, ổn định, công bằng trong các chính sách của chính phủ sở tại đối
với các nhà đầu tư nước ngoài, các yếu tố khác về kinh tế, xã hội, văn hóa tiêu
dùng.
Nhân tố cuối cùng được nêu trong lý thuyết chiết trung là lợi thế về nội bộ hóa
(internalization advantages - I), lợi thế này gắn với việc dành quyền kiểm soát và
khai thác các tài sản ở nước ngoài thông qua đầu tư FDI sẽ có lợi hơn so với các
hình thức hiện diện ở nước ngoài khác như xuất khẩu, nhượng quyền thương mại,
liên doanh.
chính phủ (hạn ngạch, kiểm
chức
đầu tư
soát giá cả, chênh lệch thuế,
- Khả năng tiếp thị
- Cơ sở hạ tầng
và các can thiệp khác)
- Hiệp đồng các nền kinh tế
- Khuôn khổ thể chế (Chính - Để đạt được các hiệp đồng
sách pháp luật)
kinh tế
- Lao động giá rẻ và có tay
- Để kiểm soát nguồn cung
nghề cao
cấp đầu vào
- Quy mô thị trường và khả
hai yếu tố là tỷ lệ xuất khẩu trên GDP và tỷ lệ sử dụng điện thoại trên 1.000 người
dân.
Nghiên cứu của Bellak và cộng sự (2008) đã phân tích tác động chính sách của
chính phủ ảnh hưởng như thế nào đến thu hút FDI dựa trên mẫu nghiên cứu gồm 11
quốc gia gồm Hoa Kỳ, sáu nước thành viên cũ của EU và bốn nước Trung và Đông
Âu - các nước thành viên mới của EU và mười ngành công nghiệp trong khoảng
thời gian mười năm từ 1995 đến 2004. Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố như:
Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cao, rào cản trong đăng ký kinh doanh, chi
phí tiền lương của người lao động và trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người lao
động khi có tai nạn hay tranh chấp liên quan đến lao động là những rào cản đối với
dòng vốn FDI. Trong khi đó các yếu tố như kết quả thu hút FDI năm trước, nhóm
yếu tố về quy mô thị trường như thu nhập bình quân đầu người, nhóm yếu tố về
trình độ công nghệ như chi đầu tư công cho cơ sở hạ tầng và khoa học công nghệ,
và nhóm yếu tố về phổ cập công nghệ thông tin như số lượng thuê bao điện thoại và
internet có tác động tích cực đến thu hút FDI. Nghiên cứu này cũng kết luận rằng
tác động chính sách của chính phủ đối với các ngành công nghiệp là khác nhau, và
khác nhau về tác động giữa các quốc gia.
Trong nghiên cứu của Campos và Kinoshita (2003) về những nhân tố thu hút
vốn đầu tư FDI của nhóm các quốc gia tại Trung Âu và Liên Xô cũ. Kết quả của
nghiên cứu trên cho thấy rằng vốn FDI được thu hút bởi các nhân tố như thành tựu
thu hút FDI của các giai đoạn trước, tài nguyên thiên nhiên của quốc gia, chi phí lao
động thấp, các quy định pháp luật thông thoáng và phù hợp với thông lệ quốc tế,
các chính sách thúc đẩy thương mại quốc tế, sự tham gia các hiệp định thương mại
14
song phương và đa phương của quốc gia nhận đầu tư. Tuy vậy, các nhân tố như chất
lượng bộ máy hành chính kém, thể chế chưa hoàn thiện là những nhân tố làm hạn
chế dòng vốn FDI vào các quốc gia này.
liệu của 83 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn từ năm 1984 - 2003 đã đưa ra
kết luận rằng sự ổn định chính trị, tham nhũng, xung đột tôn giáo, sắc tộc, luật pháp
và trật tự, trách nhiệm giải trình của chính phủ, chất lượng hành pháp của bộ máy
hành chính là những yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng thu hút dòng vốn đầu tư nước
ngoài tại 83 quốc gia này.
Nhà kinh tế học Asiedu (2006) đã thực hiện nghiên cứu tại 22 quốc gia thuộc
Tiểu vùng Sahara Châu Phi (SSA) trong giai đoạn từ năm 1984 - 2000, kết quả của
nghiên cứu cho thấy các nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào hoặc có thị
trường tiêu thụ sản phẩm lớn sẽ thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài. Ngoài ra, các
yếu tố về cơ sở hạ tầng, lực lượng lao động được đào tạo, ổn định kinh tế vĩ mô,
chính sách pháp luật mở cửa đối với FDI, một hệ thống pháp luật hiệu quả, ít tham
nhũng và sự ổn định chính trị sẽ thúc đẩy FDI. Kết quả phân tích cũng cho thấy các
nước có thị trường nhỏ hoặc các quốc gia thiếu nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể
cải thiện công tác thu hút FDI bằng cách tăng cường chính sách thông thoáng hỗ trợ
đầu tư, cải thiện cơ cấu tổ chức và hoạt động của chính quyền. Ngoài ra, hợp tác
kinh tế khu vực cũng có thể làm tăng FDI vào khu vực châu Phi.
Trong nghiên cứu của Kang và Jiang (2012) về nhân tố ảnh hưởng đến quyết
định đầu tư của các nhà đầu tư Trung Quốc vào 8 quốc gia thuộc khu vực Đông Á
và Đông Nam Á. Ngoài các yếu tố truyền thống ảnh hưởng đến dòng vốn đầu tư
nước ngoài theo như mô hình OLI của Dunning (1993), hai tác giả đã thêm yếu tố
thể chế vào mô hình nghiên cứu thì trong kết quả của nghiên cứu các biến yếu tố
kinh tế truyền thống của mô hình OLI giữ nguyên kết quả trong khi đó các biến liên
quan đến chất lượng thể chế thì ngược lại. Trong toàn bộ mẫu nghiên cứu chỉ có ba
trong năm biến liên quan là có ý nghĩa thống kê bao gồm tự do kinh tế, ảnh hưởng
chính trị và thương mại song phương.
16
Trong nghiên cứu gần đây của Hoang (2012) khi phân tích các yếu tố quyết
Tham nhũng có nguồn gốc từ sự tha hóa quyền lực, vậy nên theo lô gích muốn
tham nhũng bị triệt tiêu thì cũng phải triệt tiêu quyền lực của xã hội, tuy nhiên để
triệt tiêu hoàn toàn quyền lực thì lại là một điều không thể hiện thực hóa, vì quyền
lực là yếu tố cần thiết để duy trì trật tự và quản lý xã hội, theo lập luận trên thì tham
nhũng là một hiện tượng gắn liền với xã hội loài người và nhiệm vụ của những
người đứng đầu xã hội là kiểm soát tham nhũng.
Tham nhũng được sinh ra từ sự tha hóa quyền lực, đến lượt mình quyền lực
được sinh ra từ cách thức, cơ chế, biện pháp quản lý xã hội và từ thể chế chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội và theo định nghĩa của North (1990) thì thể chế là những
luật lệ của cuộc chơi trong xã hội (rules of the game). Nói chính xác hơn, đó là
những ràng buộc do con người tạo ra để điều chỉnh và định hình các tương tác của
mình. Theo North, vai trò chính của thể chế trong một xã hội là làm giảm tính bất
trắc bằng cách cung cấp một cấu trúc cho hoạt động trong đời sống hàng ngày. Thể
chế còn hướng dẫn sự tương tác giữa con người với người, khi chúng ta muốn chào
bạn bè trên đường phố, lái xe, mua cam, mượn tiền, mở doanh nghiệp, chôn cất một
người quá cố. Như vậy, cùng một giao dịch nhưng được thực hiện ở các nơi khác