luận văn thạc sĩ phát triển dịch vụ phi tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại cổ phần công thƣơng việt nam chi nhánh bỉm sơn - Pdf 41

i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn này là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.

Tác giả Luận văn

Trịnh Minh Đức


ii
LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp cao học, được sự
giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo Khoa sau đại học Trường Đại học Thương
Mại cùng sự tham gia góp ý của các nhà quản lý, đồng nghiệp, bạn bè và sự
nỗ lực của bản thân, đến nay tôi đã hoàn thành luận văn thạc sỹ kinh tế với đề
tài “Phát triển dịch vụ phi tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần
Công thương Việt Nam - Chi nhánh Bỉm Sơn” chuyên ngành Tài chính
Ngân hàng
Với lòng kính trọng và biết ơn, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới
PGS,TS. Nguyễn Thị Phương Liên đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và cung
cấp các kiến thức khoa học cần thiết trong quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo thuộc Bộ môn tài chính ngân hàng cùng
các thầy cô khoa Sau đại học đã hết sức tận tình giảng dạy, nâng cao kiến
thức và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn thạc sỹ
của mình
Tôi xin chân thành cám ơn Ban giám đốc, các lãnh đạo phòng ban chủ
chốt của ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – CN Bỉm Sơn đã tạo điều
kiện nghiên cứu cũng như cung cấp các tài liệu liên quan giúp tôi hoàn thành
luận văn


iv
1.3.1.1 Kinh nghiệm của HSBC..............................................................33
1.3.2. Bài học kinh nghiệm cho Vietinbank Bỉm Sơn.............................37
Vietinbank Bim Sơn hoạt động kinh doanh dưới sự chỉ đạo trực tiếp của
Ngân hàng TMCP Công Thương ( Vietinbank) Việt Nam, với tính đặc
thù của địa bàn hoạt động Vietinbank Bim Son đã có những bước đi
riêng theo định hướng kinh doanh của ngân hàng cấp trên. Bên cạnh đó
không ngừng đổi mới nhằm triển khai có hiệu các SPDV mới của
Vietinbank đưa ra để tăng thu dịch ngoài tín dụng, thực hiện nhất quán
cơ chế tạo các chính sách động lực đồng bộ như khoán đơn giá, phân
phối thu nhập, tiền lương, tiền thưởng, thi đua khen thưởng... theo kết
quả phát triển và hiệu quả thu được từ dịch vụ tín dụng cho các đơn vị
trực thuộc và từng người lao động nhằm kích thích mạnh mẽ việc phát
triển các dịch vụ phi tín dụng theo các định hướng, mục tiêu cơ bản như
sau :..........................................................................................................81

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT


v
ATM

Máy rút tiền tự động

Agribank

Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

BIDV


TCTD

Tổ chức tín dụng

TTQT

Thanh toán Quốc tế

VND

Đô la Mỹ

USD

Việt Nam Đồng

VIETINBANK

Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam

VietinBank Bỉm Sơn

Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – CN Bỉm Sơn


1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
Việt Nam sau hơn 20 năm đổi mới, đặc biệt là từ khi gia nhập WTO đã đạt

Xuất phát từ sự cần thiết nói trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Phát triển dịch vụ
phi tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam - Chi
nhánh Bỉm Sơn ” làm luận văn tốt nghiệp cao học.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến đề tài nghiên cứu đã có các công trình khoa học, các bài nghiên
cứu về hoạt động cung cấp dịch vụ ngân hàng được công bố như:
- “Phát triển Dịch vụ ngânhàng tại NHCT Việt Nam - Thực trạng và giải
pháp” – Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Thạc sĩ Trần Xuân Hiệu – năm 2009
- “Vai trò phát triển dịch vụ phi tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt
Nam” – Nghiên cứu khoa học của tác giả Ths.NCS. Đào Lê Kiều Oanh & Ths.NCS.
Phạm Anh Thủy đăng trên Báo Phát triển và Hội nhập số 6 (16) - Tháng 9-10/2012.
- “Phát triển dịch vụ PTD tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi
nhánh Đà Nẵng” – Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Nguyễn Anh Đào thực hiện tại
trường ĐH Đà Nẵng năm 2013.
- “Phát triển dịch vụ PTD tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam – CN
Hải phòng” Luận văn thạc sĩ của tác giả Lưu Thúy Hải thực hiện tại trường ĐH
Kinh Tế quốc dân năm 2010).
- “Phát triển dịch vụ PTD tại Ngân hàng TMCP Dầu khí toàn cầu chi nhánh
Hoàn Kiếm ”Luận văn thạc sĩ của tác giả Trịnh Thị Mai thực hiện tại trường ĐH
Kinh Tế quốc dân năm 2013.
- “Phát triển dịch vụ PTD đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Đầu tư và
phát triển Việt Nam ” Luận văn thạc sĩ củatác giả Phạm Thị Huyền thực hiện tại
trường ĐH Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2013
-“Các công cụ Marketing online áp dụng trong NH” và “ Sản phẩm ngân hàng
hiện có và xu hướng phát triển”- Nghiên cứu khoa học của phòng KHCN
Vietinbank năm 2012.


3
Qua các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài nghiên cứ có thể thấy tuy

Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Về mặt không gian: đề tài nghiên cứu phát triển hoạt động cung cấp sản phẩm
dịch vụ phi tín dụng dưới góc độ một chi nhánh NHTM nói chung và tại Vietinbank
Bỉm Sơn nói riêng
- Về thời gian: Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu: Các dữ liệu phản ánh hoạt
động cung cấp sản phẩm dịch vụ phi tín dụng tại Vietinbank Bỉm Sơn từ năm 20122015
5. Câu hỏi và phương pháp nghiên cứu
• Câu hỏi nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện vấn đề nghiên cứu, luận văn cần tập trung giải quyết một số vấn
đề cụ thể dựa trên các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Dịch vụ phi tín dụng là gì? Phân loại dịch vụ phi tín dụng? phương thức Phát
triển, tiêu chí đánh giá và nhân tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ phi tín dụng
của các ngân hàng thương mại ?
- Việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ phi tín dụng tại Vietinbank Bỉm Sơn đã
thực hiện được đến đâu? Những thành công, hạn chế còn tồn tại ?
- Vietinbank Bỉm sơn cần có giải pháp gì để phát triển cung cấp dịch vụ phi tín
dụng?
• Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Phương Pháp luận nghiên cứu: kết hợp tư duy khoa học và duy vật biện chứng
để hệ thống hóa một số cơ sở lý luận về sản phẩm dịch vụ phi tín dụng của các ngân
hàng thương mại
Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
+ Phương pháp thu thập thông tin: Phương pháp thu thập thông tin về hoạt
động cung cấp dịch vụ phí tín dụngđược sử dụng trong luận văn là sự kết hợp, bổ
trợ cho nhau giữa nghiên cứu tài liệu. Nghiên cứu tài liệu nhằm thu thập và nghiên
cứu các thông tin liên quan đến sản phẩm dịch vụ phí tín dụng của các ngân hàng
thương mại.


5

giá trị của kết quả hay trong giá trị các loại sản phẩm vô hình và không thể nắm bắt
được” [21, tr.14].
Luật các TCTD sô 47/2010/QH12 năm 2010 của Việt Nam không đưa ra một
khái niệm cụ thể hoặc giải thích từ ngữ với khái niệm dịch vụ ngân hàng mà chỉ đề
cập đến thuật ngữ “hoạt động ngân hàng” trong khoản 7, điều 20: “là hoạt động
kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền
gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán”. Luật các
TCTD cũng dành các mục 1, 2, 3,4 của chương 3 nêu các điều khoản về hoạt động
của TCTD. Theo đó, có thể hiểu hoạt động ngân hàng được chia theo 4 mảng lớn:
huy động vốn; tín dụng; thanh toán và ngân quỹ; và các hoạt động khác. Tuy nhiên,
trong nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn ở Việt Nam, đã có những quan điểm
khác nhau về dịch vụ ngân hàng, nhưng chung nhất dịch vụ ngân hàng là những công
việc do ngân hàng thực hiện để tìm kiếm lợi nhuận. Đối với nền kinh tế, bản thân
hoạt động của ngân hàng được coi là một ngành dịch vụ. Trong bản thân ngành ngân
hàng các hoạt động kinh doanh được phân biệt thành hai loại cơ bản:
- Kinh doanh tiền tệ: chủ yếu là hoạt động huy động vốn và cho vay.
- Dịch vụ ngân hàng: là các hoạt động ngoài hai hoạt động trên


7
1.1.1.2. Dịch vụ phi tín dụng
Theo từ điển thuật ngữ ngân hàng của nhà xuất bản giáo dục Barron, xuất bản
lần thứ 5 của Thomas P.Fitch định nghĩa về dịch vụ phi tín dụng: Dịch vụ phi tín
dụng ( Non credit banking services) là các dịch vụ ngân hàng dựa trên phí không
liên quan đến việc mở rộng tín dụng mà ngân hàng cung cấp cho các ngân hàng đại
lý và các khách hàng doanh nghiệp . Thu nhập từ dịch vụ phi tín dụng có thể là một
nguồn thu đáng kể cho các ngân hàng và các tổ chức tài chính.
Theo tài liệu dự án “Khảo sát và đánh giá dịch vụ phi tín dụng ngân hàng Việt
Nam” của tổ chức DELOITTE TOUCHE TOHMATSU, dịch vụ phi tín dụng là bất
cứ dịch vụ hoặc sản phẩm nào cung cấp bởi ngân hàng hoặc các tổ chức tài chính

lượng dịch vụ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như uy tín doanh nghiệp cung cấp, công
nghệ, cá nhân thực hiện dịch vụ( trình đô, kỹ năng..) mà các yếu tố này lại thường
xuyên biến động do đó mà chất lượng dịch vụ cũng thường thay đổi.
Ngoài các đặc trưng chung của dịch vụ ngân hàng thì các dịch vụ phi tín dụng
của ngân hàng còn có đặc trưng riêng: Doanh thu, chi phí cho các dịch vụ phi tín
dụng của ngân hàng không bao gồm các khoản lãi phải thu được từ việc cấp tín
dụng cho khách hàng hay lãi phải trả từ việc huy động vốn của khách hàng. Việc
cung cấp các dịch vụ phi tín dụng cho khách hàng không tuân theo nguyên tắc hoàn
trả như sản phẩm tín dụng. Khách hàng sau khi sử dụng dịch vụ phi tín dụng sẽ
không phải hoàn trả lại cho ngân hàng các khoản tín dụng gốc và lãi như sản phẩm
tín dụng.
1.1.2.2. Vai trò của dịch vụ phi tín dụng
a)Đối với các ngân hàng thươngmại
Dịch vụ phi tín dụng có vai trò rất quan trọng,quyết định sự tồn tại của một
ngân hàng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, cụ thể là:
(i) Góp phần đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, từ đó thu hút và
mở rộng đến nhiều đối tượng khách hàng;
(ii) Phát triển dịch vụ phi tín dụngđể đáp ứng tối ưu nhu cầu mà nền kinh tế
yêu cầu, góp phần củng cố sự lớn mạnh và nâng cao uy tín, vị thế của NHTM trong
nền kinh tế.


9
(iii) Phân tán rủi ro cho ngân hàng. Nếu như hoạt động tín dụng chứa nhiều rủi
ro thì hoạt động phi tín dụng chứa rất ít rủi ro và mang lại nguồn thu ổn định cho
ngân hàng;
(iv) Làm tăng lợi nhuận của NHTM. Trong hoạt động của một NHTM hiện
đại, lợi nhuận không chỉ tập trung chủ yếu từ sản phẩm tín dụng mà còn được khai
thác từ các sản phẩm dịch vụ khác;
(v) Thúc đẩy quan hệ hợp tác, hội nhậpkinh tế quốc tế trong lĩnh vực ngân

giới. Ngày nay,xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đã được coi là tất yếu. Trong xu
hướng đó, từng quốc gia không ngừng khai thác những nguồn lực của mình, chủ
động hội nhập vào nền kinh tế chung của khu vực và thế giới. Dịch vụ phi tín dụng
của ngân hàng thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo xu hướng nền kinh tế tri thức,
bởi nó ứng dụng nhiều thành tựu của công nghệ thông tin. Ngoài ra xét một góc độ
nào đó thì phát triển dịch vụ phi tín dụng còn có thể được coi là góp phần đẩy mạnh
quá trình minh bạch hóa tài chính trong nền kinh tế, tiết kiệm đóng góp tích cực vào
việc ngăn chặn các tệ nạn kinh tế xă hội như: tham nhũng, trốn thuế, rửa tiền, tạo
điều kiện cho dịch vụ ngân hàng trong việc điều hành chính sách tiền tệ, lành mạnh
hóa nền kinh tế,thúc đẩy nền kinh tế quốc gia hội nhập vào nền kinh tế thế giới ngày
càng sâu, rộng hơn
1.1.3 Các dịch vụ phi tín dụng
1.1.3.1. Nhóm sản phẩm dịch vụ tài khoản và thanh toán trong nước
Nhóm dịch vụ này bao gồm các hình thức ngân hàng thực hiện mở tài khoản
cho khách hàng và thực hiện thanh toán cho khách hàng thông qua ngân hàng nhà
nước, các ngân hàng thương mại và nội bộ ngân hàng;
Dịch vụ mở tài khoản, để thực hiện thanh toán qua ngân hàng và sử dụng các
tiện ích của ngân hàng khách hàng phải mở tài khoản tại ngân hàng, đối với dịch vụ
này thông thường ngân hàng thu phí mở tài khoản, phí quản lý tài khoản nếu số dư
bình quân tài khoản nằm dưới mức cho phép, thu phí rút tiền từ tài khoản cung cấp
thông tin tài khoản như vấn tin số dư, đối chiếu, kiểm tra, in báo cáo, sao kê tài
khoản ...với dịch vụ này ngoài việc thu phí, thì lợi ích lớn nhất của ngân hàng là số
dư tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng trong tài khoản


11
Dịch vụ thanh toán bao gồm các hình thức thanh toán tiền mua bán hàng hóa
thông qua tài khoản với các công cụ thanh toán như séc, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm
thu, chuyển khoản, các hình thức thanh toán nay ngân hàng thu được khoản phí
theo từng danh mục dịch vụ.

nhiệm cho ngân hàng phục vụ mình trích từ tài khoản của mình một số tiền nhất
định chuyển cho một người khác (người bán, người xuất khẩu, chủ nợ..) Ở một địa
điểm nhất định và trong một thời gian nhất định.
Cũng giống như hình thức thanh toán séc, thanh toán chuyển tiền là thanh
toán trực tiếp giữa người chuyển tiền và người nhận tiền. Ngân hàng khi thực
hiện việc chuyển tiền và trả tiền, chỉ đóng vai trò trung gian thanh toán theo ủy
nhiệm để được hưởng hoa hồng và không bị ràng buộc gì đối với người mua lẫn
người bán.
Việc chuyển tiền xem như hoàn tất khi thanh toán hết số tiền cho người thụ
hưởng, trước thời điểm này, số tiền trong tài khoản vẫn thuộc quyền sở hữu của
người chuyển tiền và người này có thể huỷ bỏ lệnh chuyển tiền, mà người thụ
hưởng không thể khiếu nại gì với ngân hàng, việc trả tiền phụ thuộc vào thiện chí
của người mua, quyền lợi của người xuất khẩu không đảm bảo.
b. Dịch vụ thanh toán nhờ thu
Phương thức thanh toán nhờ thu là phương thức thanh toán, mà qua đó tổ chức
xuất khẩu sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ gửi hàng, giao chứng từ hàng hoá uỷ thác
cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ số tiền trên cơ sở hối phiếu do mình lập ra ở
người nhập khẩu thông qua ngân hàng phục vụ người nhập khẩu - người nhập khẩu
khi nhận được giấy báo nhờ thu của ngân hàng, phải tiến hành ngay việc chi trả tiền
để nhận lại chứng từ hàng hóa và đi nhận hàng.
Trong mối quan hệ này, ngân hàng ở cả hai bên nhà nhập khẩu lẫn nhà xuất
khẩu chỉ tham gia với tư cách là người đi thu tiền hộ, có nhận giữ các chứng từ liên
quan đến hàng hoá đã gởi đi, nhưng không bị ràng buộc trách nhiệm. Phương thức
thanh toán này hoàn toàn dựa vào sự tín nhiệm lẫn nhau giữa nhà xuất khẩu và nhà
nhập khẩu, còn đối với ngân hàng khi thực hiện dịch vụ này sẽ thu được một khoản
phí theo tỷ lệ nhất định.


13
c. Dịch vụ thanh toán séc nước ngoài

14
ngoại hối là hoạt động dịch vụ, để đảm bảo thực hiện thanh toán trôi chảy cho các
khách hàng của ngân hàng giữa các quốc gia, tạo cho các doanh nghiệp khả năng
tránh rủi ro do thay đổi tỷ giá trong thanh toán bằng ngoại tệ, đồng thời giúp cho
các doanh nghiệp tính toán hiệu quả kinh tế trong hoạt động trao đổi kinh tế đối
ngoại thông qua đồng bản tệ, tạo khả năng tiếp nhận tín dụng của nước ngoài bằng
bản tệ và thực hiện nghiệp vụ gửi tiền bằng ngoại tệ cho khách hàng tại ngân hàng
trong nước, tạo cho ngân hàng khả năng tận dụng sự chênh lệch tỷ giá giữa các thị
trường ngoại hối khác nhau, các dịch vụ kinh doanh ngoại hối bao gồm:
a. Nghiệp vụ giao ngay (The Spot Operations).
Nghiệp vụ giao ngay được thống nhất trên thị trường quốc tế bao gồm việc
mua bán các đồng tiền khác nhau có trên tài khoản ngân hàng và các bênmua bán
tiến hành thanh toán ngay sau khi đã thoả thuận, giao ngay ở đây thường là vào
ngày làm việc thứ hai kể từ ngày ký kết hợp đồng. Tỷ giá giao ngay được xác định
theo quy luật cung cầu trên thị trường ngoại hối liên ngânhàng. .
b. Nghiệp vụ kỳ hạn (the Forward Operations).
Giao dịch kỳ hạn là những giao dịch ngoại hối có ngày giá trị xa hơn ngày giá
trị giao ngay gọi là giao dịch ngoại hối kỳ hạn. Tỷ giá kỳ hạn là tỷ giá được thoả
thuận ngay từ ngày hôm nay để làm cơ sở cho việc trao đổi tiền tệ tại một ngày xác
định xa hơn ngày giá trị giao ngay, lợi nhuận tạo ra từ nghiệp vụ mua bán kỳ hạn là
chênh lệch tỷ giá mua bán kỳ hạn.
c. Nghiệp vụ hoán đổi (the Swaps Operations).
Giao dịch hoán đối ngoại hối là việc đồng thời mua vào và bán ra một đồng
tiền nhất định, trong đó ngày giá trị mua vào và ngày giá trị bán ra là khác nhau. Về
thực chất giao dịch hoán đổi là việc mua vào đồng tiền đó ngày hôm nay và đồng
thời ký hợp đồng cam kết sẽ bán ra đồng tiền đó sau một thời gian nhất định, tỷ giá
được áp dụng là tỷ giá giao ngay đối với mua vào và tỷ giá kỳ hạn đối với bán ra.
d.Nghiệp vụ tương lai (The Currency Futures).
Giao dịch tương lai là giao dịch kỳ hạn, tức là mọi thoả thuận về số lượng, tỷ
giá hôm nay, nhưng ngày thực hiện được xác định trong tương lai, nhưng có đặc

b. Dịch vụ ngân hàng điện tử (E-Banking)
Ngày nay với việc ứng dụng có hiệu quả công nghệ thông tin vào lĩnh vực
phân phối các dịch vụ ngân hàng thì được gọi là ngân hàng điện tử. Ngân hàng điện


16
tử được hiểu là mô hình ngân hàng cho phép khách hàng truy nhập từ xa đến ngân
hàng nhằm; thu thập thông tin, thực hiện các giao dịch thanh toán, tài chính dựa trên
các tài khoản lưu kí tại ngân hàng và sử dụng các nhóm dịch vụ mới.
- Máy thanh toán tại điểm bán hàng (EFTPOS- Electronic Funds Transfer ạt
Ponit Of Sa le): Loại máy này được trang bị trong các siêu thị và cửa hàng cho phép
khách hàng thanh toán nhanh chóng các hàng hoá dịch vụ thông qua hệ thống điện
tử.Thẻ được chuyển qua đầu đọc và trị giá hàng mua được ghi vào máy ảnh khách
hàng xác nhận giao dịch bằng cách bấm mã số cá nhân hay kí phiếu mua hàng, khi
đó tài khoản của khách hàng sẽ được tự động ghi nợ và tài khoản cửa người bán
hàng được ghi có tương ứng.
- Máy rút tiền tự động (ATM - Automatic Tellers Machine): Máy ATM là hệ
thống máy tính, được cài đặt phần mền giao dịch phù hợp với từng ngân hàng và
nối mạng trực tuyến với mạng nội bộ, cho phép lưu giữ thông tin và tiền mặt, khách
hàng có thể thực hiện rút tiền tiền mặt, vấn tin số dư tài khoản chuyển khoản... tại
các máy ATM.
Ngày nay khách hàng không chỉ thực hiện các dịch vụ qua máy ATM của một
ngân hàng mà còn thực hiện được các dịch vụ này trên các máy ATM của hệ thống
ngân hàng khác, do hệ thống máy tính các ngân hàng được kết nối với nhau qua
mạng Bank net, cho nên càng tăng thêm sự thuận tiện cho khách hàng sử dụng thẻ
qua máy ATM.
- Phone banking: Đây là loại dịch vụ cung cấp thông tin ngân hàng qua điện
thoại hoàn toàn tự động. Do tự động nên các loại thông tin được ấn định trước, bao
gồm thông tin về tỷ giá hối đoái, lãi suất, giá chứng khoán, thông tin cá nhân cho
khách hàng như số dư tài khoản, hệt kê các giao dịch gần nhất trên tài khoản, các

hàng phải có hệ thống bảo mật đủ mạnh để đối phó với rủi ro trên phạm vi toàn cầu.
1.1.3.5. Nhóm dịch vụ ngân quỹ
Trong hoạt động ngân hàng nhóm dịch vụ ngân quỹ được xem là dịch vụ
truyền thống, song nhóm dịch vụ này thường đa dạng và phong phú và mang lại
nguồn thu lớn cho ngân hàng. Nhóm dịch vụ này bao gồm; thu đổi tiền không đủ
tiêu chuẩn lưu thông, đổi tiền mệnh giá nhỏ lấy mệnh giá lớn, kiểm định tiền thật
giả, dịch vụ thu chi tiền mặt tại đơn vị, gửi tiền vào kho qua đêm, bảo quản tài sản
quý hiếm, cho thuê tủ, két sắt...


18
1.1.3.6. Nhóm dịch vụ liên kết Ngân hàng - Bảo hiểm – Chứng khoán
Ngày nay các ngân hàng không chỉ hoạt động bó buộc trong phạm vi giới hạn của
mình, mà ngày càng vươn tới với xu hướng trở thành tập đoàn tài chính.Việc liên kết
với các công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán để phát triển nhóm dịch vụ này ngày
càng được mở rộng và hoạt động với chức năng như một công ty bảo hiểm.
Hình thức liên kết này bao gồm ngân hàng làm đại lý môi giới cho các công ty
bảo hiểm, công ty chứng khoán để thực hiện các dịch vụ bảo hiểm, môi giới và tư
vấn chứng khoán hưởng phí hoa hông môi giới. Ngoài ra các ngân hàng thành lập
công ty bảo hiểm riêng để thực hiện dịch vụ bảo hiểm, và các nghiệp vụ đồng bảo
hiểm và phát hành chứng khoán.
1.2. Phát triển dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thương mại
1.2.l. Khái niệm phát triển dịch vụ phi tín dụng.
Theo quan điểm triết học, phát triển là một quá trình được cụ thể hóa bằng
biểu đồ hình trôn ốc. Vạn vật vận động theo hình trôn ốc. Hình trôn ốc triết học có
đỉnh đặt trên mặt đất, đáy hướng lên trời. Hình trôn ốc là hình vẽ diễn ý rằng mỗi
vận động trong vạn vật đều xuất phát từ một điểm để sau đó phát triển rộng ra, cao
lên, cả về lượng lẫn chất
Phát triển dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng là việc gia tăng các loại hình
dịch vụ phi tín dụng đồng thời mở rộng thị phần, đối tượng khách hàng kết hợp

Hai là, làm cho việc sử dụng dịch vụ trở nên dể dàng, hấp dẫn hơn và đem lại
cho khách hàng những giá trị, tiện ích mới bằng cách hoàn thiện quy trình, đơn giản
hóa thủ tục nghiệp vụ và tăng tính năng của loại hình dịch vụ đó, tăng cường hướng
dẫn khách hàng về quy trình sử dụng dịch vụ, thông tin kịp thời cho khách hàng về
những đổi mới của dịch vụ, đặc biệt là những đổi mới đem lại tiện ích, lợi ích cho
khách hàng.
Ba là, thay đổi các hình thức phân phối bằng việc mở cửa giao dịch ngoài giờ
hành chính, tăng cường các giao dịch qua hệ thống phân phối ngân hàng hiện đại.
b) Phát triển dịch vụ ngân hàng mới
Mỗi nhóm dịch vụ bao gồm nhiều loại dịch vụ khác nhau, mỗi loại dịch vụ lại
gồm nhiều dịch vụ nhưng có liên quan đến nhau. Mỗi danh mục dịch vụ lại bao


20
gồm nhiều nhóm dịch vụ. Các ngân hàng sẽ căn cứ vào điều kiện cụ thể để quyết
định danh mục dịch vụ cho phù hợp.
Danh mục dịch vụ là tập hợp một nhóm dịch vụ mà ngân hàng lựa chọn và
cung cấp cho khách hàng mục tiêu của ngân hàng.
Một danh mục dịch vụ được coi là có hiệu quả khi nó đảm bảo được tính đa
dạng, có sức cạnh tranh và duy trì khả năng sinh lời. Thông thường các ngân hàng
khai thác danh mục dịch vụ của mình với quan điểm tối ưu hóa lợi nhuận của cả
danh mục. Trên thục tế, ngân hàng thương cố gắng tìm cơ hội bán chéo hay cố gắng
bán một nhóm dịch vụ cho khách hàng, cùng với việc đa dạng hóa danh mục dịch
vụ của mình.
Phát triển dịch vụ mới là một nội dung quan trọng nhất của chiến lược cạnh
tranh của ngân hàng, bởi các sản phẩm và dịch vụ mới sẽ làm đổi mới danh mục sản
phẩm kinh doanh, tăng cường khả năng cạnh tranh của ngân hàng. Đồng thời góp
phần quan trọng vào việc nâng cao hình ảnh và sức cạnh tranh của ngân hàng trên
thị trường. Có thể hiểu dịch vụ mới là những dịch vụ lần đầu tiên được đưa vào
danh mục dịch vụ kinh doanh của ngân hàng. Theo cách hiểu này, dịch vụ mới của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status