Khảo sát sự đáp ứng của bào chế so với sử dụng thuốc đông dược tại bệnh viện YHCT hà tĩnh năm 2015 - Pdf 41

BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THU HIỀN

KHẢO SÁT SỰ ĐÁP ỨNG CỦA BÀO CHẾ SO
VỚI SỬ DỤNG THUỐC ĐÔNG DƯỢC TẠI
BỆNH VIỆN YHCT HÀ TĨNH NĂM 2015

LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I

HÀ NỘI - 2016


BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THU HIỀN

KHẢO SÁT SỰ ĐÁP ỨNG CỦA BÀO CHẾ SO
VỚI SỬ DỤNG THUỐC ĐÔNG DƯỢC TẠI
BỆNH VIỆN YHCT HÀ TĨNH NĂM 2015
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I

CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
Mã số: CK 60 72 04 12

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Phương Nhung
Thời gian thực hiện:

18/7/2016 đến 18/11/2016

1.3. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC YHCT TRÊN THẾ GIỚI ...... 5
1.4. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC YHCT TẠI VIỆT NAM ....... 8
1.4.1. Nguồn gốc và những bước tiến của y dược học cổ truyền trong
sự phát triển lịch sử của đất nước: ....................................................... 8
1.4.2. Tình hình khám chữa bệnh bằng YHCT ở Việt Nam: ............... 10
1.5. BỆNH VIỆN YHCT HÀ TĨNH....................................................... 11
1.5.1. Hình thành và phát triển: ......................................................... 11
1.5.2. Chức năng, nhiệm vụ: ............................................................... 12
1.5.3. Sự cần thiết mở rộng sản xuất thuốc: ....................................... 13
1.5.4. Cơ cấu tổ chức hiện nay: .......................................................... 14
1.5.5. Quy mô khám chữa bệnh: ......................................................... 14
1.5.6. Khoa Dược: .............................................................................. 15
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .............. 19
2.1. ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU .............. 19
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu: .............................................................. 19
2.1.2. Thời gian nghiên cứu:............................................................... 19
2.1.3. Địa điểm nghiên cứu: ............................................................... 19
2.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:........................................................... 19
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................... 21
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang ...................................... 21
2.3.2. Biến số nghiên cứu: .................................................................. 21
2.3.3. Chỉ số nghiên cứu: .................................................................... 24


2.3.4. Phương pháp thu thập số liệu: ................................................. 25
2.4. Phương pháp xử lý số liệu: .............................................................. 25
2.4.1. Phân tích số liệu: ...................................................................... 25
2.4.2. Xử lý và trình bày số liệu:......................................................... 26
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ....................................................... 27
3.1. CƠ CẤU THUỐC ĐÔNG DƯỢC SỬ DỤNG VÀ BÀO CHẾ TẠI

3. Về khả năng đáp ứng của bào chế so với thực tế sử dụng: ................ 56
II. KIẾN NGHỊ ....................................................................................... 56
1. Với Bệnh viện YHCT Hà Tĩnh:.......................................................... 56
2. Với Bộ Y tế: ........................................................................................ 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 58


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13

CHỮ VIẾT TẮT
BV
DMT
DMTCY
DMTTY/TTY
ĐVT
KCB

Sử dụng
Sử dụng thuốc
Số thứ tự
Sản xuất
Tiêu chuẩn Việt Nam
Thủ tướng Chính phủ
Traditional Complementary and Alternative
Medicine (Thuốc Y học cổ truyền bổ sung và
thay thế)
Y học hiện đại
Y học cổ truyền
Chế phẩm
Khối lượng


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Số lượng bệnh nhân KCB tại BV YHCT Hà Tĩnh năm 2015: ......... 15
Bảng 1.2. Cơ cấu nhân lực khoa Dược bệnh viện YHCT Hà Tĩnh:................ 16
Bảng 2.1. Các biến số nghiên cứu: ................................................................. 21
Bảng 3.1. Cơ cấu vị thuốc YHCT được sử dụng tại bệnh viện thuộc danh mục
thuốc chủ yếu, thuốc thiết yếu lần thứ VI: ...................................................... 27
Bảng 3.2. Cơ cấu thuốc sống và thuốc chín bệnh viện sử dụng: .................... 28
Bảng 3.3. Cơ cấu vị thuốc YHCT sử dụng năm 2015 theo nguồn gốc, xuất xứ . 29
Bảng 3.4. Cơ cấu chi phí thuốc đông y, thuốc từ dược liệu năm 2015: ......... 30
Bảng 3.5. Cơ cấu vị thuốc YHCT sử dụng tại bệnh viện trong năm 2015 theo
nhóm tác dụng điều trị .................................................................................... 30
Bảng 3.6. Cơ cấu một số vị thuốc được sử dụng nhiều nhất trong năm 2015: .. 32
Bảng 3.7. Cơ cấu thuốc chế phẩm YHCT sử dụng năm 2015 tại BV (tính theo
ĐVT): ............................................................................................................... 34
Bảng 3.8. Cơ cấu thuốc chế phẩm YHCT sử dụng năm 2015 tại BV (tính theo

sử dân tộc. Nhận thức được giá trị của YHCT, Đảng và Nhà nước ta đã có
chính sách nhất quán coi YHCT là một bộ phận không thể tách rời trong hệ
thống khám chữa bệnh chung của ngành Y tế Việt Nam. Đồng thời có chủ
trương kết hợp y học hiện đại và YHCT để phục vụ sức khỏe cho nhân dân
được tốt nhất. Từ khi Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới nền kinh tế, thì
nguồn gốc thuốc ngày càng phong phú kể cả thuốc tân dược và đông dược.
Thuốc tân dược với ưu thế tác dụng nhanh, mạnh, dễ sử dụng thì ngày càng bị
lạm dụng, dẫn đến tình trạng kháng thuốc và còn có tác dụng phụ không
lường trước được. Thuốc YHCT có nguồn gốc từ thiên nhiên tuy có tác dụng
chậm và không đặc hiệu như thuốc tân dược nhưng có ưu điểm là ít độc hại,
có thể điều trị một số bệnh mạn tính hoặc hỗ trợ điều trị trong một số bệnh
khó. Vì vậy, xu hướng chung của người dân tìm đến thuốc YHCT ngày càng
nhiều.
Bệnh viện YHCT Hà Tĩnh là đơn vị đầu ngành về YHCT của tỉnh. Với
150 giường bệnh và 165 cán bộ, Bệnh viện thực sự là một cơ sở khám chữa
bệnh bằng YHCT lớn trong tỉnh. Bệnh viện luôn thu hút được lượng lớn bệnh
nhân đến khám và chữa bệnh. Với mong muốn mở rộng sản xuất đáp ứng nhu
cầu điều trị của bệnh viện, chúng tôi tiến hành đề tài “Khảo sát sự đáp ứng
của bào chế so với sử dụng thuốc đông dược tại Bệnh viện YHCT Hà
Tĩnh năm 2015” với mục tiêu:
1. Khảo sát cơ cấu thuốc Đông dược được bào chế và sử dụng tại Bệnh
viện YHCT Hà Tĩnh năm 2015.
2. Khảo sát khối lượng thuốc đông dược bào chế đáp ứng thực tế sử
dụng tại Bệnh viện YHCT Hà Tĩnh năm 2015.
1


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. KHÁI NIỆM THUỐC Y HỌC CỔ TRUYỀN
Y học cổ truyền (YHCT) là toàn bộ kiến thức, kỹ năng và thực hành

- Thuốc tán;
- Chè thuốc.
Thuốc phiến là dạng thuốc cơ bản, được dùng nhiều nhất vì ngoài để
bốc thuốc thang, nó còn là nguyên liệu để bào chế ra các dạng thuốc khác.
Thuốc sống là thuốc YHCT chưa qua chế biến, có thể dùng trực tiếp để
điều trị bệnh nhưng thường là phải qua bào chế mới có thể sử dụng.
Thuốc chín là thuốc đã được chế biến, có thể dùng để điều trị trực tiếp
cho bệnh nhân dưới dạng thuốc thang hay chè thuốc hoặc làm nguyên liệu để
bào chế các dạng thuốc khác.
Một vị thuốc thông thường phải qua bào chế mới có thể sử dụng được.
Theo quan điểm của YHCT, “bào” có nghĩa là dùng sức nóng để thay đổi lý
tính và dược tính của thuốc còn “chế” là dùng công phu thay đổi hình dạng,
tính chất của dược liệu. Nói cách khác, bào chế là công việc biến đổi thiên
tính của dược liệu để thành vị thuốc có tác dụng trị bệnh.[22]
Ngày 8/10/2010, Bộ Y tế đã ra quyết định số 3759/QĐ – BYT về việc
ban hành phương pháp chế biến bảo đảm chất lượng đối với 85 vị thuốc Đông
y. Đây là cơ sở để các đơn vị khám chữa bệnh áp dụng trong chế biến vị
thuốc.[7]. Ngoài ra,với các vị thuốc chưa có mặt trong tài liệu này, việc bào
chế vẫn còn mang tính kinh nghiệm của mỗi đơn vị hoặc theo một số tài liệu
được giảng dạy, lưu hành.
Các phương pháp bào chế thuốc phiến:[22]
- Rửa thuốc;
- Ngâm, ủ;
- Thái phiến;
- Sấy khô;
- Sao thuốc.

3





các dân tộc trên trái đất, YHCT có gốc rễ bám chắc vào cộng đồng dân cư. Tổ
chức y tế thế giới đã đánh giá: “Hiện nay YHCT vẫn đang chăm lo sức khoẻ,
đặc biệt là chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho gần 3/4 nhân loại, một bộ phận của
nhân loại đang chịu nhiều thua thiệt về kinh tế - xã hội và ít có cơ may tiếp
cận và hưởng thụ những thành quả mới nhất của y học hiện đại”[23]
1.3. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC YHCT TRÊN THẾ GIỚI
YHCT được sử dụng rộng rãi trên thế giới và được coi trọng vì nhiều lý
do. Hội nghị quốc tế về YHCT các nước Đông Nam Á năm 2013, chỉ rõ
“thuốc YHCT, với chất lượng, sự an toàn, và hiệu quả đã được chứng minh,
góp phần đạt được mục tiêu đảm bảo tiếp cận chăm sóc sức khỏe cho tất cả
mọi người. Đối với nhiều triệu người thì thuốc thảo dược,các phương pháp
chữa trị cổ truyền, và thầy lang là nguồn cung cấp chăm sóc sức khỏe chủ yếu
và đôi khi là duy nhất. Loại hình chăm sóc sức khỏe đó có ngay gần nhà, dễ
tiếp cận và vừa túi tiền. Đó cũng là loại hình chăm sóc sức khỏe phù hợp về
văn hóa và được nhiều người tin tưởng. Giá cả chấp nhận được của phần lớn
các loại thuốc cổ truyền khiến chúng hấp dẫn hơn trong thời buổi chi phí y tế
tăng vọt và gần như mọi người đều phải thắt lưng buộc bụng. YHCT cũng nổi
lên như là một cách để đối phó với mức độ tăng không ngừng các bệnh không
lây nhiễm mãn tính.
Ở các nước nghèo, YHCT vẫn là phương pháp cơ bản trong điều trị
bệnh cho người dân.Còn ở các nước phát triển, YHCT trở thành phương pháp
hỗ trợ tích cực trong phòng và điều trị bệnh.
Tại các nước châu Phi, YHCT có vai trò lớn trong việc chăm sóc sức
khỏe ban đầu đặc biệt là các bộ lạc người dân ở đây từ lâu đã biết sử dụng cây
cỏ sẵn có tại nơi sinh sống để phòng và điều trị các bệnh thông thường ở cộng
đồng mình. Hiện nay tại Châu Phi có tới 80% -85% dân số sử dụng YHCT để
chăm sóc sức khỏe; 80% - 85% lực lượng tham gia công tác giáo dục, tuyên
truyền chăm sóc sức khỏe cho người dân ở đây là từ những người cung cấp

YHCT ở Nhật Bản được quản lý chặt chẽ. Các phòng khám được xây dựng
một cách quy mô, có thêm trang thiết bị hiện đại. Ngoài dạng thuốc thang,

6


còn có nhiều sản phẩm cổ truyền có chất lượng đã được tiêu chuẩn hóa và
kiểm tra. Thuốc cổ truyền Nhật Bản là sự kết hợp giữa thuốc cổ truyền Trung
quốc với thuốc dân gian Nhật Bản gọi chung là Kampo. Tính từ năm 1974
đến 1989, sử dụng các loại thuốc YHCT ở Nhật Bản đã tăng 15 lần, trong khi
đó các loại thuốc tân dược chỉ tăng 2,6 lần. Khoảng trên 65% bác sỹ ở Nhật
Bản khẳng định họ đã sử dụng đồng thời thuốc YHCT và thuốc YHHĐ.[16]
Ở Nhật Bản không có thuốc trôi nổi trên thị trường, kể cả dược liệu. Tất
cả công ty Dược liệu đều có xưởng chế biến dược liệu thành thuốc sống,
thuốc chín với đầy đủ phương tiện để kiểm tra chất lượng. Chính nhờ sự quản
lý tốt như vậy mà thuốc ở đây có chất lượng rất tốt và được người dân tin
dùng. Để đảm bảo sử dụng thuốc cổ truyền an toàn, Nhật Bản có mạng lưới
theo dõi phản ứng có hại từ bệnh viện, hiệu thuốc đến nhà sản xuất, thực hiện
theo dõi tốt khâu hậu mại.[29]
Ở khu vực Đông Nam Á, các nước Indonesia, Malaysia, Thái Lan…có
truyền thống YHCT trên toàn quốc. Thái Lan là một nước có nền YHCT lâu
đời, tuy nhiên trước sự phát triển mạnh mẽ của YHHĐ, YHCT Thái Lan bị
lãng quên trong suốt một thời gian dài. Nhưng trước những giá trị và hiệu quả
không thể phủ nhận của YHCT, Chính phủ Thái Lan cũng có những chính
sách để thuyết phục người dân sử dụng YHCT, tuyên truyền và giáo dục về
vai trò của YHCT trong chăm sóc sức khỏe ban đầu.[18]
Indonesia là một quốc đảo có khí hậu nhiệt đới và thảo dược rất phong
phú. Chính phủ xếp thuốc bản địa thành 3 nhóm: Jamu, thuốc dược thảo tiêu
chuẩn hóa và dược học thực vật. Dược thảo được sử dụng rộng rãi trong
YHCT bổ trợ và thay thế.Ở Indonesia, YHCT bổ trợ và thay thế có từ thế kỷ

luận, kết hợp với tiến bộ của nhân loại, nhất là triết học, y lý của phương
Đông để hình thành bản sắc YHCT Việt Nam.
Đại danh y thiền sư Tuệ Tĩnh, ông tổ của thuốc nam (thế kỷ XIV) được
nhân dân suy tôn là “Thánh thuốc Nam”. Vào thời mà các nước Đông Nam Á
đang chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền YHCT Trung Hoa thì Tuệ Tĩnh đã đưa
ra quan điểm “ Nam dược trị nam nhân” (thuốc Nam chữa bệnh cho người

8


Nam) với 499 vị thuốc và các phương thuốc nam chữa 184 loại bệnh. Đây là
quan điểm hết sức khoa học, vừa thể hiện tính nhân văn, nhân bản cao, vừa
thể hiện được tinh thần tự lập, tự chủ, tự cường dân tộc.[23]
Dưới triều đại nhà Lê, nổi bật lên như một ngôi sao sáng trong nền
YHCT Việt Nam đó là đại danh y Lê Hữu Trác, Hiệu là Hải thượng Lãn Ông.
Ông là người tâm huyết với nghề thuốc cứu người. Trong cuộc đời làm nghề
y, ông đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm để lại cho đời sau những tài sản vô
giá như bộ “Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh” có 28 tập, gồm 66 quyển dạy
nghề làm thuốc; “Vệ Sinh Yếu Quyết” chỉ cho người ta cách giữ gìn vệ sinh
để phòng bệnh; “9 điều Y Huấn Cách Ngôn”, đó là 12 điều y đức của người
thầy thuốc.
Dưới triều Tây Sơn (1789-1802), đã thành lập Nam dược cục; mời các
lão y về nghiên cứu thuốc Nam, đứng đầu là lương y Nguyễn Hoành (Thanh
Hóa), ông đã biên soạn 500 vị thuốc cỏ cây ở địa phương và 130 vị về các
loại chim, cá, kim, thạch, đất, nước.[14]
Đảng và Nhà nước đã cho thành lập Hội Đông y Việt Nam, Viện Đông
y Việt Nam, và Vụ Đông Y - Bộ Y tế nhằm mục đích đoàn kết giới lương y,
những người hành nghề đông y với người hành nghề tây y thực hiện đường
lối “Kế thừa, phát huy, phát triển YHCT, kết hợp YHHĐ, xây dựng nền y học
Việt Nam hiện đại, khoa học và đại chúng [14].

Tỷ lệ khám chữa bệnh bằng YHCT so với tổng khám chữa bệnh chung
của từng tuyến đã có bước cải thiện đáng kể, tuy nhiên chưa chiếm tỷ trọng cao
trong tổng số lượt khám chữa bệnh chung, cụ thể: tuyến tỉnh là 8,69%; tuyến
huyện 8,95% và tuyến xã là 18,8%. Tỷ lệ điều trị nội trú bằng YHCT, kết hợp
YHCT với YHHĐ so với tổng chung cũng đạt mức 9,2% ở tuyến tỉnh và 24,9%
ở tuyến huyện. Tỷ lệ điều trị ngoại trú bằng YHCT so với tổng điều trị ngoại trú
chung có khả quan hơn ở tuyến tỉnh (13,4%), tuyến huyện (16,4%) và tuyến xã
(26,8%). Chất lượngkhám chữa bệnh bằng YHCT, kết hợp YHCT với YHHĐ
từng bước được nâng cao nhờ triển khai đồng bộ các giải pháp: cơ sở vật chất,
trang thiết bị được đầu tư; từng bước chuẩn hóa các quy trình kỹ thuật; tăng

10


cường chỉ đạo tuyến, chuyển giao kỹ thuật; thí điểm bộ tiêu chí đánh giá chất
lượng bệnh viện YHCT.[13]
Tại Hà Nội, theo nghiên cứu của Nguyễn Thanh Bình, tỷ lệ người dân
tin tưởng vào thuốc YHCT là 65%, rất tin tưởng là 28,3% .[17]
Tại Hưng yên, theo nghiên cứu thực trạng YHCT và hiệu quả can thiệp
tăng cường hoạt động khám chữa bệnh tại Bệnh viện YHCT tỉnh năm 2003
của tác giả Phạm Việt Hoàng, tỷ lệ dùng thuốc YHCT tới 99,8%.[21]
Theo những số liệu thống kê gần đây, hằng năm cả nước sử dụng
khoảng 59.000 tấn dược liệu, trong đó để sử dụng cho hệ thống khám chữa
bệnh bằng YHCT khoảng 18.500 tấn. Trong khi tổng sản lượng dược liệu
trồng trong nước hàng năm vào khoảng 3000 - 5000 tấn.[8]
Tiếp tục triển khai thực hiện Chỉ thị số 24-CT/TW của Ban Bí thư về
phát triển nền đông y và Hội Đông y Việt Nam trong tình hình mới, Quyết
định số 2166/QĐ-TTg ngày 30/11/2010 về kế hoạch hành động của Chính
phủ phát triển YDCT Việt Nam đến năm 2020, Quyết định 1976/QĐ-TTg của
TTCP ngày 30/10/2013 về phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu

kế thừa các bài thuốc cổ truyền, các cây, con làm thuốc, các phương pháp
chữa bệnh bằng YHCT, góp phần làm phong phú và phát triển nền YHCT
Việt Nam. Nghiên cứu kết hợp YHCT và YHHĐ, xây dựng nền y học Việt
Nam theo nguyên tắc: Khoa học, Dân tộc và Đại chúng;
- Đào tạo cán bộ: Bệnh viện YHCT là cơ sở thực hành cho các trường
Đại học, Trung học Y, Dược và YHCT. Tổ chức bồi dưỡng và đào tạo lại về
YHCT cho cán bộ, công chức làm công tác YHCT và các cán bộ y tế khác;
- Chỉ đạo tuyến: Lập kế hoạch và chỉ đạo tuyến về chuyên môn kỹ thuật
YHCT. Có vườn thuốc nam mẫu tại bệnh viện. Thực hiện công tác chăm sóc
sức khỏe ban đầu bằng YHCT tại cộng đồng;
- Xây dựng phác đồ điều trị kết hợp YHCT với YHHĐ. Thực hiện các
chương trình Y tế quốc gia về YHCT trên toàn quốc;
- Phòng chống dịch: Dưới sự chỉ đạo của Sở Y tế, phối hợp với các cơ
sở y tế dự phòng và các trung tâm y tế huyện để phòng chống dịch bệnh bằng

12


phương pháp YHCT hoặc kết hợp YHCT và YHHĐ khi có dịch bệnh xảy ra
trên địa bàn;
- Tổ chức bào chế thuốc phiến và một số dạng thuốc cổ truyền thông
dụng (cao, đơn, hoàn, tán, rượu, v.v.v.) dùng trong bệnh viện;
- Quản lý kinh tế y tế: Quản lý và sử dụng có hiệu quả ngân sách Nhà
nước cấp và các nguồn kinh phí khác. Thực hiện thanh quyết toán đúng theo
quy định của Pháp luật;
- Hợp tác quốc tế: Tham gia các chương trình hợp tác quốc tế về YHCT
với các tổ chức và cá nhân nước ngoài theo quy định của Nhà nước.
1.5.3. Sự cần thiết mở rộng sản xuất thuốc:
- Bệnh viện YHCT Hà Tĩnh là bệnh viện đầu ngành của cả tỉnh về
YHCT. Bệnh viện đã có truyền thống trong công tác KCB. Trong lĩnh vực


CÁC PHÒNG
CHỨC NĂNG

CÁC ĐOÀN THỂ

CÁC KHOA

CÁC KHOA CẬN

LÂM SÀNG

LÂM SÀNG

- Phòng Tổ chức hành
- Khoa Khám bệnh

chính
- Phòng Kế hoạch

- Khoa Nội – Nhi

- Khoa Dược
- Khoa Xét nghiệm –

tổng hợp

- Khoa Ngoại – Phụ

XQ


65.363

Ngày điều trị bình quân bệnh nhân ra viện

Ngoại trú

15,3

Tổng số lần khám bệnh

11.151

Số lần phát thuốc

10.901

Công suất sử dụng giường bệnh

119,38%

1.5.6. Khoa Dược:
Khoa Dược là một khoa chuyên môn chịu sự lãnh đạo trực tiếp của
Giám đốc bệnh viện. Khoa Dược có chức năng quản lý và tham mưu cho
Giám đốc bệnh viện về toàn bộ công tác dược trong bệnh viện, cung ứng đầy
đủ, kịp thời và có chất lượng. Tổ chức tư vấn, giám sát sử dụng thuốc hợp lý,
an toàn, hiệu quả và kinh tế[2],[9]
1.5.6.1. Chức năng nhiệm vụ [9]:
- Lập kế hoạch, tổ chức cung ứng thuốc đảm bảo đủ số lượng, chất
lượng cho nhu cầu khám chữa bệnh tại bệnh viện và các yêu cầu khác (phòng

người. Cơ cấu nhân lực của khoa được trình bày trong bảng 1.2.
Bảng 1.2. Cơ cấu nhân lực khoa Dược bệnh viện YHCT Hà Tĩnh:
TT

Trình độ chuyên môn

Số lượng

Tỷ lệ (%)

1

Dược sỹ đại học

02

7,1%

2

Dược sĩ trung cấp

20

71,6%

3

Dược tá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status