luận văn thạc sĩ Hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần đầu tƣ và phát triển đô thị hải dƣơng - Pdf 41

1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học, độc
lập của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc
rõ ràng.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

NGUYỄN THỊ HÀ PHƯƠNG


2


3
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trong
khoa Sau đại học đã tận tình dạy bảo và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá
trình học tập cũng như trong thời gian làm luận văn tốt nghiệp.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo – PGS.TS Phạm
Công Đoàn đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi và cho tôi những lời khuyên vô
cùng quý báu trong suốt quá trình nghiên cứu thực tế để hoàn thành tốt luận văn
của mình.
Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn toàn thể Ban lãnh đạo và cán bộ nhân viên của
Công ty cổ phần đầu tư và phát triển đô thị Hải Dương đã cung cấp cho tôi những
thông tin và dữ liệu cần thiết trong quá trình điều tra khảo sát để nghiên cứu đề tài.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã
động viên giúp đỡ rất nhiều để tôi hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp.
Mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng do trình độ, năng lực và thời gian có hạn
nên luận văn của tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được
những ý kiến đóng góp quý báu của thầy cô và độc giả để luận văn được hoàn thiện

CP
ĐVT
NVDH
NVNH
TSCĐ
TSDH
TSNH
VCĐ
VLĐ
VCSH
VKD

Nội dung đầy đủ
Cổ phần
Đơn vị tính
Nguồn vốn dài hạn
Nguồn vốn ngắn hạn
Tài sản cố định
Tài sản dài hạn
Tài sản ngắn hạn
Vốn cố định
Vốn lưu động
Vốn chủ sở hữu
Vốn kinh doanh


6

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

và phá sản. Tuy nhiên một lý do phải kể đến và là một trong những nguyên nhân
chính là do công tác quản lý vốn của doanh nghiệp còn hạn chế.
Trong những năm gần đây, xây dựng cơ bản nói chung và ngành xây dựng nói
riêng giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, là một trong những lĩnh
vực sản xuất vật chất lớn của nền kinh tế quốc dân, cùng các ngành sản xuất khác,
trước hết là ngành công nghiệp chế tạo và ngành công nghiệp vật liệu xây dựng,
nhiệm vụ của ngành xây dựng là trực tiếp thực hiện và hoàn thành khâu cuối cùng
của quá trình hình thành tài sản cố định cho toàn bộ các lĩnh vực sản xuất của nền
kinh tế quốc dân và các lĩnh vực phi sản xuất khác.
Sự xuất hiện của quá nhiều các công ty xây dựng cũng như vấn đề về sự chậm
trễ trong việc rót vốn vào các công trình xây dựng đã gây ra những bất lợi lớn đối với
Công ty cổ phần đầu tư và phát triển đô thị Hải Dương. Trong 3 năm gần đây, kết quả
hoạt động của công ty luôn sụt giảm cũng như hiệu quả hoạt động của công ty, điều
này chứng tỏ cơ chế quản lý cũng như giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh
doanh của công ty đều rất yếu kém đòi hỏi công ty cần có những cải tổ mạnh trong
mọi khía cạnh kinh doanh của công ty. Trong đó việc tìm ra những giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả sử vốn của công ty là điều quan trọng nhất bởi nếu hiệu quả sử
dụng vốn tốt thì sẽ đảm bảo được tình hình tài chính lành mạnh, đảm bảo khả năng
thanh toán, gia tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty. Nhận thấy tầm quan
trọng đó nên em quyết định tìm hiểu và nghiên cứu đề tài: “Hiệu quả sử dụng vốn
tại Công ty cổ phần đầu tư và phát triển đô thị Hải Dương”.

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về hiệu quả sử dụng vốn trong
công ty, cụ thể là:
Nghiên cứu về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh có các đề tài:
Luận án tiến sĩ đề tài “Nghiên cứu nâng cao hiệu qua sử dụng vốn kinh doanh
tại các doanh nghiệp khai thác than tại tình Quảng Ninh,áp dụng công ty TNHH một
thành viên than thống nhất - TKV” của tác giả Nguyễn Quốc Tuấn (2012). Luận án


công bố trước đó. Đề tài “Hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần đầu tư và phát


9
triển đô thị Hải Dương” sẽ tham khảo những thành quả đạt được của các luận án,
luận văn, bài báo trên, đồng thời tiếp tục nghiên cứu những lý luận chung về hiệu
quả sử dụng vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, phân tích thực trạng sử dụng
vốn, hiệu quả sử dụng vốn và đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn của Công ty cổ phần đầu tư và phát triển đô thị Hải Dương.
Những điểm mới của luận văn:
Thông qua kết quả nghiên cứu tổng quan về vốn kinh doanh. Luận văn chỉ ra
khoảng trống khoa học cả về lý luận cũng như trong thực tiễn về vốn kinh doanh và
hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của công ty, cần được tiếp tục nghiên cứu, bổ
sung và hoàn thiện.
Từ kết quả nghiên cứu luận văn đã đưa ra những đánh giá khách quan khoa
học về thực trạng sử dụng vốn của các Công ty cổ phần đầu tư và phát triển đô thị
Hải Dương trong giai đoạn 2013-2015. Từ đó luận văn đưa ra nhận xét Công ty cổ
phần đầu tư và phát triển đô thị Hải Dương đã kinh doanh chưa có hiệu quả và gặp
nhiều khó khăn trong việc sử dụng có hiệu quả vốn kinh doanh, tỷ suất lợi nhuận /
doanh thu luôn thấp. Đồng thời luận văn đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu
quả sử dụng vốn kinh doanh của công ty trong cơ chế hiện nay.
Trên cơ sở nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn kinh
doanh của công ty, kết hợp với kinh nghiệm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh
doanh của các doanh nghiệp xây dựng có hiệu quả. Áp dụng vào điều kiện cụ thể
của Công ty cổ phần đầu tư và phát triển đô thị Hải Dương, luận văn đã đề xuất và
tính toán giải pháp và nhóm giải pháp cụ thể.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.


lợi nhuận cho công ty giai đoạn 2016 – 2020
- Về thời gian: Số liệu phục vụ nghiên cứu về thực trạng hiệu quả sử dụng vốn
tại công ty Cổ phần đầu tư và phát triển đô thị Hải Dương từ năm 2013 đến năm
2015. Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho công ty giai đoạn
2016 – 2020.
- Về không gian: Nghiên cứu, đánh giá về hiệu quả sử dụng vốn và đề xuất các
giải pháp tại Công ty cổ phần đầu tư và phát triền đô thị Hải Dương.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu, nghiên cứu tài liệu
Kế thừa các số liệu và kết quả nghiên cứu đã có, được sử dụng để giải quyết
các vấn đề liên quan của đề tài.


11
Tham khảo các tài liệu về tình hình tài chính, doanh thu, chi phí, lợi nhuận
của Công ty cổ phần đầu tư và phát triền đô thị Hải Dương trong thời gian qua.
Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập tại bộ phận có liên quan của Công ty cổ
phần đầu tư và phát triền đô thị Hải Dương.
- Phương pháp phân tích tư liệu:
Nghiên cứu được thực hiện thông qua tài liệu thứ cấp trong khoảng thời gian
từ năm 2013 đến năm 2015. Việc thực hiện nghiên cứu thực tiễn và thu thập số liệu
minh chứng cho quá trình tìm hiểu về hiệu quả sử dụng vốn và các giải pháp nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần đầu tư và phát triền đô thị Hải Dương
được tác giả thực hiện từ năm 2013 đến năm 2015 từ đó tác giả đề xuất giải pháp
của đề tài định hướng giải pháp cho năm 2016 – 2020.
Địa điểm thực hiện nghiên cứu: Việc thực hiện nghiên cứu được tiến hành tại
Công ty cổ phần đầu tư và phát triền đô thị Hải Dương.
- Phương pháp thống kê mô tả: Thu thập, hệ thống hóa, xử lý số liệu và thông
qua các số bình quân, số tuyệt đối, số tương đối để đánh giá các chỉ tiêu nghiên cứu.
- Phương pháp so sánh:

và phát triển đô thị Hải Dương
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ
phần đầu tư và phát triển đô thị Hải Dương


13

CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. KHÁI QUÁT VỀ VỐN VÀ QUẢN LÝ VỐN TRONG DOANH NGHIỆP
1.1.1. Khái niệm về vốn trong doanh nghiệp
1.1.1.1. Khái niệm vốn kinh doanh

Theo lý thuyết kinh tế cổ điển thì vốn là một trong những yếu tố đầu vào để sử
dụng trong kinh doanh. Vốn bao gồm các sản phẩm lâu bền được chế tạo để sử dụng
kinh doanh như máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, bán thành phẩm, ... theo quan điểm
này vốn được nhìn nhận dưới góc độ hiện vật là chủ yếu.
Trong cuốn "Kinh tế học", David Begg đã đưa ra 2 định nghĩa về vốn: Vốn hiện
vật và vốn tài chính của doanh nghiệp.
"Vốn hiện vật": là dự trữ các hàng hóa đã sản xuất để sản xuất ra hàng hóa khác.
"Vốn tài chính": Là tiền và các giấy tờ có giá của doanh nghiệp.[2, tr213]
P. Samuelson có quan niệm về vốn trên một giác độ rộng hơn khi ông cho rằng
vốn là hàng hóa được sản xuất ra để phục vụ cho một quá trình sản xuất mới, là đầu
vào cho hoạt động sản xuất của một doanh nghiệp. Như vậy, vốn kinh doanh có thể tồn
tại dưới cả hình thái tiền tệ và hình thái hiện vật như: máy móc, thiết bị, nhà xưởng,
nguyên vật liệu, hàng hóa trung gian.....[1, tr73]
Do đó, có rất nhiều quan điểm khác nhau về vốn nhưng vốn đều thể hiện là một
yếu tố cơ bản, là tiền đề cần thiết cho việc hình thành và hoạt động sản xuất kinh doanh
của một doanh nghiệp.

Quá trình vận động của vốn bắt đầu từ việc nhà sản xuất bỏ vốn tiền tệ để mua
sắm các yếu tố đầu vào cho sản xuất. Lúc này vốn tiền tệ được chuyển hóa thành vốn
dưới hình thức vật chất (TLLĐ, ĐTLĐ, SLĐ....). Sau quá trình sản xuất, số vốn này kết
tinh vào sản phẩm. Sau quá trình tiêu thụ sản phẩm số vốn này lại quay lại hình thái
ban đầu là vốn tiền tệ.
Quá trình sản xuất của doanh nghiệp diễn ra thường xuyên liên tục nên sự tuần
hoàn của vốn kinh doanh cũng diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ tạo
thành sự chu chuyển của vốn kinh doanh.
Từ các phân tích trên, ta có thể định nghĩa tổng quát về Vốn kinh doanh
như sau:


15
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài
sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
nhằm mục đính sinh lời.
Chỉ có những tài sản có giá trị được sử dụng vào sản xuất kinh doanh mới được
coi là Vốn kinh doanh.
1.1.1.2. Đặc trưng của vốn kinh doanh.

- Vốn đại diện cho một lượng tài sản nhất định.
Vốn là biểu hiện bằng tiền cho giá trị của những tài sản hữu hình và vô hình
như: nhà xưởng, đất đai, máy móc, nguyên vật liệu, bằng phát minh sáng
chế....Nhưng vốn không đồng nhất với hàng hóa, tiền tệ thông thường. Tiền tệ, hàng
hóa là hình thái biểu hiện của vốn nhưng chỉ khi chúng được đưa vào quá trình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lời, chúng mới được coi là
vốn. Với tư cách là vốn, các tài sản của doanh nghiệp tham gia vào quá trình sản
xuất kinh doanh nhưng nó không bị tiêu mất đi mà được thu hồi giá trị. Nhận thức
được đặc trưng này của vốn, các doanh nghiệp tìm mọi cách để khai thác, sử dụng
biến vốn tiềm năng thành vốn hoạt động.

phân biệt quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn. Tùy theo hình thức đầu tư mà người
sở hữu hanh người sử dụng có thể đồng nhất hay tách rời, song dù trường hợp nào
thì người sở hữu vốn vẫn được ưu tiên, đảm bảo quyền lợi và phải được tôn trọng
quyền sở hữu của mình. Đây là một nguyên tắc cực kỳ quan trọng trong việc huy
đọng và sử dụng vốn. Nó cho phép huy động nguồn vốn nhần rỗi trong dân cư vào
sản xuất kinh doanh, đồng thời quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả.
Trong nền kinh tế thị trường, vốn tiền tệ là một loại hàng hóa đặc biệt. Nó có
giá trị và giá trị sử dụng. Việc mua bán vốn bằng tiền (quyền sử dụng vốn) diến ra
trên thị trường tài chính. Giá cả của nó do quan hệ cung cầu quyết định. Những
người thừa vốn có thể đưa vốn đến thị trường, những người cần vốn thì đến thị
trường để mua hoặc vay vốn, họ phải trả một khoản tiền nhất định theo một tỷ lệ lãi
suất để được sử dụng vốn trong một thời gian nhất định. Quyền sở hữu vốn vẫn
thuộc về người chủ nợ (quyền sở hữu và quyển sử dụng tách rời nhau thông quan
quan hệ mua bán và vay mượn). Đặc trưng này đã làm phát sinh khái niệm chi phí
sử dụng vốn trong nền kinh tế thị trường. Nhận thức điều này, các chủ doanh nghiệp
cần tìm biện pháp khai thác nguồn vốn có hiệu quả và chi phí thấp nhất, tận dụng
tối đa chức năng này của vốn không gây lãng phí.


17
- Vốn là hàng hóa đặc biệt.
Vốn có giá trị và giá trị sử dụng. Vốn không chỉ biểu hiện bằng tài sản hữu
hình mà còn bao gồm cả những tài sản vô hình như bằng phát minh sáng chế, lợi thế
thương mại, bản quyền, vị trí kinh doanh.... Nhận thức được đặc trưng này, các
doanh nghiệp cân có biện pháp khai thác, tạo lập vốn để đáp ứng nhu cầu vốn phục
vụ sản xuất kinh doanh của từng đơn vị.
1.1.2. Nguồn vốn và phân loại nguồn vốn

Nguồn vốn là nguồn hình thành nên các tài sản của doanh nghiệp. Để có vốn
hoạt động SXKD doanh nghiệp phải khai thác, tạo lập vốn. Hiện nay nhà nước cho

chủ sở hữu càng lớn thì tiềm lực tài chính của doanh nghiệp càng mạnh và tính chủ
động trong kinh doanh của doanh nghiệp càng cao.
Tuy nhiên, cũng chính vì đặc điểm này của nguồn vốn chủ sở hữu mà tạo ra
hạn chế về mặt hiệu quả trong việc sử dụng nguồn vốn này. Vì nguồn vốn này do
doang nghiệp toàn quyền quyết định việc sử dụng mà không phải chịu sự giám sát
khách quan từ bên ngoài, lại không phải cam kết thanh toán nên có thể doanh
nghiệp không quan tâm đúng mức đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhằm
bảo toàn và phát triển vốn một cách lâu dài.
- Nợ phải trả:
Phản ánh số vốn thuộc quyền sở hữu của các chủ thể khác mà doanh nghiệp
chỉ được quyền sử dụng trong một thời gian nhất định. Ưu điểm của nguồn vốn này
có thể dễ dàng huy động được, chi phí sử dụng vốn là tiền lãi vay. Nợ phải trả của
doanh nghiệp thường bao gồm nợ vay (nguồn vốn tín dụng) và nợ chiếm dụng
(nguồn vốn chiếm dụng).
Nguồn vốn tín dụng bao gồm: tất cả các khoản vay của doanh nghiệp với các
tổ chức, cá nhân như: khoản vay ngân hàng, vay các tổ chức tín dụng, các pháp
nhân khác, vay cá nhân, nguồn vốn vay từ việc phát hành trái phiếu..Khi sử dụng
nguồn vốn này, doanh nghiệp thường phải trả lãi và có nghĩa vụ thanh toán cả gốc
lẫn lãi khi đến hạn.
Việc đi vay vốn có thể đáp ứng nhu cầu vốn trong ngắn hạn, dài hạn cho
doanh nghiệp, hoặc có thể huy động được số vốn lớn kịp thời phục vụ cho hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được ổn định, liên tục. Mặt khác, đây


19
cũng là phương thức sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong nền kinh tế, bởi lẽ vốn
đi vay sẽ hợp lý hóa một cách tối ưu các nhu cầu tạm thời về vốn phát sinh trong
chu kỳ sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng không nên lạm dụng
nguồn vốn này, nó như con dao hai lưỡi nếu sử dụng hợp lý sẽ cho phép doanh
nghiệp tăng sức cạnh tranh, tận dụng được cơ hội đầu tư. Ngược lại, nếu tỷ lệ vốn


Căn cứ vào thời gian huy động vốn và sử dụng vốn thì có thể chia nguồn vốn
của doanh nghiệp thành: nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời.
- Nguồn vốn thường xuyên: là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng có tính
chất ổn định và lâu dài trong SXKD bao gồm: vốn chủ sở hữu và các khoản vay
dài hạn. Đây là nguồn vốn lâu dài, được dùng để đầu tư mua sắm TSCĐ và một
bộ phận TSLĐ tối thiểu thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp.
Nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp tại một thời điểm có thể được xác
định bằng công thức :
Nguồn vốn thường xuyên = Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn
Hoặc
Nguồn vốn thường xuyên = Giá trị tổng tài sản của DN – Nợ ngắn hạn
- Nguồn vốn tạm thời: là các nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một năm)
mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời phát
sinh trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn tạm thời thường bao
gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản nợ ngắn
hạn khác.
Việc phân loại này giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp xem xét huy động
các nguồn vốn phù hợp với thời gian sử dụng, đáp ứng kịp thời vốn cho SXKD với
chi phí sử dụng vốn hợp lý, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
1.1.3. Phân loại vốn trong doanh nghiệp
1.1.3.1. Phân loại vốn kinh doanh

Căn cứ vào vai trò và đặc điểm luân chuyển của Vốn kinh doanh khi tham gia
vào quá trình Sản xuất kinh doanh thì Vốn kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm 2
loại vốn: Vốn cố định và vốn lưu động. Đây là hình thức phân loại thể hiển rõ ràng,
chính xác và hầu hết các doanh nghiệp hiện nay đang áp dụng.





22
sử dụng VCĐ là phải dựa trên hai cơ sở: Một là, phải đảm bảo cho TSCĐ của doanh
nghiệp được toàn vẹn và nang cao hiệu quả sử dụng của nó. Hai là, phải tính toán
chính xác số trích lập quỹ khấu hao, đồng thời phân bổ và sử dụng quý đó hợp lý để
có kế hoạch trích khấu hao bù lại giá trị hao mòn, thực hiện đổi mới TSCĐ.
Vốn cố định của doanh nghiệp đóng một vài trò quan trọng đối với một doanh
nghiệp trong quá trình hình thành và phát triển. Do đó, việc thường xuyên sửa chữa,
đổi mới, bổ sung TSCĐ và tăng thêm vốn cố định trong các doanh nghiệp có vai trò
quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động, cải thiện điều kiện làm việc của
lao động.
b) Vốn lưu động của doanh nghiệp
Vốn lưu động (VLĐ) là toàn bộ số tiền ứng ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra
để đầu tư hình thành nên các TSLĐ thường xuyên cần thiết cho hoạt động SXKD
của doanh nghiệp. VLĐ là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ TSLĐ của doanh nghiệp.
VLĐ thuần của các doanh nghiệp được xác định bằng tổng giá trị TSLĐ của doanh
nghiệp trừ đi các khoản nợ ngắn hạn.Vốn lưu động có những đặc điểm khác với vốn
cố định. Do các TSLĐ có thời hạn sử dụng ngắn nên vốn lưu động cũng luận
chuyển nhanh.
Theo vai trò của từng loại VLĐ trong quá trình SXKD thì VLĐ được phân bổ
ở các khâu như sau:
+ VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất gồm: giá trị của các khoản nguyên vật liệu
chính, vật liệu phụ, nhiên liệu động lực, phụ tùng thay thế, công cụ lao động nhỏ,
bao bì, vật đóng gói.
+ VLĐ trong khâu sản xuất bao gồm: các khỏan giá trị sản phẩm dở dang, bán
thành phẩm, các khoản chi phí chờ kết chuyển.
+ VLĐ trong khâu lưu thông bao gồm: các khoản giá trị thành phẩm trong kho
chờ tiêu thụ, vốn bằng tiền, các khoản đầu tư ngắn hạn, các khoản thế chấp, ký
cược, ký quỹ ngắn hạn, các khoản vốn trong thanh toán.

đúng các nguyên nhân dẫn tới tình trạng không bảo toàn được Vốn cố định để có
biện pháp xử lý thích hợp. Có thể nêu ra một số nguyên tắc chủ yếu sau đây:
- Phải đánh giá đúng giá trị của TSCĐ tạo điều kiện phản ánh chính xác
tình hình biến động của vốn cố định, quy mô vốn phải bảo toàn. Điều chính kịp
thời giá trị của TSCĐ để tạo điều kiện tính đúng, tính đủ chi phí khấu hao, không
để mất TSCĐ.


24
Có ba phương pháp đánh giá chủ yếu:
Một là: Đánh giá TSCĐ theo nguyên giá: là toàn bộ các chi phí thực tế của
doanh nghiệp đã chi ra để có được TSCĐ cho đến khi đưa TSCĐ vào hoạt động
bình thường như giá mua thực tế của TSCĐ, các chi phí vận chuyển, bốc dỡ, lắp
đặt, chạy thử, lãi tiền vay đầu tư TSCĐ khi chưa bàn giao và đưa TSCĐ vào sử
dụng, thuế và lệ phí trước bạ (nếu có)...Cách đánh giá này là căn cứ để xác định số
tiền phải khấu hao để tái sản xuất giản đơn TSCĐ.
Hai là: Đánh giá TSCĐ theo giá trị khôi phục (còn gọi là đánh giá lại): là giá
trị để mua sắm TSCĐ ở tại thời điểm đánh giá. Do ảnh hưởng của khoa học kỹ
thuật, giá trị đánh giá lại thường thấp hơn nguyên giá của TSCĐ. Tuy nhiên trong
trường hợp có sự biến động của giá cả, giá trị đánh giá lại có thể cao hơn giá trị ban
đầu của nó. Ưu điểm của cách đánh giá này là thống nhất các mức giá của TSCĐ
được mua sắm ở các thời điểm khác nhau về thời điểm đánh giá, loại trừ sự biến
động về giá cả. Do đó, nó là một căn cứ để xem xét, điều chỉnh mức khấu hao, loại
trừ ảnh hưởng của hao mòn vô hình.
Ba là: Đánh giá TSCĐ theo giá trị còn lại: là phần giá trị còn lại của TSCĐ
chưa chuyển vào giá trị sản phẩm. Giá trị còn lại có thể tính theo giá trị ban đầu
(nguyên giá còn lại). Cách đánh giá này cho phép thấy được mức độ thu hồi vốn
đầu tư đến thời điểm đánh giá. Từ đó giúp cho việc lựa chọn chính sách khấu hao để
thu hồi số vốn đầu tư còn lại để bảo toàn vốn SXKD của mình.
- Lựa chọn phương pháp khấu hao và xác định mức khấu hao thích hợp, không

tạo điều kiện cho doanh nghiệp có quyền chủ động hơn trong việc quản lý và sử
dụng có hiệu quả số VCĐ được giao.
• Các nguyên tắc quản lý và sử dụng VLĐ của doanh nghiệp
- Xác định đúng nhu cầu VLĐ cần thiết tối thiểu cho từng giai đoạn SXKD
nhằm phát huy hợp lý các nguồn vốn bổ sung.
Nhu cầu vốn được xác định đúng đắn là cơ sở để tổ chức tốt các nguồn vốn
hợp lý đáp ứng kịp thời vốn cho nhu cầu SXKD. Nhu cầu VLĐ được xác định đúng
phải đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được tiến hành liên tục, nếu không tính
đúng sẽ gây ra tình trạng gián đoạn sản xuất không đảm bảo chữ "tín" với bạn hàng,
sản xuất bị đình trệ, không thực hiện được các điều khoản trong hợp đồng đã ký với
các khách hàng....Ngược lại, nếu thừa vốn sẽ gây ra tình trạng ứ đọng vốn, vốn
chậm luân chuyển sẽ dẫn đến làm phát sinh nhiều chi phí. Điều đó là không thể
chấp nhận được trong điều kiện của nền kinh tế thị trường.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status