Header Page 1 of 16.
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------------------------
NGUYỄN THỊ THẮNG
"NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT
TRIỂN, VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG LÚA
TRONG VỤ XUÂN, VỤ MÙA 2006
TẠI TUYÊN QUANG"
Chuyên ngành: Trồng trọt
Mã số
: 60.62.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lương Văn Hinh
THÁI NGUYÊN - 2007
Footer Page 1Sốofhóa
16.bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Header Page 2 of 16.
LỜI CAM ĐOAN
thầy giáo, cô giáo, bạn bè đồng nghiệp, cơ quan đã giúp đỡ tôi hoàn thành
luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn./.
Tác giả
Nguyễn Thị Thắng
Footer Page 3Sốofhóa
16.bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Header Page 4 of 16.
MỤC LỤC
Mở đầu
Trang
1. Đặt vấn đề
1
2. Mục tiêu của đề tài
3
3. Yêu cầu của đề tài
1.3.1.1. Thu thập nguồn gen cây lúa và ứng dụng trong sản xuất
14
1.3.1.2. Tình hình nghiên cứu giống lúa có chất lượng trên thế giới
17
1.3.2. Tình hình nghiên cứu lúa trong nước
20
1.3.2.1. Sự đa dạng di truyền lúa Việt Nam và khu vực Đông Nam Á
20
1.3.2.2. Thu thập nguồn gen cây lúa Việt Nam
22
1.3.2.3. Tình hình nghiên cứu các giống lúa ở Việt Nam
24
Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
29
2.1.Nội dung nghiên cứu
Footer Page 4Sốofhóa
16.bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Header Page 5 of 16.
2.4.3.Tình hình cơ bản của Trại Trường - Trường THKTKT- Tuyên Quang
33
2.5. Kỹ thuật sản xuất
34
2.5.1. Lượng phân bón cho ruộng cấy
34
2.5.2. Gieo cấy và chăm sóc
34
2.6. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
34
2.6.1. Chỉ tiêu chất lượng mạ
Chương 3: Kết quả và thảo luận
41
3.1. Đặc điểm thời tiết khí hậu vụ xuân và vụ mùa năn 2006 tại
Tuyên Quang
41
3.1.1. Nhiệt độ
41
3.1.2. Lượng mưa
42
3.1.3. Ẩm độ không khí
43
3.1.4. Số giờ nắng
43
3.2. Kết quả nghiên cứu các giống lúa vụ xuân năm 2006
43
70
Footer Page 5Sốofhóa
16.bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Header Page 6 of 16.
3.2.9. Nhận xét tổng quát
73
3.3. Kết quả nghiên cứu các giống lúa vụ mùa năm 2006
75
3.3.1. Tình hình sinh trưởng của mạ
76
3.3.2. Khả năng đẻ nhánh
79
3.3.3. Các thời kỳ và giai đoạn sinh trưởng
81
101
3.4.2. Đánh giá chất lượng cơm của các giống lúa trong mô hình
103
Kết luận và đề nghị
105
1. Kết luận
105
2. Đề nghị
107
Tài liệu tham khảo
116
1. Tiếng việt
116
2. Tiếng Anh
119
LSD
: Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa
CMS
: Bất dục đực tế bào chất
TGMS
: Bất dục đực chức năng di truyền nhân phản ứng với nhiệt độ
Footer Page 7Sốofhóa
16.bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Header Page 8 of 16.
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Biểu 1.1. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của toàn thế giới trong vài
thập kỷ gần đây...............................................................................................7
Biểu 1.2. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của 10 nước có sản lợng lúa
hàng đầu thế giới.............................................................................................8
Biểu 1.3. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Việt nam trong mấy thập
kỷ gần đây.....................................................................................................10
Biểu 1.4. Dự báo triển vọng lúa gạo Việt Nam thời kỳ 2006 – 2010……...12
Biểu 3.1. Diễn biến thời tiết khí hậu ở tỉnh Tuyên Quang năm 2006...........41
Bảng 3.1. Tình hình sinh trưởng của mạ.......................................................44
1
MỞ ĐẦU
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Lúa có tầm quan trọng sống còn đối với hơn một nửa dân số thế giới.
Nó là loại lương thực chủ yếu hiện nay trong bữa ăn của hàng tỷ người ở
Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ La tinh, khu vực Trung Đông và trong tương lai
nó vẫn sẽ là loại lương thực hàng đầu của họ.
Lúa gạo là cây lương thực quan trọng đứng hàng thứ hai của thế giới,
nhưng lại là lương thực chủ yếu của các nước châu Á. Để phát triển sản xuất
lúa trong khi diện tích sản xuất có hạn phải tập chung thâm canh trên cơ sở
ứng dụng những biện pháp khoa học công nghệ mới để tăng năng suất trên
đơn vị diện tích.
Trong những năm trước đổi mới, nước ta là quốc gia triền miên thiếu
lương thực. Năm 1986 cả nước sản xuất đạt 18,37 triệu tấn lương thực, sang
năm 1987 lại giảm chỉ còn 17,5 triệu tấn, trong khi dân số tăng thêm 1,5 triệu
người/năm. ở miền Bắc, mặc dù Nhà nước đã phải nhập khẩu 1,28 triệu tấn để
thêm vào cân đối lương thực, nhưng vẫn không đủ, vẫn có đến 9,3 triệu người
thiếu ăn, trong đó có 3,6 triệu người bị đói gay gắt. Trong thời kỳ đổi mới
(1986 - 2005), nông nghiệp nước ta đã khởi sắc nhờ có đường lối đúng đắn
của Đảng và Nhà nước. Từ năm 1989 chúng ta đã giải quyết được vấn đề
lương thực, thoả mãn nhu cầu lương thực trong nước và bắt đầu tham gia thị
trường xuất khẩu gạo thế giới. Đến nay, Việt nam là nước xuất khẩu gạo lớn
thứ hai thế giới (trên 4 triệu tấn/năm). Đạt được những thành tựu trên là kết
quả tổng hợp của nhiều yếu tố, bao gồm đổi mới cơ chế, chính sách cùng các
giải pháp quan trọng khác như tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất
nông nghiệp (thủy lợi, giao thông, điện, phân bón...), áp dụng các tiến bộ kỹ
thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ và đặc biệt là sử dụng các
giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt là yếu tố quan trọng góp phần tạo
Tuyên Quang là một tỉnh miền núi nằm ở vùng Đông Bắc của Việt
Nam với tổng diện tích đất tự nhiên là 5.860 km2. Dân số năm 2006, theo số
liệu thống kê của tỉnh là 737.000 người, gồm 22 dân tộc anh em cùng chung
sống. Mật độ dân số bình quân 87 người/km2. Diện tích lúa cả năm đạt 45.468
ha tập trung chủ yếu ở các huyện Yên Sơn, Sơn Dương, Chiêm Hoá và Thị xã
Tuyên Quang chiếm tới 72% diện tích toàn tỉnh với điều kiện thời tiết khí hậu
thuận lợi, nhiệt độ trung bình dao động từ 18,6 - 29,50C, ẩm độ trung bình 79
- 86%, lượng mưa hàng năm cao, các nguồn nước tưới tiêu chủ động. Năm
2006 bình quân lương thực đầu người đạt 420 kg/người/năm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer Page 10 of 16.
Header Page 11 of 16.
3
Tuyên Quang hiện nay đã ổn định về lương thực với sản lượng 134.570 tấn
thóc chưa kể màu. Trong đó lúa vụ xuân diện tích 19.205 ha, năng suất 66,1
tạ/ha, vụ mùa 26.263 ha năng suất bình quân là 62,4 tạ/ ha. Sở dĩ đạt được kết
quả trên là nhờ công tác khuyến nông đã đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật
mới vào sản xuất đặc biệt là công tác giống. Những năm gần đây tại tỉnh đã
có một số giống lúa năng suất cao như lúa thuần KD18, CR203. Lúa lai như
Nhị ưu 63, tạp giao 1, Nhị ưu 838. Lúa chất lượng như Hương Thơm số 1,
Bắc thơm số 7 ....
Nhiệm vụ của công tác giống cây trồng là phải làm thế nào trong thời
Header Page 12 of 16.
4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN ĐỀ TÀI
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Lúa gạo là nguồn lương thực quan trọng cho khoảng 3 tỷ người trên thế
giới. Trong khi dân số thế giới tiếp tục tăng thì diện tích đất dùng cho trồng
lúa lại không tăng. Do đó vấn đề lương thực được đặt ra như một mối đe doạ
đến sự an ninh và ổn định của thế giới trong tương lai. Theo dự đoán của các
chuyên gia dân số học, nếu dân số thế giới tiếp tục tăng trong vòng 20 năm
tới, thì sản lượng lúa gạo phải tăng 80% mới đáp ứng đủ nhu cầu sống còn
của cư dân mới.
"Tốt giống, tốt má, tốt mạ, tốt lúa" đó là câu nói mà cha ông ta đã đúc
rút để khẳng định vai trò quan trọng của giống cây trồng. Trong ngành trồng
trọt thì giống cây trồng chính là yếu tố quan trọng trong việc năng cao hiệu
quả năng suất, kinh tế, giảm chi phí sản xuất, góp phần tăng sản lượng và chất
lượng cây trồng.
Giống cây trồng là khâu quan trọng nhất trong sản xuất trồng trọt. Đặc
tính của giống, yếu tố môi trường và kỹ thuật canh tác quyết định đến năng
suất. Kiểu gen tốt chỉ được biểu hiện trong một phạm vi nhất định của môi
trường. những giống được so sánh qua một loạt môi trường thì biểu hiện năng
suất thường khác nhau. Vì vậy, tính ổn định và thích nghi của giống với môi
trường thường được sử dụng để đánh giá giống.
Giống cây trồng nói chung và giống lúa nói riêng trong sản xuất chưa
bao giờ đáp ứng đủ cho nhu cầu sản xuất, hầu hết các nước trên thế giới đều
nghiên cứu giống. Viện nghiên cứu lúa quốc tế International Rice Research
mãn một số yêu cầu:
+ Sinh trưởng phát triển tốt trong điều kiện khí hậu đất đai và điều kiện
canh tác tại địa phương.
+ Cho năng suất cao ổn định qua các năm khác nhau trong giới hạn của
biến động thời tiết.
+ Có tính chống chịu tốt với sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận.
+ Có chất lượng đáp ứng với yêu cầu sử dụng.
Tất cả các giống lúa trước khi đưa ra khuyến cáo sản xuất đại trà cần
phải qua khảo nghiệm và khu vực hoá.
Từ điều kiện thực tế địa phương, Tuyên Quang là tỉnh miền núi có tiểu
vùng khí hậu mang đặc điểm chung của khí hậu miền núi Bắc Bộ, có hai mùa
rõ rệt hệ thống thuỷ lợi tương đối hoàn chỉnh trình độ dân trí cao, thuận lợi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer Page 13 of 16.
Header Page 14 of 16.
6
cho việc phát triển vùng chuyên canh các giống lúa lai, giống lúa chất lượng
cao tham gia vào thị trường. Do đó trong những năm gần đây, một số giống
lúa tẻ thơm như Hương thơm số 1, Tám thơm, Bắc thơm số 7, Nếp cái Hoa
vàng; nhóm lúa lai: Nhị ưu 63, Nhị ưu 838, Bắc ưu 903, Việt lai 20 đã được
đưa vào gieo trồng ở trong tỉnh với diện tích năm sau cao hơn năm trước. Tuy
nhiên cũng cần phải nghiên cứu bổ sung một số giống lúa mới có năng suất
Header Page 15 of 16.
7
cuối của thế kỷ 20 năng suất lúa tăng gấp 2 lần từ: 18,7 tạ/ha năm 1961 lên
38,9 tạ/ha năm 2000, sau đó năng suất lúa vẫn tăng nhưng chậm dần. Điều đó
có thể lý giải là do giai đoạn từ 1961 - 2000 cuộc cách mạng xanh về giống
lúa, kỹ thuật canh tác lúa có nhiều cải tiến, phân hoá học và thuốc trừ sâu,
bệnh được sử dụng phổ biến.
Biểu 1.1. Diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa của toàn thế giới
trong vài thập kỷ gần đây
1961
Diện tích
( triệu ha )
115,50
Năng suất
( Tạ/ha)
18,7
Sản lƣợng
( Triệu tấn)
215,65
1970
133,10
151,97
39,4
598,03
2002
147,69
39,1
577,99
2003
149,20
39,1
583,00
2004
151,02
40,3
608,37
Theo số liệu của biểu 1.2 thì trong 10 nước trồng lúa có sản lượng trên
10 triệu tấn/ năm đã có 9 nước nằm ở châu Á, chỉ có một đại diện của châu
khác đó là Braxin (Nam Mỹ). Trung Quốc và Nhật Bản là 2 nước có năng
suất cao hơn hẳn đạt 63,3 tạ/ha (Trung Quốc) và 65,4 tạ/ha (Nhật Bản). Điều
đó có thể lý giải là vì Trung Quốc là nước đi tiên phong trong lĩnh vực phát
triển lúa lai và người dân nước này có tinh thần lao động cần cù, có trình độ
thâm canh cao (ICARD 2003)[11]. Còn Nhật Bản là nước có trình độ khoa
học kỹ thuật cao, đầu tư lớn (Nguyễn Hữu Hồng, 1993) [9]. Việt Nam ta cũng
là nước có năng suất lúa cao đứng hàng thứ 3 trong 10 nước trồng lúa chính
đạt 49,5 tạ/ha (Vũ Tuyên Hoàng, 1998) [8]. Thái Lan tuy là nước xuất khẩu
gạo đứng hàng đầu thế giới trong nhiều năm liên tục, song năng suất chỉ đạt
26,5 tạ/ha, bởi vì Thái Lan chú trọng nhiều hơn đến canh tác các giống lúa dài
ngày, chất lượng cao Bùi Huy Đáp, (1999)[3].
Biểu 1.2. Diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa của 10 nƣớc có sản
lƣợng lúa hàng đầu thế giới
Diện tích
( Triệu ha)
Năng suất
( Tạ/ha)
Sản lƣợng
(triệu tấn)
Trung Quốc
29,30
63,3
49,5
36,34
Thái Lan
10,20
26,5
27,00
Myanma
6,27
39,1
24,50
Philippin
4,12
36,0
14,80
Braxin
xu hướng chững lại vì diện tích trồng lúa ngày càng thu hẹp do tốc độ đô thị
hoá gia tăng (Beachel, H.M 1972) [29]. Giá lúa tăng chậm trong khi đó giá
vật tư đầu vào tăng cao không khuyến khích nông dân trồng lúa, hệ số sử
dụng ruộng đất khó có thể tăng cao hơn nữa (ví dụ ở Việt Nam nhiều nơi đã
trồng tới 3 vụ lúa/năm), nông dân chuyển diện tích trồng lúa sang trồng các
cây khác và nuôi trồng thuỷ sản có hiệu quả kinh tế cao hơn hoặc chuyển sang
trồng các giống lúa có chất lượng cao mặc dù năng suất thấp hơn.
1.2.2. Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam
Việt nam là một nước trồng lúa trọng điểm trên thế giới, người Việt
Nam vẫn thường tự hào về nền văn minh lúa nước của đất nước mình. Từ xa
xưa cây lúa đã trở thành cây lương thực chủ yếu, có ý nghĩa quan trọng trong
đời sống của người dân Việt Nam (Bùi Huy Đáp, 1999)[3]. Suốt từ Bắc đến
Nam, đâu đâu cũng thấy người dân trồng lúa, song diện tích tập trung chủ yếu
ở hai vùng châu thổ lớn đó là Đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu
Long. Quá trình khai hoang phục hoá cùng với việc thâm canh tăng vụ đã đưa
tổng diện tích lúa thu hoạch của nước ta từ 4,74 triệu ha năm 1961 lên 7,67
triệu ha năm 2000, sau đó giảm dần xuống còn 7,34 triệu ha vào năm 2003
(Nguyễn Thị Lẫm và cộng sự 2003)[14]. Cùng thời gian đó năng suất và sản
lượng lúa cũng tăng lên rõ rệt nhờ vào công cuộc cải cách về giống lúa và ứng
dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật về phân bón, tưới tiêu, phòng trừ sâu bệnh
một cánh hợp lý, đồng bộ. Tính từ năm 1961 đến năm 2005, năng suất lúa của
nước ta đã tăng lên 2,8 lần. Giai đoạn tăng cao nhất là từ thập kỷ 80 đến nay.
Điều này gắn liền với các tiến bộ mới trong thâm canh tăng năng suất lúa
được ứng dụng rộng rãi, trong thời gian này và điều quan trọng hơn là việc
chuyển đổi cơ chế quản lý đất đai, từ cơ chế hợp tác sang tư nhân hoá, lấy hộ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer Page 17 of 16.
4,74
19,0
9,00
1970
4,72
21,5
10,17
1980
5,60
20,8
11,65
1990
6,04
31,8
19,23
34,57
2004
7,44
48,2
35,89
2005
7,34
49,5
36,34
Năm
(Nguồn FAOSTAT, 2006) [32]
Nhìn chung ngành sản xuất lúa của nước ta đến nay đã đạt được nhiều
thành tựu quan trọng. Tuy nhiên một điều đáng chú ý là trong những năm gần
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer Page 18 of 16.
động xuất khẩu gạo giữa 2 nước trên thị trường thế giới.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer Page 19 of 16.
Header Page 20 of 16.
12
Biểu 1.4. Dự báo triển vọng lúa gạo Việt Nam thời kỳ 2006 - 2010
Chỉ tiêu
Diện tích gieo cấy lúa
ĐVT
2006
2007
2008
2009
2010
Nghìn ha
35,90 36,32 37,41 38,55 40,10
5,0
5,1
5,2
5,4
5,5
Các điều kiện cơ bản của sản xuất lúa đến năm 2010 của Việt Nam là:
Đất, nước, phân bón, giống, khoa học công nghệ, thị trường tiêu thụ gạo khá
đảm bảo. Sản lượng phân bón sản xuất trong nước đang tăng dần do các nhà
máy sản xuất phân đạm Phú Mỹ đã đi vào hoạt động, sắp tới công trình khíđiện-đạm Cà Mau sẽ đi vào hoạt động cùng với các nhà máy phân lân, supe
phôt phát tăng công suất đảm bảo ổn định nguồn cung cấp trong nước; ứng
dụng rộng rãi các tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là giống mới vào sản xuất để
thực hiện các biện pháp thâm canh lúa nhằm tăng năng suất và chất lượng,
giảm chi phí trung gian, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm lúa gạo trên thị
trường; Tổ chức quản lý nông nghiệp không ngừng đổi mới và hoàn thiện
theo hướng phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ nông dân, tăng cường sự hỗ
trợ của nhà nước, phù hợp với yêu cầu sản xuất hàng hoá gắn với xuất khẩu
gạo khi Việt Nam gia nhập WTO; Thị trường xuất khẩu gạo mở rộng do Việt
Nam là thành viên của WTO và uy tín lúa gạo Việt Nam trên thị trường thế
giới được cải thiện. Quá trình hội nhập sâu vào kinh tế thế giới và khu vực,
bên cạnh thách thức, lúa gạo Việt Nam cũng có nhiều cơ hội để mở rộng thị
trường xuất khẩu. Trong khi đó nhu cầu gạo trên thị trường và khu vực 5 năm
tới dự báo vẫn tiếp tục sôi động do cầu vẫn tăng, như Indonesia, Philippin,
Nhật Bản. Những năm gần đây, hiệp hội xuất khẩu gạo Thái Lan và Việt Nam
đã có sự phối hợp trong các hoạt động xuất khẩu gạo giữa 2 nước trên thị
đấu đạt và duy trì sản lượng lúa hàng năm là 40 triệu tấn/năm, đẩy mạnh sản
xuất các giống lúa có chất lượng cao, dành 1 triệu ha để sản xuất lúa phục vụ
mục tiêu xuất khẩu, duy trì sản lượng gạo xuất khẩu hàng năm từ 4-5 triệu
tấn. Để đạt mục tiêu này một mặt chúng ta phải đẩy mạnh đầu tư (phân bón,
thuốc trừ cỏ, thuốc trừ sâu, bệnh, thuỷ lợi, cơ giới hoá…) chuyển đổi cơ cấu
giống theo hướng năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu với các loại sâu,
bệnh hại chính. Như vậy việc nghiên cứu, chọn lọc, lai tạo và nhập khẩu các
loại giống lúa có chất lượng cao phục vụ cho yêu cầu của sản xuất là một
nhiệm vụ sống còn và phải đặt thành chương trình cấp quốc gia và phải huy
động cả "4 nhà" (Nhà nước, nhà Khoa học, nhà Nông và nhà Doanh nghiệp)
cùng tham gia thì mới hy vọng đạt kết quả như mong đợi.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer Page 21 of 16.
Header Page 22 of 16.
14
1.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LÚA TRONG VÀ NGOÀI NƢỚC
1.3.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.3.1.1. Thu thập nguồn gen cây lúa và ứng dụng trong sản xuất
Trên thế giới người ta quan tâm đến việc bảo tồn nguồn gen nói chung,
và nguồn gen cây lúa nói riêng từ những thập kỷ trước đây. Ngay từ những
năm 1924 Viện nghiên cứu cây trồng Liên Xô (cũ) đã được thành lập, nhiệm
15
+ Về sinh thái: Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới nhưng do ảnh
hưởng của gió mùa nên miền bắc có khí hậu Á nhiệt đới, vùng núi có khí hậu
ôn đới. Vì vậy tài nguyên di truyền thực vật ở nước ta bao gồm ba thành phần
chính là: bản địa, di thực từ Nam Trung Hoa và di thực từ Nam Á. Hệ thực
vật phong phú là một nguyên nhân chính tạo nên sự đa dạng tài nguyên cây
trồng ở Việt Nam. Vavilep, Zukovski, Zaven, Harlan, Frankel và nhiều nhà
khoa học khác đều xem Đông Nam Á là nơi xuất xứ của nhiều loài cây trồng.
Việt Nam là nơi xuất xứ hoặc khu vực xuất xứ của nhiều loại cây trồng như
lúa, khoai sọ, chuối v.v...
Viện nghiên cứu lúa quốc tế IRRI thành lập năm 1960 đến năm 1962 đã
tiến hành thu thập nguồn gen cây lúa, đến năm 1977 chính thức khai trương
ngân hàng gen, tại đây đã thu thập tập đoàn cây lúa từ 110 quốc gia trên thế
giới trong bộ sưu tập có hơn 80 nghìn mẫu, trong đó có các giống lúa trồng ở
Châu Á, O. sativa chiếm đến 95% còn 2.194 mẫu đang ở thời kỳ hạt nhân,
chuẩn bị đăng ký vào ngân hàng gen cây lúa (Gomez, KA 1995) [35].
Đối với nguồn tài nguyên phong phú, cùng với đội ngũ các nhà khoa
học giầu trí tuệ và những phương tiện nghiên cứu hiện đại IRRI đã thực hiện
được vai trò trung tâm trong cuộc cách mạng xanh, đã góp phần thúc đẩy việc
sản xuất nông nghiệp của nhiều quốc gia trồng lúa ở trên thế giới. IRRI đã có
quan hệ chính thức ở Việt Nam ta từ năm 1975 trong chương trình thí nghiệm
giống quốc tế trước đây và hiện nay là chương trình đánh giá nguồn gen cây
lúa, trong quá trình hợp tác Việt Nam đã nhập được 279 tập đoàn lúa gồm
hàng ngàn mẫu giống, mang nhiều đặc điểm sinh học tốt, chống chịu sâu bệnh
và điều kiện ngoại cảnh bất thuận như nhiệt độ, nhiễm mặn, hạn hán, úng lụt
vv.. (Shen,J.H, 2000) [38]
Viện nghiên cứu lúa Quốc tế đã lai tạo chọn lọc hàng trăm giống lúa tốt
được gieo trồng phổ biến trên thế giới. Các giống lúa IR8, IR5, IR6, IR30 và
khảo sát lúa ở Đài Loan. Có hai người tham gia vào đề xuất vấn đề sản xuất
lúa lai thương phẩm là Stansent va Craiglules.
Các chuyên gia nông nghiệp Đài Loan cho biết đã nghiên cứu phát triển
thành công các giống lúa mới giàu dinh dưỡng. Các giống này không phải là
biến đổi gen sẵn có nhiều màu sắc khác nhau như đen, đỏ và vàng mà màu sắc
phụ thuộc vào hàm lượng dinh dưỡng như Beta - carotene và Anthocyanins.
Một chất chống ôxy hoá. Đây là kết quả nghiên cứu gần 9 năm thí nghiệm để
kết luận đột biến trên cây lúa với việc sử dụng các tác nhân hoá học.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Footer Page 24 of 16.
Header Page 25 of 16.
17
Một số nước có tốc độ thay đổi giống lúa mới khá nhanh như Philippin
20,6%, Hàn Quốc 16,1%, Ấn Độ 13,5%, Thái Lan 6,7%. Nhu cầu ngày càng
tăng về giống lúa không những về số lượng và còn cả về chất lượng.
1.3.1.2. Tình hình nghiên cứu giống lúa có chất lượng trên thế giới
Trong sản xuất nông nghiệp, giống là tư liệu sản xuất quan trọng không
kém gì đất đai, phân bón và công cụ sản xuất. Nếu không có giống thì không
thể sản xuất ra một loại nông sản nào cả. Vì thế việc nghiên cứu chọn lọc, lai
tạo giống đã được các nhà khoa học, các viện nghiên cứu và các trường đại
học nông nghiệp ưu tiên hàng đầu. Vào đầu những năm 1960, viện nghiên
cứu lúa gạo quốc tế (IRRI) đã được thành lập tại Losbanos, Laguna, Philippin.
Sau đó các viện nghiên cứu nông nghiệp quốc tế khác cũng được thành lập ở