1
1
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của
tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
2
2
2
MỤC LỤC
3
3
3
DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
4
4
4
Công nhân sản xuất
5
CT
Công trình
6
CPSX
Chi phí sản xuất
7
CP
Chi phí
8
CPC
Chi phí chung
9
CPSXKD
Hạng mục công trình
15
KC
Kết chuyển
16
KH
Kế hoạch
17
KPCĐ
Kinh phí công đoàn
18
KLXL
Khối lượng xây lắp
19
NVLTT
Vật liệu
5
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Dịch vụ xây lắp có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, góp phần đáng
kể vào sự phát triển kinh tế - xã hội. Cùng với sự phát triển của sản xuất, nhu cầu về
dịch vụ xây lắp ngày càng tăng. Thời gian qua cho thấy, các công ty trách nhiệm hữu
hạn xây lắp đã phát triển không ngừng cả về quy mô cũng như các dịch vụ cung cấp.
Hiện nay, tại địa bàn thành phố Hà Nội cũng như trên toàn lãnh thổ Việt Nam, các
công ty kinh doanh dịch vụ xây lắp đang phát triển lớn mạnh không ngừng. Các công
ty kinh doanh loại hình dịch vụ xây lắp có đặc điểm là cung cấp dịch vụ rộng khắp
trên toàn quốc, và cũng như các công ty kinh doanh dịch vụ khác, quá trình thực hiện
dịch vụ sản phẩm xây lắp của các công ty xây lắp không tập trung mà diễn ra ở khắp
nơi vì vậy rất khó kiểm soát chi phí phát sinh. Hơn nữa, trong xu thế hội nhập kinh tế
quốc tế, các công ty xây lắp đều chịu sự cạnh tranh gay gắt với các công ty xây lắp
khác trong và ngoài nước. Để tồn tại và phát triển, các công ty trách nhiệm hữu hạn
xây lắp phải không ngừng sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để nâng cao hiệu qủa
sản xuất kinh doanh. Muốn thực hiện được mục tiêu đó, đòi hỏi các công ty trách
nhiệm hữu hạn xây lắp phải cải tiến, đổi mới công tác quản lý, phương thức kinh
doanh cũng như hệ thống các công cụ quản lý, trong đó có công tác kế toán.
Với xu hướng toàn cầu hóa, rất nhiều cơ hội mở ra cho nghành xây lắp nước
nhà nhưng cũng đặt ra không ít thách thức. Đó là phải làm sao nâng cao chất lượng
sản phẩm, hạ giá thành, giữ vững uy tín và tăng sức cạnh tranh.Trong đó, việc sử
dụng hợp lý và tiết kiệm các nguồn lực cùng với việc hạ thấp giá thành sản phẩm là
mục tiêu quan trọng của các doanh nghiệp xây lắp có ý nghĩa nâng cao kết quả và
hiệu quả kinh doanh.
Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực
tiễn về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong các công ty
trách nhiệm hữu hạn xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Phạm vi nghiên cứu:
Trong nền kinh tế thị trường, các công ty xây lắp có nhiều loại hình doanh
nghiệp khác nhau như: công ty cổ phần có vốn của Nhà nước, công ty liên doanh
với nước ngoài, công ty trách nhiệm hữu hạn. Tuy nhiên, trong luận văn này tác giả
chỉ nghiên cứu kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong các
7
công ty trách nhiệm hữu hạn xây lắp và trong địa bàn thành phố Hà Nội.
4. Tổng quan các đề tài nghiên cứu có liên quan
Nghiên cứu về kế toán chi phí xây lắp và tính giá thành sản phẩm xây lắp là vấn đề
quan trọng và cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp, bởi vì khi nghiên cứu vấn đề này
sẽ giúp các doanh nghiệp hiểu rõ về bản chất của chi phí, giá thành để từ đó phân
tích các nội dung sâu hơn như khoản mục chi phí, tài khoản sử dụng, cách tính giá
thành sao cho phù hợp…Chính vì vậy, trong những năm gần đây đã có một số công
trình khoa học các đề tài nghiên cứu các vấn đề kế toán chi phí và tính giá thành sản
phẩm tại một số doanh nghiệp xây lắp như:
Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thị Diệu Linh (năm 2011) nghiên cứu “Hoàn thiện
công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các
doanh nghiệp xây dựng dân dụng”, luận án đã hệ thống hóa và phân tích những
vấn đề lý luận về bản chất của chi phí và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp
xây lắp, xem xét chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trên khía cạnh kế toán tài
chính và khía cạnh kế toán quản trị, luận án trình bày những đặc điểm đặc thù của
ngành xây dựng cơ bản trên cơ sở đó phân tích được những tác động lớn của sản
phẩm, sản xuất và cơ chế quản lý kinh tế tài chính đến công tác kế toán chi phí sản
khí” Luận văn đã tìm hiểu, phân tích và đánh giá thực trạng kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại công ty khảo sát. Đặc điểm nổi bật của luận
văn mà các luận văn khác chưa làm được là trong chương 1, tác giải đã đưa các lý
luận rất chi tiết, cụ thể về kế toán quản trị chi phí và tính giá thành sản phẩm. Tuy
nhiên, trong chương 2 phần thực trạng tác giả lại không nêu tại công ty đó có thực
hiện công tác kế toán quản trị về kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm không,
nếu có thực hiện thế nào? Trong đó phần lý luận chung tác giả đã viết rất chi tiết về
kế toán quản trị chi phí và tính giá thành sản phẩm. Đây cũng là điểm hạn chế của
đề tài này.
Năm 2015, tác giả Trịnh Thị Kim Tiến với đề tài “Kế toán chi phí và tính giá
thành sản phẩm xây lắp tại công ty TNHH MTV ứng dụng công nghệ mới và du
lịch” Luận văn đã bám sát các chuẩn mực, chế độ, giáo trình khi nghiên cứu nên đã
hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề chung nhất về kế toán tập hợp chi phí và
tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp nói chung và tại công ty khảo
sát nói riêng. Tác giả cũng đã phân tích, đánh giá thực trạng kế toán chi phí và tính
giá thành sản phẩm xây lắp và đưa ra các giải pháp rất cụ thể về kế toán chi phí và
tính giá thành sản phẩm. Tuy nhiên, hướng ngiên cứu của luận văn mang tính chất
9
lý luận nhiều hơn thực tiễn.
Theo tác giả, trong quá trình nghiên cứu và trình bày luận văn của mình, tác giả không
tách biệt góc độ nghiên cứu là kế toán tài chính hay kế toán quản trị mà công việc kế
toán quản trị và kế toán tài chính được lồng ghép, không tách biệt.
Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp của các doanh
nghiệp xây dựng và xây lắp đã được đề cập rất nhiều ở các tài liệu, công trình
nghiên cứu ở nhiều quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam.
Trong các giáo trình trong nước về kế toán đều có các nội dung viết về kế toán
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp..
nghệ... Mỗi phương pháp hạch toán chi phí ứng với một loại đối tượng hạch toán
chi phí.
- Về hạch toán chi phí trong các doanh nghiệp xây lắp: giáo trình cho rằng tuỳ
thuộc và đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp, vào yêu cầu của công tác quản lý
và trình độ của cán bộ kế toán cũng như vào quy định của chế độ kế toán hiện hành,
việc hạch toán chi phí sản xuất có thể tiến hành theo phương pháp kê khai thường
xuyên hoặc phương pháp kiểm kê định kỳ.
Luận án tiến sĩ của tác giả Hoàng Văn Tưởng (năm 2010) nghiên cứu đề tài
“Tổ chức kế toán quản trị với việc tăng cường quản lý hoạt động kinh doanh trong
doanh nghiệp quản trị với việc tăng cường quản lý hoạt động kinh doanh trong các
doanh nghiệp xây lắp Việt Nam”, đề tài đã hệ thống hóa và phát triển các lý thuyết
về tổ chức kế toán quản trị nhằm tăng cường quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh
trong doanh nghiệp, đề tài khái quát các mô hình tổ chức kế toán quản trị được vận
dụng ở một số nước trên thế giới và phân tích thực trạng tổ chức kế toán quản trị
trong các doanh nghiệp xây lắp Việt Nam hiện nay, từ đó tác giả đề xuất xây dựng
mô hình tổ chức kế toán quản trị nhằm tăng cường quản lý hoạt động sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp xây lắp Việt Nam trong điều kiện kinh doanh hiện nay.
Ngoài ra, nghiên cứu về tổ chức KTQT trong các DN xây lắp còn có TS.
Phạm Thị Kim Vân (2002), với luận án “Tổ chức kế toán quản trị CP và
KQKD ở các DN xây lắp”. Qua nghiên cứu, TS. Phạm Thị Kim Vân đã nêu ra được
những vấn đề lý luận cơ bản của KTQT trên cả hai phương diện lý luận và thực
tiễn. Tác giả cũng chỉ ra những hạn chế trong kế toán chi tiết và nhận thức về
KTQT trong các DN xây lắp, các giải pháp để khắc phục những hạn chế này.
Nghiên cứu về tổ chức kế toán CP, DT, KQKD trong các DN thuộc lĩnh vực
xây lắp, có TS. Nghiêm Thị Thà (2007) với luận án “Hoàn thiện tổ chức kế
11
toán CP, DT, KQKD trong các DN xây lắp” đã nghiên cứu thực tiễn tổ chức
12
cũng thấy được khái quát đề tài mình đang nghiên cứu với một số vấn đề cẩn làm
sáng rõ. Kế thừa và phát triển thêm các kết quả nghiên cứu của các đề tài trước,
trong đề tài của mình, tác giả sẽ không chỉ dừng ở việc đi sâu vào phân tích công tác
kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp của các công ty trách
nhiệm hữu hạn xây lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội, mà còn đi sâu phân tích và
làm nổi bật mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến công tác kế toán chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp của các công ty này. Thông qua đề
tài này, tác giả cũng hy vọng sẽ đóng góp cho các công ty trách nhiệm hữu hạn xây
lắp trên địa bàn thành phố Hà Nội những giải pháp hữu ích cả trong ngắn hạn và dài
hạn để công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp ngày
càng hoàn thiện và hoạt động một cách hiệu quả nhất.
5. Phương pháp nghiên cứu
Tác giả đã sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như:
phương pháp điều tra, phân tích, hệ thống hóa; phương pháp khảo sát, ghi chép;
phương pháp tổng hợp, phân tổ thống kê; phương pháp quy nạp, diễn giải, so sánh;
phương pháp thực chứng… để nghiên cứu, phân tích, đánh giá, trình bày các vấn đề
có liên quan đến kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong
các DN xây lắp nói chung và tại các công ty trách nhiệm hữu hạn xây lắp trên địa
bàn thành phố Hà Nội.
Phương pháp thu thập dữ liệu
Dữ liệu sơ cấp:
+ Phỏng vấn trực tiếp một số phòng ban gồm phòng kế toán, phòng kinh
doanh, phòng vật tư
+ Phỏng vấn trực tiếp các kế toán viên và các công nhân trực tiếp tham gia
cung cấp dịch vụ.
Tác giả phỏng vấn và phát phiếu điều tra cho các đối tượng nêu trên nhằm tìm
hiểu về thực trạng tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây
Luận văn cũng tham khảo kết quả điều tra, phân tích về công tác kế toán chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp ở một số luận án tiến sỹ để tổng
kết kinh nghiệm và rút ra bài học cho việc vận dụng vào công tác kế toán chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong các công ty trách nhiệm hữu hạn
xây lắp.
Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thu được từ điều tra, quan sát, phỏng vấn, ghi chép... được tác giả tổng
14
hợp lại, phương pháp phân tổ thống kê sẽ được sử dụng để xử lý thông tin. Trên cơ
sở đó tác giả thực hiện đánh giá, phân tích thực trạng công tác kế toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp, mặt mạnh, mặt yếu, các nguyên nhân chủ
quan, khách quan ...để từ đó tác giả đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác
kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp.
Luận văn cũng vận dụng các phương pháp cụ thể trong quá trình nghiên cứu
như: phương pháp quy nạp, diễn giải, so sánh, phương pháp thống kê để phân tích
các vấn đề lý luận và thực tiễn. Trên cơ sở đó đánh gía và ra kết luận từ đó đưa ra
các giải pháp hoàn thiện phù hợp và khả thi.
Tài liệu sau khi được thu thập, lựa chọn và xử lý bằng các phương pháp như kiểm
tra thông tin, phân tích, so sánh, để hệ thống hóa và phát triển lý luận tổ chức kế toán
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong các công ty trách nhiệm hữu
hạn xây lắp hiện nay, từ đó đánh giá thực trạng tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm xây lắp lắp trong các công ty trách nhiệm hữu hạn trên địa bàn
thành phố Hà Nội. Trên cơ sở thực trạng, đưa ra các giái pháp để hoàn thiện tổ chức kế
toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp trong các công ty trách nhiệm
hữu hạn trên địa bàn thành phố Hà Nội sao cho hoạt động hiệu quả nhất.
Quy trình nghiên cứu
Số lượng các công ty trách nhiệm hữu hạn mà tác giả dự kiến thực hiện nghiên
Hai là, trên cơ nghiên cứu chuẩn mực về kế toán chi phí sản xuất và giá thành
sản phẩm xây lắp, luận án đã chỉ ra mô hình tổ chức bộ máy kế toán áp dụng cho
các công ty trách nhiệm hữu hạn xây lắp ở Việt Nam nên theo mô hình kết hợp giữa
KTTC và KTQT trên cùng một hệ thống kế toán, nó phù hợp với đất nước có nền
kinh tế đang phát triển như Việt Nam.
* Những đề xuất mới rút ra từ kết quả nghiên cứu
- Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm xây lắp trong các công ty trách nhiệm hữu hạn xây lắp, luận văn đã đưa ra
những vấn đề tồn tại trong công tác kế toán công ty trách nhiệm hữu hạn xây lắp ở
Việt Nam tại các công ty này. Những bất cập đó thuộc về nhận diện và phân loại chi
phí và tính giá thành sản phẩm; việc thực hiện chế độ kế toán về chứng từ, tài
khoản, sổ kế toán, báo cáo kế toán trong công tác kế toán chi phí sản xuất trên
phương diện KTTC; xây dựng định mức và lập dự toán sản xuất, phân tích thông tin
để kiểm soát và cung cấp thông tin chi phí nhằm phục vụ ra quyết định trên phương
diện KTQT. Luận văn cũng đã xác định được nguyên nhân chủ quan khách quan
16
của những tồn tại đó xuất phát từ phía Nhà nước và các Công ty; nhận thức về vai
trò về thông tin kế toán trong công tác quản lý còn hạn chế…
- Xuất phát từ những tồn tại, bất cập, luận văn đã đề xuất một số giải pháp
hoàn thiện nằm trên 2 phương diện nghiên cứu, đó là:
+ Trên phương diện KTTC, luận văn đề xuất hoàn thiện xác định nội dung và
phạm vi chi phí; phương pháp kế toán chi phí giá thành sản phẩm xây lắp
+ Trên phương diện KTQT, luận văn đề xuất hoàn thiện mô hình tổ chức bộ
máy theo mô hình kết hợp giữa KTTC và KTQT; phân tích biến động chi phí để
kiểm soát chi phí và phục vụ tra quyết định.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục sơ đồ bảng biểu, danh mục từ viết tắt,
công nghiệp phụ trợ, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí khác.
2.1.1.2. Phân loại chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp
Theo cách phân loại này, căn cứ vào mục đích công dụng của chi phí sản xuất
để chia ra các khoản mục khác nhau. Mỗi khoản mục chi phí bao gồm những chi
phí có cùng mục đích công dụng, không phân biệt chi phí đó có nội dung kinh tế
như thế nào. Do vậy, cách phân loại này còn gọi là phân loại chi phí theo khoản
mục. Trong doanh nghiệp xây lắp, toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ được
chia ra làm các khoản mục chi phí sau:
Một là, Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là chi phí ( đã tính đến hiện trường
xây lắp ) của các vật liệu chính, vật kết cấu, vật liệu phụ, vật liệu luân chuyển bán
thành phẩm… và giá trị vật liệu luân tính vào chi phí trong kỳ tạo nên sản phẩm xây
lắp.
Hai là, Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm chi phí về tiền lương của công
18
nhân trực tiếp xây lắp và tiền công thuê ngoài để thực hiện khối lượng xây lắp .
Ba là, Chi phí sử dụng máy thi công : là chi phí sử dụng máy thi công để hoàn
thành sản phẩm xây lắp bao gồm 6 tiểu khoản: Chi phí nhân công; Chi phí vật liệu;
Chi phí dịch vụ sản xuất; Chi phí khấu hao máy thi công; Chi phí dịch vụ mua
ngoài; Chi phí bằng tiền khác để sử dụng máy thi công.
Bốn là, Chi phí sản xuất chung: là những chi phí là những chi phí quản lý,
phục vụ sản xuất và những chi phí ngoài sản xuất bao gồm 5 khoản mục: Chi phí
nhân viên phân xưởng; Chi phí vật liệu; Chi phí dụng cụ sản xuất; Chi phí khấu hao
TSCĐ; Chi phí dịch vụ mua ngoài ở phân xưởng sản xuất phục vụ cho nhu cầu sản
xuất chung của các đội sản xuất và các khoản trích theo lương tính vào chi phí sản
xuất của công nhân trực tiếp xây lắp, công nhân điều khiển máy thi công , nhân viên
phân xưởng. Chi phí sản xuất chung phải được tập hợp theo từng địa điểm phát sinh
chi phí. Nếu trong doanh nghiệp có nhiều đội xây dựng thì phải mở sổ chi tiết để tập
Chi phí nguyên vật liệu : xi măng, thép, cát, gạch.......
Chi phí công cụ, dụng cụ : cuốc, xẻng, cốp pha, máy dầm, máy bơm......
Chi phí tiền lương của công nhân trực tiếp, gián tiếp, lao động thuê ngoài và trích
-
BHXH, BHYT, KPCĐ
Chi phí khấu hao TSCĐ, máy móc thiết bị .
Chi phí dịch vụ mua ngoài .
Chi bằng tiền khác.
Việc phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố cho biết kết cấu tỷ trọng từng yếu
tố chi phí sản xuất để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí sản
xuất, là cơ sở để lập kế hoạch cung ứng vật tư, kế hoạch quĩ lương, kế hoạch về vốn
giúp cho việc thực hiện công tác kế toán và công tác quản lý được chặt chẽ .
2.1.1.3. Khái niệm giá thành sản phẩm xây lắp
Giá thành sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về
lao động sống và lao động vật hoá bỏ ra để tiến hành sản xuất khối lượng sản phẩm
xây lắp hoàn thành.
Giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ chi phí chi ra như như chi phí nguyên
liệu, chi phí máy thi công… tính bằng tiền để hoàn thành một khối lượng sản phẩm
xây lắp nhất định, có thể là một hạng mục công trình hay một công trình hoàn thành
toàn bộ.
Giá thành sản phẩm xây lắp là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh chất lượng
hoạt động sản xuất, kết quả sử dụng các loại tài sản, vật tư, lao động, tiền vốn trong
quá trình sản xuất cũng như các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp đã thực
hiện nhằm đạt được mục đích sản xuất được khối lượng sản phẩm nhiều nhất với
20
Giá thành dự toán của
từng công trình hạng
mục công trình
=
Giá trị dự toán của từng
công trình hạng mục
công trình
Lợi nhuận
chịu thuế tính
trước
Trong đó : Lợi nhuận chịu thuế tính trước là số phần trăm trên giá thành xây
lắp do Nhà Nước qui định đối với từng loại xây lắp khác nhau, từng sản phẩm xây
lắp cụ thể.
Thông qua giá thành dự toán của công tác xây lắp người ta có thể đánh giá
được thành tích của đơn vị. Giá thành dự toán là hạn mức chi phí cao nhất mà đơn
vị có thể chi ra để đảm bảo có lãi, là tiêu chuẩn để đơn vị xây lắp phấn đấu hạ giá
thành thực tế và là căn cứ để chủ đầu tư thanh toán cho doanh nghiệp khối lượng
hoàn thành đã nghiệm thu. Mặt khác, giá trị dự toán của từng công trình, hạng mục
công trình được xác định theo các định mức ( vật liệu, nhân công, máy......) đơn giá
21
của các cơ quan có thẩm quyền ban hành và sát được giá trị thực tế, không phản ánh
được giá trị thực chất của công trình. Do vậy doanh nghiệp phải lập giá thành kế
hoạch để dự kiến chỉ tiêu hạ giá thành.
e) Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ biện chứng với
nhau trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm. Chúng đều giới hạn để tập hợp chi
phí cho công tác quản lý, phân tích và kiểm tra công tác giá thành.
Giá thành sản phẩm luôn chứa đựng hai mặt khác nhau bên trong nó là chi phí
sản xuất và lượng giá trị sử dụng cấu thành trong khối lượng sản phẩm, công việc
đã hoàn thành. Hơn nữa chi phí biểu hiện về mặt hao phí còn giá thành biểu hiện về
mặt kết quả của quá trình sản xuất. Đây là hai mặt thống nhất của một quá trình. Vì
vậy chúng giống nhau về bản chất.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp đều bao gồm các hao phí về
lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong quá trình sản
xuất sản phẩm. Tuy nhiên do bộ phận chi phí sản xuất không dều nhau nên chi phí
sản xuất và giá thành sản phẩm khác nhau về lượng. Điều đó thể hiện trên sơ đồ
sau:
CPSXDDĐK
Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
A
B
C
D
Tổng giá thành sản phẩm
CPSXDDCK
thành sản phẩm xây lắp
2.1.2.1. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là nơi phát sinh và chịu chi phí. Tuỳ theo
yêu cầu quản lý, yêu cầu tính giá thành mà đối tượng tập hợp chi phí có thể được
xác định là từng sản phẩm, từng đơn đặt hàng, từng phân xưởng sản xuất hay từng
giai đoạn công nghệ sản xuất sản phẩm.
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trong xây lắp là phạm vi giới hạn sản phẩm
xây lắp, nhằm phục vụ cho thông tin kiểm tra chi phí và tính giá thành sản phẩm.
Giới hạn tập hợp chi phí có thể là nơi phát sinh chi phí, có thể là đối tượng chịu chi
phí. Thực chất của việc xác định đối tượng tập hợp chi phí là xác định nơi phát sinh
chi phí và đối tượng chịu chi phí. Để xác định đúng đắn đối tượng tập hợp chi phí
sản xuất cần căn cứ vào:
+ Đặc điểm và công dụng của chi phí sản xuất
+ Cơ cấu tổ chức sản xuất, đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất
+ Yêu cầu và trình độ quản lý sản xuất kinh doanh, yêu cầu hạch toán kinh
doanh của doanh nghiệp.
Xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất một cách khoa học hợp lý là cơ sở
để tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất, từ việc tổ chức hạch toán ban đầu đến tổ
chức tổng hợp số liệu, ghi chép trên tài khoản, sổ chi tiết… Các chi phí phát sinh, sau
khi đã được tập hợp xác định theo các đối tượng công tác kế toán chi phí sản xuấtsẽ
là cơ sở để tính giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ theo đối tượng đã xác định.
Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp có
thể là:
24
+ Công trình
+ Hạng mục công trình
+ Đơn đặt hàng
kết quả.
Dù vậy, giữa đối tượng công tác kế toán chi phí sản xuấtvà đối tượng tính giá
thành sản phẩm lại có mối quan hệ mật thiết, thể hiện:
-
Một đối tượng công tác kế toán chi phí sản xuất tương ứng với một đối tượng tính
-
giá thành liên quan.
Một đối tượng công tác kế toán chi phí sản xuất tương ứng với nhiều đối tượng tính
giá thành liên quan.
Nhiều đối tượng công tác kế toán chi phí sản xuất tương ứng với một đối
tượng tính giá thành liên quan. Số liệu về chi phí được tập hợp trong kỳ theo từng
đối tượng tập hợp chi phí là cơ sở và căn cứ tính giá thành sản phẩm xây lắp cho
từng đối tượng tính giá thành có liên quan.
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm
giống nhau ở bản chất chỗ chúng đều là những phạm vi, giới hạn nhất định để tập
hợp chi phí sản xuất theo đó và cùng phục vụ cho công tác quản lý, phân tích kiểm
tra chi phí, giá thành sản phẩm.
2.1.3. Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất xây lắp
Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất là phương pháp sử dụng để tập hợp và
phân loại chi phí theo khoản mục chi phí trong giới hạn của mỗi đối tượng kế toán
chi phí. Trong các doanh nghiệp xây lắp chủ yếu dùng các phương pháp tập hợp chi
phí sau:
Phương pháp hạch toán chi phí sản xuất theo công trình, hạng mục công trình:
chi phí sản xuất liên quan đến công trình, hạng mục công trình nào thì tập hợp cho
công trình, hạng mục công trình đó.
Phương pháp hạch toán chi phí theo đơn đặt hàng: các chi phí sản xuất phát
sinh liên quan đến đơn đặt hàng nào sẽ được tập hợp và phân bổ cho đơn đặt hàng