ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM THANH CƯỜNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM
DỊCH TỄ, BỆNH LÝ, LÂM SÀNG BỆNH GIUN
ĐŨA CHÓ Ở TỈNH THÁI NGUYÊN
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
THÁI NGUYÊN - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM THANH CƯỜNG
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM
DỊCH TỄ, BỆNH LÝ, LÂM SÀNG BỆNH GIUN
ĐŨA CHÓ Ở TỈNH THÁI NGUYÊN
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ
Ngành: Thú Y
Mã số: 60 64 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y
giáo TS. Lê Minh, đã trực tiếp tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, định hướng cho
tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi cũng xin được cảm ơn phòng Đào tạo, các thầy, cô giáo khoa Chăn
nuôi Thú y đã giảng dạy, truyền đạt, hướng dẫn tôi tiếp thu được những kiến
thức quý báu và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập,
nghiên cứu tại trường.
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi luôn nhận được sự quan tâm, giúp
đỡ tận tình của Ban lãnh đạo, cán bộ Chi cục Thú y tỉnh Thái Nguyên.
Tôi xin cảm ơn đồng nghiệp,bạn bè và gia đình đã nhiệt tình ủng hộ,
giúp đỡ, cung cấp thông tin, tư liệu và tạo điều kiện để tôi học tập, nghiên cứu
và hoàn thành luận văn.
Tác giả luận văn
Phạm Thanh Cường
iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN.....................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN..........................................................................................................ii
MỤC LỤC............................................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT.......................................................................vi
DANH MỤC CÁC BẢNG....................................................................................vii
DANH MỤC CÁC HÌNH....................................................................................viii
1. Tính cấp thiết của đề tài.........................................................................viii
2. Mục tiêu nghiên cứu.................................................................................ix
Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ, đặc điểm bệnh lý, lâm sàng và biện pháp
phòng trị bệnh giun đũa chó.........................................................................ix
2.3.2. Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh giun đũa chó nuôi
tại một số huyện, thành phố của tỉnh Thái Nguyên...............................xxx
2.3.3. Nghiên cứu bệnh giun đũa chó (Toxocariosis)..........................xxxi
2.3.4. Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh giun đũa chó...................xxxi
2.4. Phương pháp nghiên cứu...................................................................xxxi
2.4.1. Phương pháp điều tra tình hình thực trạng chăn nuôi chó tại địa
phương và việc áp dụng các biện pháp phòng bệnh cho chó ở 4 huyện,
thành phố của tỉnh Thái Nguyên..........................................................xxxi
2.4.2. Phương pháp lấy mẫu.................................................................xxxi
2.4.3. Phương pháp định danh giun đũa chó.......................................xxxii
2.4.4. Phương pháp xét nghiệm mẫu:.................................................xxxiv
2.4.5. Phương pháp gây nhiễm cho chó..............................................xxxv
2.4.6. Phương pháp theo dõi các biểu hiện lâm sàng của chó bị bệnh giun
đũa.....................................................................................................xxxvii
2.4.7. Phương pháp xét nghiệm máu để xác định một số chỉ số huyết học
của chó bị bệnh giun đũa và chó khỏe..............................................xxxvii
2.4.8. Phương pháp xác định bệnh tích đại thể, vi thể......................xxxvii
2.4.9. Phương pháp theo dõi hiệu lực của thuốc tẩy giun đũa chó. .xxxviii
2.4.10. Phương pháp đánh giá độ an toàn của thuốc..........................xxxix
2.5. Phương pháp xử lý số liệu...............................................................xxxix
2.5.1. Một số tham số thống kê..........................................................xxxix
2.5.2. Một số công thức tính tỷ lệ (%)................................................xxxix
Chương 3...........................................................................................................xxxix
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN.....................................................xl
3.1. Thực trạng chăn nuôi chó và việc áp dụng các biện pháp phòng bệnh
giun sán cho chó...........................................................................................xl
3.2. Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa ở chó..................xli
3.2.1. Xác định thành phần loài giun đũa ký sinh ở chó (qua mổ khám)xli
3.2.2. Tình hình nhiễm giun đũa chó ở 4 huyện của tỉnh Thái Nguyênxliv
: cộng sự
n
: số mẫu
N
: Ngày thứ
Nxb
: nhà xuất bản
g
: gram
to
: nhiệt độ
TT
: thể trọng
T.canis
: Toxocara canis
Bảng 3.13. So sánh công thức bạch cầu của chó trước và sau khi gây
nhiễm %...............................................................................................67
Bảng 3.14. Hiệu lực của một số loại thuốc điều trị giun đũa trên chó 68
Bảng 3.15. Các chỉ tiêu lâm sàng của chó nhiễm giun đũa.................69
Bảng 3.16. Độ an toàn của một số thuốc điều trị bệnh giun đũa chó. .70
viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1: Trứng giun Toxocara canis.......................................................................xiii
Hình 1.2: Giun đũa Toxocara canis..........................................................................xiii
Hình 1.3. Trứng giun Toxascaris leonina.................................................................xiii
Hình 1.4. Toxascaris leonina....................................................................................xiii
Hình 1.5. Sơ đồ vòng phát triển Toxocara canis........................................................xv
Hình 3.7. Niêm mạc dạ dày........................................................................................63
Hình 3.8. Niêm mạc dạ dày thoái hóa, long tróc, xâm nhập dày đặc tế bào viêm....63
Hình 3.9. Niêm mạc ruột bình thường.......................................................................63
Hình 3.10. Niêm mạc ruột thoái hóa, long tróc, xâm nhập dày đặc tế bào viêm......63
Hình 3.11. Giun đũa nằm trong lòng ruột non...........................................................64
Hình 3.12. Giun đũa nằm trong lòng ruột non, niêm mạc ruột bị thoái hóa long tróc,
xâm nhập nhiều tế bào viêm......................................................................64
Hình 3.13. Niêm mạc ruột xâm nhập nhiều tế bào viêm, đặc biệt là bạch cầu ái toan
....................................................................................................................65
1.So sánh sự sai khác giữa số lượng hồng cầu chó trước và sau gây nhiễm.............84
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chó là một trong những loài động vật được thuần hóa rất sớm nên rất
gần gũi với con người. Chó được xem là biểu tượng của lòng trung thành.
Phân bộ: Ascaridina Skrjabin, 1915
Họ: Anisakidae Skrjabin et Karokhin, 1945
Giống: Toxocara Stiles, 1905
Loài Toxocara canis Werner, 1782
Loài Toxascaris leonina Linstow, 1902
Ký chủ cuối cùng: chó
Nơi ký sinh: dạ dày, ruột non
1.1.1.2. Đặc điểm hình thái, kích thước, cấu tạo giun đũa chó
* Giun đũa Toxocara canis (Werner 1782)
Theo mô tả của Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [9], giun đũa Toxocara
canis có đặc điểm như sau:
T.canis có kích thước lớn, màu vàng nhạt, đầu hơi cong về phía bụng,
miệng có 3 môi bao quanh, trên mỗi môi đều có các răng nhỏ. Thực quản hình
trụ, đặc biệt giữa thực quản và ruột có đoạn phình to như dạ dày.
Giun đực dài 50 - 100 mm, đầu có cánh dài, hẹp, hơi giống mũi giáo, có
hai gai giao cấu bằng nhau, dài 0,75 - 0,95 mm.
xii
Giun cái dài 90 - 180 mm, đuôi thẳng. Lỗ sinh dục cái ở khoảng 1/4 phía
trước thân. Giun cái đẻ trứng, trứng hình tròn hoặc hình ovan, đường kính
0,068 - 0,075 mm, có 4 lớp vỏ dày, trên vỏ trứng có những nếp nhăn nhỏ mịn.
tế bào phôi xếp thành khối bên trong.
Lê Thị Hải (2011) [5] cho biết: trứng giun đũa chó T. canis có hình cầu,
vỏ xù xì thô nhám, có màu vàng xám; có 3 màng, trong đó: màng ngoài cùng
dầy, xù xì, có màu vàng xám, màng trong nhẵn và mỏng, màng trong cùng
bao bọc phôi bào khi chưa phân chia là khối màu xám.
Sau khoảng 2 - 3 ngày phôi bào trong trứng bắt đầu phân bào thành
2,3,4… phôi bào.
Trong quá trình phôi bào biến đổi, nhân lên liên tục trong trứng thì hình
Giun đực dài 20 - 60mm. Lỗ sinh dục ở cuối cơ thể, hai gai giao hợp bằng nhau.
Giun cái dài 65 - 100mm, lỗ sinh dục cái ở phía trước thân, trứng hình ô
van, có 4 lớp vỏ dày, vỏ ngoài cùng nhẵn, tế bào phôi xếp thành khối kín
trong trứng, đường kính 0,075 - 0,085mm.
Hình 1.3. Trứng giun Toxascaris
leonina
Hình 1.4. Toxascaris leonina
(Nguồn: [46])
xiv
1.1.1.3. Vòng đời của giun đũa chó
* Giun đũa Toxocara canis (Werner, 1782)
Giun cái trưởng thành ký sinh ở dạ dày, ruột non, đẻ trứng. Trứng giun
theo phân được thải ra môi trường bên ngoài, gặp điều kiện ngoại cảnh (nhiệt
độ, độ ẩm, ánh sáng) thích hợp, trứng phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm, ấu
trùng vẫn nằm trong vỏ trứng.
Khi xâm nhập vào trong đường tiêu hóa của chó qua thức ăn nước uống,
ấu trùng cảm nhiễm phá vỡ vỏ trứng và chui ra khỏi trứng, bắt đầu quá trình
di hành trong cơ thể ký chủ. Ấu trùng xuyên qua niêm mạc ruột, vào máu,
theo hệ thống tuần hoàn đến gan, về tim, lên phổi đến nhánh khí quản lên hầu,
theo đờm trở lại ruột non phát triển tới dạng giun trưởng thành.
Một số ấu trùng sau khi vào phổi tiếp tục theo hệ thống tuần hoàn về
các tổ chức cư trú làm thành kén nhưng vẫn có khả năng gây nhiễm nếu
các động vật cảm nhiễm khác ăn phải. Ấu trùng còn qua hệ tuần hoàn của
chó mẹ khi có chửa và nhiễm vào bào thai. Ở bào thai, ấu trùng cư trú chủ
yếu ở gan và phổi.
cho biết, ở chó sơ sinh, ấu trùng giai đoạn ba chỉ ở phổi. Sau 3 ngày, ấu trùng
này chuyển vào ruột chó, ở đó, 23 ngày sau, chúng phát triển thành giun trưởng
thành. (Phan Địch Lân và cs, 1989) [13].
* Giun đũa Toxascaris leonina (Linstow, 1902)
Giun cái trưởng thành ký sinh ở ruột non của ký chủ cuối cùng. Giun đẻ
trứng, trứng theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi, phát triển thành trứng
có ấu trùng gây nhiễm, ấu trùng vẫn nằm trong trứng. Trứng lẫn vào thức ăn,
xvi
nước uống, vào đường tiêu hóa của ký chủ, ấu trùng được giải phóng ở ruột,
chúng chui qua niêm mạc ruột tới tĩnh mạch của rồi vào gan, theo hệ tuần
hoàn đến phổi, phế nang, lên yết hầu, ấu trùng cảm nhiễm theo đờm lên
miệng rồi được nuốt trở lại ruột non. Tại đây ấu trùng lột xác 3 lần rồi phát
triển thành dạng trưởng thành. Thời gian hoàn thành vòng đời từ 55 - 72 ngày
(Skrjabin K.I. và Petrov A.M., 1963) [18].
Vòng đời phát triển của Toxascaris leonina được mô tả như sau:
T.leonnina
(ruột non chó)
Trứng
Trứng có ấu trùng
có sức gây bệnh
Chó
nuốt
Hầu
Phổi
thanh dương tính với Toxocara canis là 20,6% (Nguyễn Thị Khả Ái và cs,
2009) [1].
+ Bé Trần Văn Đạt (34 tháng tuổi) ở huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam
năm 2011, nhập viện cấp cứu. Bác sĩ chẩn đoán tắc ruột do nhiễm giun đũa chó,
mổ bắt được hơn nửa kg giun trong bụng ( [45].
+ Theo dõi tình hình nhiễm Toxocara canis trong số cán bộ chiến sĩ công
an nghi ngờ nhiễm ký sinh trùng đến khám và điều trị tại bệnh viện 30-4 TP.
Hồ Chí Minh, cho các số liệu sau: năm 2011 huyết thanh dương tính với
Toxocara sp. là 40/861 (4,6%) trường hợp, năm 2012 tỷ lệ này là 130/1628
(8%) trường hợp (Lương Trường Sơn và cs, 2012) [20].
+ Năm 2013, bệnh nhân là L.T.T, 21 tuổi ở Thái Bình nhập viện trong
tình trạng có nhiều cơn đau đầu vùng đỉnh, sốt kéo dài, không liệt. Qua xét
nghiệm ký sinh trùng cho thấy, giun đũa chó dương tính mạnh, sọ não không
thấy có u não hay tổn thương ở não () [41].
Ngày 01/12/2014, bệnh nhân Hồ Thị Hồng Nh., 11 tuổi, ở huyện
Đakrong tỉnh Quảng Trị, được bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị chuyển đến
Trung tâm Nhi, Bệnh viện Trung ương Huế Trẻ vào viện trong tình trạng đau
đầu nhẹ, không có dấu thần kinh bất thường, không sốt. Trước đó bệnh nhân
xviii
có lên cơn động kinh một lần. Tại đây trẻ được chụp lại cộng hưởng từ não
phát hiện có thay đổi tín hiệu vùng đỉnh trái khả năng tổn thương do nhiễm ký
sinh trùng. Xét nghiệm huyết thanh chẩn đoán các loại ký sinh trùng kết quả
dương tính với giun đũa chó, mèo ( [43].
Nghiên cứu của Kutdang E.T. và cs (2010) [34] chỉ ra rằng, Toxocara
canis là loài phổ biến ở chó, trứng thường xuyên được thải ra ngoài theo phân
và thể tồn tại nhiều năm trong đất và là nguồn lây nhiễm tiềm tàng.
* Tuổi cảm nhiễm
Qua nghiên cứu của nhiều tác giả, hầu hết các tài liệu cho thấy: chó
bệnh, dễ mẫn cảm với các loài giun. Mặt khác, giun đũa truyền cho chó non
ngay từ khi còn trong bụng mẹ (qua bào thai).
Theo Oluyomi. A. Sowemimo (2007) [36], tỷ lệ và cường độ nhiễm
T.canis ở chó Nigeria từ 0 - 6 tháng tuổi khá cao và cao hơn ở những chó lớn.
Tác giả cũng xác nhận, tính biệt của chó ảnh hưởng tới tỷ lệ nhiễm T. canis và
chó cái tỷ lệ nhiễm T. canis cao hơn chó đực.
Qua kết quả nghiên cứu thực tế của nhiều tác giả, tỷ lệ nhiễm giun đũa
qua các lứa tuổi chó khác nhau.
* Mùa vụ
Aguilar A. và cs (2005) [29] mổ khám ruột non của 120 chó ở thành phố
Mexico, các tác giả thấy 102 chó nhiễm giun, sán; trong đó T. canis nhiễm chủ
yếu ở chó non và tập trung vào mùa khô.
Phan Địch Lân và cs (1989) [13] cho biết: chó con từ 1 - 3 tháng tuổi bị
nhiễm bệnh hầu hết các tháng trong năm. Ngoài con đường lây nhiễm trực tiếp
(do ăn phải trứng giun cảm nhiễm), chó con còn bị lây nhiễm ấu trùng từ lúc
còn trong bào thai thông qua máu của con mẹ.
xx
Trứng giun đũa có khả năng phát triển thành ấu trùng, có tính gây
nhiễm với ẩm độ của đất tốt nhất 40 - 60%, độ xốp của đất tốt nhất là 80 100%. Trong các loại đất thì đất cát thích hợp nhất với sự phát triển của
trứng giun đũa.
Bệnh lây nhiễm và phát sinh nhiều vào mùa hè và mùa thu, nhiệt độ
nóng, ẩm ướt và điều kiện thích hợp để trứng phát triển. Mùa đông thời tiết
lạnh sẽ hạn chế sự phát triển của ấu trùng và ấu trùng có thể bị chết. Vì vậy,
mùa đông chó ít mắc bệnh giun đũa hơn.
Ở nước ta, do điều kiện nóng, ẩm gần như quanh năm nên trứng giun có
thể phát triển thành trứng có ấu trùng có sức gây nhiễm, ở bất cứ tháng nào và
lây nhiễm cho chó cũng như loài ăn thịt khác. Nhiệt độ thích hợp để trứng
phát triển thành ấu trùng là 20 - 30 0C. Tuy nhiên, chó con thường bị nhiễm
khi nhiễm ấu trùng, chó thể hiện hội chứng viêm ruột, xuất huyết ruột. Nhưng
sau vài tháng, triệu chứng này giảm dần, chó chỉ còn hiện tượng gầy còm, thể
hiện thiếu máu và thỉnh thoảng nôn khan, đôi khi ỉa chảy, lông xù, không
bóng, có biểu hiện rối loạn thần kinh. Skrjabin K.I. và Petrov A.M. (1963)
[19] cho biết: chó rối loạn cả tính thèm ăn, ăn cả phân của chính nó hoặc của
gia súc khác.
Đỗ Dương Thái, Trịnh Văn Thịnh (1978) [21] nhận xét: khi mắc bệnh
giun đũa, chó thường gầy còm, lông xù, bụng to, ăn uống thất thường, đi tả
hoặc đi táo, có khi có triệu chứng như động kinh, nôn mửa, chất chứa nôn ra
có mùi hắc như mùi bơ để lâu. Khi bội nhiễm giun đũa, chó run rẩy, thỉnh
thoảng lên cơn co giật, giẫy dụa, chảy nước dãi. Chó 3 tháng tuổi nhiễm giun
đũa có biểu hiện viêm phúc mạc, xoang bụng tích nước. Thời kỳ ấu trùng di
hành qua phổi gây viêm phổi, tắc ống dẫn mật.
Theo Kolevatova A.L. (1959), trong điều kiện được nuôi dưỡng tốt thì
sau một thời gian nhất định, chó có thể tự khỏi bệnh và phục hồi sức khoẻ.
(Dẫn theo Hoàng Minh Đức, 2008) [3].
xxii
Khi mắc bệnh do giun đũa Toxocara canis, chó gầy còm, suy nhược do
giun chiếm đoạt chất dinh dưỡng, chó ăn kém, hay nôn mửa, chậm lớn và hầu
như không tăng trọng, bụng to làm cho người ta nhầm với với bệnh viêm gan
ở chó con và hội chứng còi xương. Độc tố của giun tác động lên hệ thần kinh
làm cho súc vật non biểu hiện run rẩy, co giật.
Phạm Sỹ Lăng và cs (1993) [12] quan sát thấy 6 chó con 45 ngày tuổi có
biểu hiện triệu chứng trên, khi được tẩy giun, bình quân mỗi chó thải ra 48
giun đũa trưởng thành.
Phạm Sỹ Lăng và cs (1989) [11] cho biết, hội chứng viêm ruột cấp và
mạn tính cũng thấy rõ ở chó với các triệu chứng như: nôn mửa, ỉa chảy, phân
tanh khắm. Chó con 1 - 2 tháng tuổi ỉa phân trắng xám, lỏng, đau bụng, rên rỉ,
tuổi, khi điều trị có thể ngăn ngừa sự sinh sản của giun, từ đó phòng sự phát
tán của trứng ra khỏi môi trường. Tuy nhiên, thuốc này không ngăn được chó
con bị nhiễm trước khi sinh. (Dẫn theo Hoàng Minh Đức, 2008) [3].
Theo Hayes và Medaniel (1959), hợp chất piperazin được dung nạp tốt
(Dẫn theo Soulsby E.J.L., 1965) [38].
- Mebendazol
Biệt dược của mebendazol là vermox, là một loại hóa dược an toàn, có thể
tẩy được nhiều loại giun tròn ở chó mèo với liều 60 - 100mg/kg TT, hiệu lực đạt
93% (Phan Địch Lân và cs, 1989) [13].
- Levamisol
Với liều 10mg/kg TT dùng 2 lần trong 14 ngày có hiệu quả tẩy trừ giun
tròn chó (Arundel H.J., 2000) [28].
Phạm Sỹ Lăng (1993) [12] sử dụng levamisol để tẩy các loài giun đũa,
giun lươn ở động vật ăn thịt với liều 7 - 10mg/kg TT cho kết quả tốt, hiệu lực
đạt 90 - 100% đối với giun đũa và giun tóc.
- Mebenvet
Là chế phẩm chứa 10% hoạt chất mebendazol, liều dùng 0,6-1 gam/kg
TT, chia thuốc thành 2 liều tẩy vào 2 buổi sáng, có tác dụng tẩy giun móc,
giun đũa, giun lươn (Trần Minh Châu và cs,1988) [2].