luận văn thạc sĩ hoàn thiện quản lý thu thuế giá trị gia tăng của chi cục thuế huyện thanh hà, hải dƣơng - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-------------------------

TỐNG THỊ THU HƯỜNG

HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THU THUẾ GIÁ TRỊ
GIA TĂNG CỦA CHI CỤC THUẾ HUYỆN
THANH HÀ, HẢI DƯƠNG

CHUYÊN NGÀNH

: QUẢN TRỊ KINH DOANH

MÃ SỐ

: 60 34 01 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRẦN HÙNG

HÀ NỘI, NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
-------------------------

TỐNG THỊ THU HƯỜNG


Tống Thị Thu Hường


ii

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài “Hoàn thiện quản lý thu thuế giá trị gia tăng
của Chi cục thuế huyện Thanh Hà, Hải Dương” tôi nhận được sự hướng dẫn,
động viên, giúp đỡ của các cá nhân và tập thể.
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa
Sau đại học, các thầy, cô giáo trường Đại học Thương mại đã nhiệt tình giúp đỡ, hỗ
trợ cho tôi. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo: PGS.TS Trần
Hùng là người trực tiếp hướng dẫn khoa học và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu đề tài luận văn.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến lãnh đạo, cán bộ
công chức Chi cục Thuế huyện Thanh Hà và sự cộng tác của các đơn vị SXKD trên
địa bàn huyện Thanh Hà.
Tôi xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của bạn bè, gia đình đã giúp tôi thực
hiện luận văn này.
Ngày … tháng … năm 2016
Tác giả luận văn

Tống Thị Thu Hường


iii

MỤC LỤC


so với dự toán được giao 64.............................................................v
Bảng 2.12: Bảng bố trí nhân sự của Chi cục thuế huyện Thanh
Hà giai đoạn 2013-2015 66..............................................................v


iv

1.2.3. Quản lý công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế....20
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thu thuế giá trị gia tăng
.........................................................................................................28
1.3.1. Nhóm nhân tố chủ quan.....................................................28
2.1.1. Vị trí chức năng....................................................................33
2.1.2. Nhiệm vụ và quyền hạn.......................................................33
2.1.2. Yếu tố về chính sách thuế hiện hành của Việt Nam.........37


v

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ

Hình 2.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức Chi cục Thuế huyện Thanh Hà
.........................................................................................................39
Bảng 2.1 : Thống kê nhân sự của Chi cục Thuế huyện Thanh Hà
.........................................................................................................40
Bảng 2.2: Số lượng doanh nghiệp và quy mô vốn doanh nghiệp
tính đến tháng 12 năm 2015..........................................................42
Bảng 2.3: Tổng hợp đơn vị nộp thuế GTGT do Chi cục Thuế
huyện Thanh Hà quản lý ..............................................................45
Bảng 2.4: So sánh giữa số đơn vị ĐKKD và số đơn vị cấp MST
.........................................................................................................46

HKD
ĐKKD
ĐKT
ĐTNT
DN
GTGT
HĐND
KH&ĐT
KK-TH
KK-KKT
MST
NNT
NQD
NSNN
SXKD
TCT
TNHH
UBND
QLN-CCN

Cán bộ công chức
Công nghệ thông tin
Cơ quan thuế
Hộ kinh doanh
Đăng ký kinh doanh
Đăng ký thuế
Đối tượng nộp thuế
Doanh nghiệp
Giá trị gia tăng
Hội đồng nhân dân

phát triển đất nước. Tuy nhiên trong công tác quản lý thu thuế giá trị gia tăng còn
gặp nhiều vấn đề bất cập: các vụ gian lận thuế giá trị gia tăng ngày càng nhiều với
hình thức tinh vi hơn làm cho thất thu nguồn ngân sách rất lớn. Vì vậy công tác
quản lý thuế nói chung và quản lý thu thuế giá trị gia tăng nói riêng trở thành mối
quan tâm hàng đầu ở mỗi quốc gia.
Trong thời gian qua, Chi cục thuế huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương đã nỗ lực
phấn đấu trong công tác quản lý thu ngân sách của mình, kết quả thu ngân sách hầu
hết đều đạt và vượt mức dự toán được giao, số thu năm sau cao hơn năm trước. Tuy
nhiên cũng như tình trạng chung của cả nước công tác này vẫn còn tồn tại nhiều bất
cập: Công tác quản lý còn lung túng, chưa đồng bộ chưa phát huy được hết khả
năng, hiệu quả của mình. Hiện nay, số thu về thuế giá trị gia tăng chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng số thu của Chi cục thuế huyện Thanh Hà song vẫn còn tình trạng trốn
thuế, nợ đọng thuế, gian lận thuế còn nhiều, công tác kiểm tra, giám sát chấp chính
sách thuế chưa coi trọng đúng mức gây ra thất thu lớn cho ngân sách Nhà nước.


2

Chính vì vậy Chi cục Thuế huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương cần phải tìm ra giải
pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu thuế của mình. Đây là yêu cầu cấp bách
nhằm góp phần tăng thu ngân sách, đảm bảo công bằng giữa các chủ thể có nghĩa
vụ nộp thuế, kích thích SXKD phát triển. Do yêu cầu thực tiễn trên nên tác giả chọn
đề tài: “Hoàn thiện quản lý thu thuế giá trị gia tăng của Chi cục Thuế huyện
Thanh Hà, Hải Dương” làm luận văn Thạc sỹ kinh tế chuyên ngành Quản trị kinh
doanh.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Quản lý thuế nói chung và quản lý thu thuế giá trị gia tăng của các CQT là một
vấn đề quan trọng đảm bảo nguồn thu ngân sách nhà nước, đảm bảo công bằng giữa
các đơn vị SXKD. Trong thời gian qua đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập
tới vấn đề này với các góc độ nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và mức độ khác

hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn huyện Phú Thiện tỉnh Gia Lai”, Đại học Đà
Nẵng, đã hiện đánh giá quản lý thu thuế hộ kinh doanh với các nội dung: quản lý
các thủ tục hành chính về thuế, giám sát việc tuân thủ pháp luật thuế, quản lý quy
trình thu thuế theo phương diện lập dự toán thu thuế, tuyên truyền hỗ trợ về thuế, tổ
chức bộ máy thu thuế, quản lý nợ thuế. Nghiên cứu đề cập đến các yếu tố ảnh
hưởng đến quản lý thu thuế hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn gồm 3 nhóm nhân tố
là: nhóm nhân tố thuộc về đặc điểm của hộ kinh doanh cá thể; nhóm nhân tố về
năng lực của cơ quan quản lý thuế; nhóm nhân tố thuộc về cơ chế chính sách của
nhà nước.
Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Mai (2015),“Quản lý thu thuế giá trị gia
tăng đối với DN ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Hải Dương”, Đại học Thương
Mại đã đánh giá được tình hình quản lý thu thuế GTGT đối với các doanh nghiệp
NQD trên địa bàn quản lý của tỉnh Hải Dương theo đối tượng, căn cứ và khâu thu
nộp tiền thuế đảm bảo nguồn thu NSNN. Luận văn đưa ra được các chỉ tiêu đánh
giá quản lý thu thuế GTGT, đã nêu ra được những khó khăn gặp phải trong công tác
quản lý thu thuế đối với các doanh nghiệp NQD trên địa bàn tỉnh Hải Dương trong
công cuộc cải cách, đổi mới về phương thức, chính sách và công nghệ trên địa bàn
tỉnh Hải Dương hiện nay.
Khoảng trống của các nghiên cứu: Các nghiên cứu trong nước mới chỉ đánh
giá tình hình quản lý thu thuế GTGT đa phần các giải pháp nhằm hoàn thiện luật


4

quản lý thuế, các chính sách liên quan mà chưa đưa ra được các giải pháp nâng cao
công tác quản lý thu thuế trong bộ máy cơ quan quản lý thu thuế. Ngoài ra, các
nghiên cứu còn chưa cập nhật các thông tư, nghị định mới về các luật thuế và các
sắc thuế mới. Các bài viết, bài luận văn trên phân tích, đánh giá tình hình quản lý
thu thuế giá trị gia tăng trên địa bàn các địa phương khác, chưa có nghiên cứu nào
về quản lý thu thuế giá trị gia tăng tại Chi cục thuế Huyện Thanh Hà.

5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
5.1. Phương pháp thu thập dữ liệu
Thu thập dữ liệu sơ cấp: Nguồn dữ liệu sơ cấp là nguồn dữ liệu được thu thập
từ kết quả điều tra các lãnh đạo Chi cục, cán bộ quản lý tại Chi cục Thuế huyện
Thanh Hà, các đơn vị SXKD trên địa bàn huyện. Đây là nguồn dữ liệu phục vụ mục
đích kiểm chứng những kết luận rút ra từ việc phân tích số liệu thứ cấp, đồng thời
khắc phục một số hạn chế do nguồn dữ liệu thứ cấp chưa đầy đủ, góp phần chuẩn
hóa những nhận định của tác giả trong phân tích, đánh giá lại thực trạng thực trạng
quản lý thu thuế tại Chi cục Thuế huyện Thanh Hà và đáp ứng yêu cầu nghiên cứu
của đề tài, các thông tin và số liệu được thu thập từ nhiều nguồn và nhiều đối tượng
khác nhau.
Dữ liệu sơ cấp thu thập thông qua điều tra. Đối tượng phỏng vấn: 20 cán bộ
quản lý của Chi cục thuế huyện Thanh Hà gồm: 01 Chi cục Trưởng, 02 Phó Chi cục
trưởng, 07 Đội trưởng các đội chức năng, 10 cán bộ trực tiếp làm công tác thu thuế;
30 đơn vị SXKD trên địa bàn huyện Thanh Hà (20 DN, 10 HKD).
Thu thập dữ liệu thứ cấp: Luận văn sử dụng số liệu thứ cấp bao gồm: các văn
kiện, nghị quyết, sách, báo, các công trình được xuất bản; các số liệu về tình hình cơ
bản của huyện Thanh Hà; các báo tổng kết các hoạt động theo các thời kỳ từ năm
2013-2015 của Chi cục Thuế huyện Thanh Hà, Chi cục Thống kê huyện Thanh Hà,
tạp chí thuế Nhà nước, các báo cáo về tình hình kinh tế xã hội của UBND huyện
Thanh Hà.


6

5.2. Phương pháp phân tích dữ liệu
+ Phương pháp phân tích dữ liệu thứ cấp
- Nghiên cứu được thực hiện thông qua tài liệu thứ cấp trong khoảng thời gian
từ năm 2013 đến năm 2015. Phần mềm Excel được sử dụng để thống kê hệ thống
dữ liệu. Thu thập, hệ thống hóa, xử lý số liệu, số tuyệt đối, số tương đối để đánh giá

Khái niệm thuế giá trị gia tăng

Thuế GTGT được một người Đức tên là Carl Friedrich Von Siemens đưa ra
lần đầu tiên vào năm 1918 nhưng ý tưởng này của ông không được chính phủ Đức
áp dụng. Đến năm 1954 Pháp là nước đầu tiên trên thế giới ban hành Luật thuế giá
trị gia tăng. Thuế giá trị gia tăng theo tiếng Pháp gọi là: Taxe Sur La Valeur Ajou
tée (viết tắc là TVA), tiếng Anh gọi là Value Added Tax (viết tắc là VAT), dịch ra
tiếng Việt là thuế giá trị gia tăng. Khai sinh từ nước Pháp, thuế giá trị gia tăng đã
được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới. Ngày nay, các quốc gia thuộc
khối Liên minh Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ La Tinh và một số quốc gia Châu Á
trong đó có Việt Nam đã chính thức áp dụng thuế giá trị gia tăng. Các quốc gia khác
cũng đang trong thời ký nghiên cứu loại thuế này. Tính đến nay đã có khoảng 150
quốc gia áp dụng thuế giá trị gia tăng.
Ở nước ta, tại kỳ họp lần thứ 11 Quốc hội khoá 9, Quốc hội nước ta đã thông
qua Luật thuế giá trị gia tăng và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1999. Theo
quy định của Luật thuế giá trị gia tăng thì thuế giá trị gia tăng là một loại thuế gián
thu đánh trên khoản giá trị tăng thêm cuả hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá
trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được nộp vào ngân sách Nhà nước
theo mức độ tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ. Ðây là một loại thuế doanh thu đánh vào
mỗi giai đoạn sản xuất, lưu thông sản phẩm hàng hoá từ khi còn là nguyên liệu thô
sơ cho đến sản phẩm hoàn thành và cuối cùng là giai đoạn tiêu dùng. Chính vì vậy
mà chúng ta còn gọi là thuế doanh thu có khấu trừ số thuế đã nộp ở giai đoạn trước.
Thuế giá trị gia tăng được cộng vào giá bán hàng hoá, dịch vụ và do người tiêu
dùng chịu khi mua hàng hoá, sử dụng dịch vụ.


8

Thuế GTGT là một loại thuế gián thu được đánh vào người tiêu dùng cuối
cùng mặc dù chủ thể nộp thuế GTGT cho cơ quan quản lý thuế là những người bán



9

dùng nhưng chỉ tính trên phần GTGT của mỗi giai đoạn. Tổng số thuế thu được của
tất cả các giai đoạn đúng bằng số thuế tính trên giá bán hàng hóa, dịch vụ của người
tiêu dùng cuối cùng và người tiêu dùng là người phải trả tiền thuế cho tất cả các
khâu trước đó.
Thuế GTGT có tính trung lập về kinh tế cao. Thuế GTGT không phải là yếu tố
chi phí mà là yếu tố cộng thêm ngoài giá bán của người cung cấp hàng hóa, dịch vụ.
Chính vì vậy thuế GTGT không ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của NNT, bởi
quá trình tổ chức phân chia các chu trình kinh tế, sản phẩm được luân chuyển qua
nhiều hay ít giai đoạn thì tổng số thuế GTGT phải nộp của tất cả các giai đoạn là
không thay đổi.
Như vậy, khác với thuế doanh thu, thuế GTGT chỉ đánh vào phần giá trị tăng
thêm của hàng hóa, dịch vụ trong quá trình lưu thông. Trường hợp không có GTGT
thì sẽ không phải nộp thuế GTGT hoặc nếu có GTGT âm thì được hoàn thuế
GTGT. Đây là điểm ưu việt vượt trội của thuế GTGT nhằm tạo ra tính công bằng,
hợp lý cho đối tượng nộp thuế. Đặc điểm này yêu cầu các chủ thể là đối tượng nộp
thuế phải tự kiểm soát lẫn nhau về giá trị hàng hóa, dịch vụ nhằm bảo vệ lợi ích của
mình. Hệ quả của căn cứ này là nhằm khuyến khích các chủ thể sản xuất, kinh
doanh sử dụng hệ thống hóa đơn chứng từ nhằm chứng minh giá trị tăng thêm làm
căn cứ tính thuế, góp phần làm lành mạnh hóa thị trường và nhà nước có thể kiểm
soát được giá cả, số lượng hàng hóa, dịch vụ lưu thông trên thị trường nhằm kiểm
soát lạm phát và cung cấp số liệu thống kê hợp lý cho các mục đích kinh tế khác.
Để kiểm soát được số tiền thuế mà đối tượng nộp thuế phải nộp, cán bộ, CQT
không chỉ căn cứ vào hóa đơn chứng từ do phía tổ chức kinh doanh xuất trình làm
căn cứ tính thuế mà còn phải đối chiếu với hệ thống hóa đơn chứng từ của chủ thể
cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Nếu kiểm soát tốt hoạt động này sẽ hạn chế tình trạng
trốn thuế GTGT nói riêng và tình trạng trốn thuế nói chung.

ra thuế GTGT đầu ra để được hoàn thuế GTGT. Thuế GTGT còn khuyến khích xuất
khẩu hàng hóa dịch vụ thông qua áp dụng thuế suất 0%, DN xuất khẩu hàng hóa dịch
vụ không chịu thuế GTGT ở khâu xuất khẩu, được hoàn toàn bộ số thuế đầu vào đã thu
ở khâu trước nên có tác dụng giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh
tranh trên thị trường quốc tế.
Thứ tư: Thuế GTGT không trùng lặp do chỉ tính vào giá trị tăng thêm của
hàng hóa dịch vụ qua các khâu sản xuất, lưu thông, tiêu dùng, không tính vào phần
giá trị đã chịu thuế GTGT ở các khâu trước, thuế đã nộp ở các khâu trước được tính
khấu trừ ở khâu sau nên khuyến khích các tổ chức, cá nhân bỏ vốn đầu tư phát triển
sản xuất, kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh tế, phát triển kinh tế thị trường.


11

Luật thuế giá trị gia tăng ra đời đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước
ta, góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển đất nước. Luật thuế GTGT góp
phần đến công tác quản lý thuế tạo điều kiện cho cơ quan Nhà nước kiểm tra, giám
sát hoạt động kinh doanh của các đơn vị SXKD, tăng cường công tác hạch toán, kế
toán và thúc đẩy việc mua bán hoá đơn GTGT ở các đơn vị SXKD. Do yêu cầu của
việc kê khai thuế GTGT, khấu trừ thuế GTGT đầu vào, tính đúng thu nhập của các
đơn vị nên những người làm công tác quản lý kinh doanh đã bắt đầu chú trọng đến
công tác mở sổ kế toán, ghi chép, quản lý và sử dụng hoá đơn chứng từ. Thông qua
việc chấp hành công tác kế toán, hoá đơn chứng từ của các đơn vị, qua việc kê khai
thuế, hoàn thuế, quyết toán thuế đã giúp cơ quan chức năng và CQT từng bước nắm
được tình hình kinh doanh của các đơn vị.
Thuế GTGT được tính theo 2 phương pháp:
Thứ nhất là phương pháp khấu trừ thuế: số thuế GTGT phải nộp theo phương
pháp khấu trừ thuế bằng số thuế GTGT đầu ra trừ số thuế GTGT đầu vào được khấu
trừ.
Thứ hai là phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng: Số thuế giá trị gia

phát triển các cơ sở tạo ra nguồn thu thuế trong tương lai. Việc các đơn vị được giao
chỉ tiêu thu ngân sách hoàn thành hoặc hoàn thành vượt mức chỉ tiêu số thu được
giao là một trong những yếu tố quan trọng nhằm đảm bảo nguồn chi cho thực hiện
phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng. Xây dựng chính sách thuế phải phối
hợp với việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô. Bởi vì các chính sách thuế
của nhà nước dù trực tiếp hay gián tiếp đều có tác động đến thu nhập của các tổ
chức cá nhân, tác động đến các hoạt động kinh tế là cơ sở tạo ra nguồn thu trong
tương lai.
Hai là: Chống thất thu NSNN
Quản lý thu thuế hiệu quả giúp chống thất thu NSNN đồng thời tăng tính tuân
thủ pháp luật của các cá nhân, tổ chức kinh tế. Mặt khác quản lý thu thuế hiệu quả
còn giúp thu đúng đối tượng, thu đủ số tiền thuế mà theo quy định đơn vị SXKD có
nghĩa vụ phải nộp cho ngân sách nhà nước. Từ đó Nhà nước hiện thực hóa mục tiêu
của chính sách thuế như: tác động điều tiết nền kinh tế vĩ mô, hướng dẫn tiêu
dùng… Nội dung chống thất thu chủ yếu gồm: Chống gian lận về số lượng, trọng
lượng, chủng loại; chống gian lận về thuế suất; chống thất thu qua giá; chống gian


13

lận qua xuất xứ hàng hóa. Thuế GTGT là loại thuế mang lại số thu lớn, thường
xuyên cho NSNN hàng năm nên việc quản lý thu thuế GTGT càng là vấn đề cấp
thiết hơn bao giờ hết.
Ba là: Tăng cường ý thức chấp hành các quy định về thuế giá trị gia tăng cho
các cá nhân, tổ chức kinh tế. Nộp thuế vừa là trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân.
Quản lý thu thuế giá trị gia tăng sử dụng các luật, chính sách điều chỉnh hành vi của
các cá nhân, tổ chức tham gia vào hoạt động kinh tế. Việc tăng cường công tác
thanh tra, kiểm tra ý thức chấp hành luật liên quan đến thuế giá trị gia tăng đối
tượng nộp thuế cần luôn được chú trọng.
Tổng cục thuế là cơ quan cao nhất trong hệ thống thu thuế Nhà nước cùng với

thực hiện nhiệm vụ được giao, pháp luật thuế có quy định cho cán bộ lãnh đạo và
cán bộ thu thuế có một số quyền hạn nhất định.
Luật Quản lý thuế đã được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội
Khoá XI và có hiệu lực từ ngày 1/7/2007 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật
Quản lý Thuế số 21/2012/QH13 ngày 20/11/2012 và có hiệu lực thi hành từ
01/7/2013 quy định đầy đủ các nội dung trong công tác quản lý thuế, quy định
chung cho mọi thành phần kinh tế; Thông tư hướng dẫn TT 156/2013/TT-BTC
ngày 06 tháng 11 năm 2013 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật quản lý thuế.
Quá trình cải cách quản lý thuế của Việt Nam đã chuyển đổi từ quản lý thuế
theo đối tượng đến cơ chế tự tính, tự khai và nộp theo thông báo và hiện nay là cơ
chế tự tính, tự khai, tự nộp thuế. Tổng cục Thuế đã xây dựng một hệ thống các quy
trình theo từng chức năng quản lý thuế áp dụng chung đối với tất cả các thành phần
kinh tế. Theo luật quản lý thuế thì quản lý thu thuế GTGT gồm các nội dung như
sau: Quản lý đăng ký, kê khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế, hoàn thuế, miễn thuế,
giảm thuế; Thanh tra, kiểm tra thuế giá trị gia tăng; Quản lý nợ và cưỡng chế nợ
thuế GTGT; Xử lý vi phạm pháp luật thuế; Giải quyết khiếu nại tố cáo.
Nội dung quản lý thu thuế GTGT có thuể chia thành 4 nhóm như sau: Một là
quản lý các thủ tục hành chính về thuế GTGT; Hai là giám sát việc tuân thủ luật
thuế GTGT; Ba là Quản lý công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT; Bốn là Quản lý hoạt
động thu thuế GTGT.


15

1.2.1. Quản lý các thủ tục hành chính về thuế giá trị gia tăng
1.2.1.1. Quản lý đăng ký thuế và cấp mã số thuế cho đối tượng nộp thuế
Đăng ký thuế là việc NNT kê khai những thông tin của mình theo mẫu quy
định và nộp tờ khai cho cơ quan quản lý thuế để bắt đầu thực hiện nghĩa vụ về thuế
với Nhà nước theo các quy định của pháp luật. Việc đăng ký thuế giúp cho CQT có
những thông tin của đối tượng nộp thuế: Tên, người đại diện, địa chỉ, số điện thoại,

tính, tự khai, tự nộp như hiện nay.
- Quản lý nộp thuế
Quản lý nộp thuế GTGT là việc mà Chi cục thuế phối hợp với Kho bạc nhà nước
tại cùng quận, huyện thực hiện theo dõi tình hình nộp thuế GTGT của NNT.
NNT tự tính và kê khai số thuế phải nộp, thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày
cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế. Trường hợp cơ quan quản lý thuế tính thuế
hoặc ấn định thuế thì thời hạn nộp thuế là thời hạn ghi trên thông báo của cơ quan quản
lý thuế.
Ở các nước phát triển hệ thống thanh toán hiện đại, việc khai thuế và nộp thuế
được thực hiện qua mạng. Điều này giúp giảm bớt thời gian giao dịch trực tiếp với
CQT. Việc tiếp nhận và xử lý hồ sơ tốn rất nhiều thời gian và nhân lực nên khai thuế và
nộp thuế điện tử là tiêu chí phấn đấu của tất cả các CQT các nước. Ở nước ta việc kê
khai và nộp thuế điện tử đã được triển khai thực hiện nhưng tại các Chi cục thuế nhất là
Chi cục thuế tại các tỉnh nhỏ việc áp dụng này vẫn chưa được NNT áp dụng rộng rãi.
Do các đơn vị SXKD nhỏ lẻ họ không có nhiều giao dịch mặt khác áp dụng khai thuế
và nộp thuế điện tử nộp thuế điện tử phải mất thêm một phần chi phí.
1.2.1.3. Quản lý hoàn thuế giá trị gia tăng
Hoàn thuế là một thuộc tính ưu việt của thuế GTGT. Tổ chức, cơ sở kinh
doanh hay cá nhân được xem xét hoàn thuế GTGT khi cơ sở kinh doanh hoặc tổ
chức, cá nhân mua hàng hóa, dịch vụ số tiền thuế đầu vào đã trả khi mua hàng hóa,
dịch vụ mà cơ sở kinh doanh còn chưa được khấu trừ trong kỳ tính thuế hoặc hàng
hóa, dịch vụ trong trường hợp tiêu dùng của tổ chức, cá nhân đó không thuộc diện
chịu thuế hoặc số thuế nộp thừa. Những đối tượng này phải lập hồ sơ hoàn thuế gửi
đến CQT. Sau khi nhận hồ sơ CQT sẽ ra quyết định hoàn thuế hoặc thông báo lý do
không được hoàn.


17

Quy trình hoàn thuế GTGT được thực hiện theo quyết định số 905/QĐ-TCT


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status