luận văn thạc sĩ quản lý môi trƣờng tại các làng nghề trên địa bàn tỉnh thái bình - Pdf 41

i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bài luận văn “Quản lý môi trường tại các làng nghề trên
địa bàn tỉnh Thái Bình” là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Tất cả các nội dung
của công trình nghiên cứu này hoàn toàn được hình thành và phát triển từ những
quan điểm của chính cá nhân tôi. Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung
thực. Những tư liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn gốc và trích dẫn rõ ràng.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

KIỀU THỊ MAI


ii
LỜI CÁM ƠN
Bản luận văn này đã được hoàn thành với nhiều sự giúp đỡ quý báu. Trước
hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn trân thành nhất tới PGS,TS Phạm Thị Tuệ, người
hướng dẫn đã tạo điều kiện thuận lợi, chỉ bảo, giúp đỡ nhiệt tình, đầy trách nhiệm
với tôi trong suốt quá trình làm luận văn; tôi cũng xin trân trọng cám ơn các nhà
khoa học, các thầy cô giáo trong trường Đại học Thương Mại; các tác giả có công
trình khoa học, bài viết tôi tham khảo; tôi cũng xin cảm ơn các Ban ngành tỉnh Thái
Bình đã quan tâm, giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn này.
Xin trân trọng cám ơn!
Tác giả

Kiều Thị Mai


iii
MỤC LỤC


Tiểu thủ công nghiệp
Xuất khẩu
Ủy ban nhân dân
Vệ sinh môi trường


v
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ


1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài
Hiện cả nước có hơn 1.300 làng nghề được công nhận và 3.200 làng có nghề;
trong số đó có đến 60% các làng nghề tập trung khu vực phía bắc, chủ yếu ở các
tỉnh, thành phố như: Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Ðịnh. Đối với
tỉnh Thái Bình có đến 90% lao động làm nông nghiệp, việc phát triển nghề và làng
nghề có vai trò hết sức quan trọng, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc
làm, góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hoá nông nghiệp
nông thôn. Toàn tỉnh hiện có 229 làng nghề, 100% số xã đều có nghề, giải quyết
việc làm, tăng thu nhập cho 150 ngàn lao động, đóng góp 20% giá trị sản xuất công
nghiệp toàn tỉnh. Trong xây dựng nông thôn mới, Thái Bình được Trung ương lựa
chọn là một trong năm tỉnh làm điểm trong bộ tiêu chí quốc gia.
Trong thời gian tới, các làng nghề truyền thống tiếp tục gia tăng và có những
đóng góp không nhỏ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.Tuy nhiên, song
song với quá trình phát triển kinh tế; vấn đề cấp bách cần được quan tâm hàng đầu,
mang tính phát triển bền vững cho các làng nghề đó là tình trạng ô nhiễm môi
trường đang ngày càng trở nên gay gắt ở khu vực này. Có rất nhiều hình ảnh, câu
chuyện buồn xoay quanh chủ đề: ô nhiễm khói, bụi; ô nhiễm nguồn nước; thậm chí
cả ô nhiễm tiếng ồn ở các làng nghề tại các địa phương trên địa bàn tỉnh. Hiện, nhiều

Với mục tiêu nghiên cứu là phân tích thực trạng công tác quản lý môi trường
tại các làng nghề; trên cơ sở đó đưa ra giải pháp để góp phần vào việc hoàn thiện
công tác quản lý môi trường tại các làng nghề, hướng tới phát triển bền vững, đóng
góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Bình, tác giả đã lựa chọn đề tài:
“Quản lý môi trường tại các làng nghề trên địa bàn tỉnh Thái Bình”.
2. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề quản lý nhà nước về môi trường tại các làng nghề trên phạm vi cả
nước, của từng khu vực, từng tỉnh là đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa
học, các nhà lãnh đạo và quản lý kinh tế. Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu đề tài
tác giả đã có cơ hội được tiếp cận một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có liên
quan đến đề tài như sau:


3
- Nguyễn Thị Hương Lan (2008) “Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm phát
triển các làng nghề Hà Tây trong giai đoạn hiện nay” – Luận văn thạc sĩ kinh tế,
Đại học Thương Mại. Tác giả đi sâu phân tích thực trạng công tác quản lý nhà nước
đối với việc phát triển nghề và làng nghề Hà Tây, bao gồm quản lý vĩ mô của Chính
phủ, của các Bộ; và công tác tổ chức chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra các chính sách
của Hà Tây. Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp về quy hoạch, cơ chế chính sách về
thị trường, lao động, vỗn, công nghệ, môi trường nhằm phát triển các làng nghề
trong tỉnh.
- Trần Duy Khánh (2012) “Đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề và thực
hiện chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề tại một số tỉnh tỉnh Bắc
Bộ” – Luận văn thạc sĩ môi trường, Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và môi
trường. Luận văn là một cái nhìn khái quát bức tranh toàn cảnh làng nghề Việt
Nam về sự phân bố, xu thế phát triển và các áp lực môi trường. Tác giả đã sử dụng
phương pháp khảo sát thực địa, điều tra phỏng vấn kết hợp với thống kê, tổng hợp
để đưa ra kết quả đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề tại 5 tỉnh gồm: Hà Nội,
Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Nam Định. Kết quả phân thích mẫu nước, kết

môi trường ở các làng nghề nông thôn theo đặc thù của từng nhóm nghề, cụ thể: ô
nhiễm nguồn nước ở các làng nghề chế biến giấy, chế biến nông sản, thực phẩm; ô
nhiễm không khí tại các làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng, tái chế kim loại; ô
nhiễm tiếng ồn tại các làng nghề mộc và chạm khắc. Bài viết cũng đưa ra những
con số đáng lưu tâm về tình hình sức khỏe và bệnh tật của người dân tại các làng
nghề thủ công đồng thời đề xuất một số giải pháp giải quyết vấn đề ô nhiễm tại các
làng nghề theo hướng phát triển bền vững.
- Phạm Duy Hiếu – Đại học Thương Mại: “Vấn đề ô nhiễm môi trường tại
các làng nghề và giải pháp” (2010) – Tạp chí Thương Mại.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trên cơ sở lý luận và qua đánh giá thực trạng công tác quản lý môi trường tại
các làng nghề trên địa bàn tỉnh Thái Bình, luận văn đề xuất những giải pháp phù
hợp nhằm góp phần hoàn thiện công tác quản lý môi trường tại các làng nghề trên
địa bàn tỉnh Thái Bình.


5
4. Các mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Hoàn thiện công tác quản lý môi trường tại các làng
nghề trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
- Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, luận văn cần phải thực hiện các
nhiệm vụ:
+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận về làng nghề, quản lý môi trường làng nghề. Đưa ra
khái niệm, nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý môi trường làng nghề.
+ Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý môi trường tại các làng nghề trên địa
bàn tỉnh Thái Bình thông qua việc thu thập dữ liệu thứ cấp. Từ đó chỉ ra những ưu
điểm, hạn chế và nguyên nhân của chúng.
+ Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý môi trường tại các làng
nghề trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

sử dụng phương pháp quy nạp để đưa ra những đánh giá mang tính khái quát về
thực trạng quản lý môi trường tại các làng nghề trên địa bàn tỉnh.
Ngoài ra luận văn còn sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu, chuyên gia để
từ đó đánh giá tổng hợp kết quả nghiên cứu một cách tổng quát.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phẩn mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, danh mục bảng biểu, từ viết
tắt, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Lý luận cơ bản về làng nghề, quản lý môi trường tại các làng nghề
Chương 2: Phân tích thực trạng quản lý môi trường tại các làng nghề trên địa
bàn tỉnh Thái Bình
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý môi trường tại các làng nghề trên địa
bàn tỉnh Thái Bình


7
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LÀNG NGHỀ, QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
TẠI CÁC LÀNG NGHỀ
1.1. Làng nghề
1.1.1. Khái niệm làng nghề
Làng nghề (LN) là một trong những đặc thù của nông thôn Việt Nam. Đa số
các LN đã trải qua lịch sử phát triển hàng trăm năm, song song với quá trình phát
triển kinh tế - xã hội, văn hóa và nông nghiệp của đất nước.Sự xuất hiện của các
nghề thủ công ở các làng quê lúc đầu chỉ là ngành nghềphụ, chủ yếu được nông dân
tiến hành trong lúc nông nhàn. Về sau, do quá trình phân công lao động, các ngành
nghề thủ công tách dần khỏi nông nghiệp nhưng lại phục vụ trực tiếp cho nông
nghiệp, khi đó người thợ thủ công có thể không còn sản xuất nông nghiệp nhưng họ
vẫn gắn chặt với làng quê mình. Khi nghề thủ công phát triển, số người chuyên làm
nghề thủ công và sống được bằng nghề này tăng lên, điều nay diễn ra ngay trong
các làng quê và đó là cơ sở cho sự tồn tại của các LNở nông thôn.
Tại các LN, kỹ thuật, công nghệ, quy trình sản xuất cơ bản để làm ra các sản

Như vậy khái niệm LN có thể tổng hợp bao gồm những nội dung chính sau:
“LN là một thiết chếkinh tế xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố làng
và nghề, tồn tại trong một không gian địa lí nhất định trong đó bao gồm nhiều hộ
gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết chặt chẽ về
kinh tế - xã hội và văn hóa”.
Các tiêu chí công nhận làng nghề
Có rất nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau khi đề cập đến tiêu chí để một
làng ở nông thôn được coi là một LN. Nhưng nhìn chung, các ý kiến thống nhất ở
một số tiêu chí sau:
Giá trị sản xuất và thu nhập của từ phi nông nghiệp ở LN đạt trên 50% so với
tổng giá trị sản xuất và thu nhập chung của LN trong năm; hoặc doanh thu hàng
năm từ ngành nghề ít nhất đạt trên 300 triệu đồng, hoặc:
Số hộ và số lao động tham gia thường xuyên hoặc không thường xuyên, trực
tiếp hoặc gián tiếp đối với nghề phi nông nghiệp ở làng ít nhất đạt 30% so với tổng
số hộ hoặc lao động ở LN có ít nhất 300 lao động.
Sản phẩm phi nông nghiệp do làng sản xuất mang tính đặc thù của làng và do
người trong làng tham gia.


9
Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề
nghị công nhận.
Chấp hành tốt chính sách Pháp luật của Nhà nước.
Có rất nhiều cách phân loại LN, tùy theo đối tượng và mục đích nghiên cứu;
tuy nhiên có thể đưa ra bốn cách phân loại cơ bản như sau:
Theo lịch sử hình thành và phát triển có LN truyền thống và LN mới
LN truyền thống: LN truyền thống phải đạt tiêu chí LN và có ít nhất một nghề
truyền thống theo quy định tại Thông tư 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của
Bộ NN & PTNT.
LN mới: được hiểu là các LN không phải là LN truyền thống. Các LN này

sản xuất hầu hết là thủ công, gắn liền với sự phân công lao động ở nông thôn. Mục
đích của sản xuất chỉ để tận dụng sức lao động lúc nông nhàn và duy trì nghề truyền
thống.Công nghệ sản xuất của LN nông thôn mang tính truyền thống, có từ lâu đời,
được truyền từ đời này sang đời khác. Công cụ lao động chính của người thợ là đôi
bàn tay và các dụng cụ, thiết bị đơn giản .Nông thôn là nguồn cung cấp nguyên
liệu, nguồn nhân lực, nguồn vốn chủ yếu. Do vậy mà sản xuất tại các LN có đặc
thù năng suất thấp, quy mô sản xuất thấp, nhỏ, lẻ.
Với đặc điểm lao động là các thành viên trong gia đình, chỉ khi thời vụ hoặc
có đơn hàng lớn thì mới thuê thêm lao độngLao động trong các LN chủ yếu là nghề
nông, địa điểm sản xuất nghề thủ công truyền thống là tại gia đình họ. Họ tự quản
lý, phân công lao động, thời gian cho phù hợp giữa việc sản xuất nông nghiệp lúc
mùa vụ với nghề thủ công lúc nông nhàn.Do đó, sản xuất kinh doanh ở các LN có
sự gắn bó chặt chẽ với hộ gia đình nông thôn và ngành nông nghiệp
Thứ hai, chất lượng lao động và trình độ chuyên môn thấp, lao động mang
tính đặc thù của sản xuất tại LN.Với đặc thù LN nằm tại các vùng nông thôn, đối
tượng lao động tại các LN hầu hết là tận dụng thành viên trong gia đình; hầu hết lao
động không được đào tạo, hoặc không có khả năng đi học sẽ tham gia lao động tại
địa phương. Vì thế, lao động tại các LN chủ yều là lao động thủ công, văn hóa thấp,
học nghề theo kinh nghiệm là chủ yếu. Do hạn chế về công nghệ và kỹ thuật sản
xuất nên các LN vẫn sử dụng chủ yếu là các lao động thủ công ở hầu hết các công
đoạn, kể cả những công đoạn nặng nhọc và độc hại nhất. Hơn nữa, sản phẩm ở các


11
LN có đặc thù đòi hỏi trình độ kỹ thuật và tính mỹ thuật cao, tay nghề khéo léo nên
trong các LN truyền thống, vai trò của các nghệ nhân rất quan trọng, được coi là
nòng cốt của quá trình sản xuất và sáng tạo ra nghệ thuật.
Thứ ba, nguyên liệu sản xuất tại chỗ tự cung tự cấp.Nguồn gốc phát triển của
các LN là tận dụng lao động nhàn rỗi lúc nông nhàn và tận dụng lợi thế tuyệt đối
của địa phương về tài nguyên thiên nhiên nên hầu hết các nguồn nguyên liệu của

sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn. Xét trên góc độ phân công
lao động thì các LN đã có tác động tích cực tới sản xuất nông nghiệp. Nó không chỉ
cung cấp tư liệu sản xuất cho khu vực nông nghiệp mà còn có tác dụng chuyển dịch
cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp.
Mặt khác, kết quả sản xuất ở một sốLN cho thu nhập và giá trị sản lượng cao hơn
so với sản xuất nông nghiệp. LN phát triển đã tạo cơ hội cho hoạt động dịch vụ ở
nông thôn mở rộng quy mô và địa bàn hoạt động, thu hút nhiều lao động. Như vậy,
sự phát triển của LN có tác dụng rõ rệt với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
nông thôn theo yêu cầu của sự nghiệp CNH- HĐH.
Thứ hai, làng nghề góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao
động, hạn chế di dân tự do. Nhiều LN không những thu hút lực lượng lao động lớn
ở địa phương mà còn tạo việc làm cho nhiều lao động ở các địa phương khác.Hơn
nữa, việc phát triển các ngành nghề tại các LN ở nông thôn sẽ tận dụng tốt thời gian lao
động, khắc phục được tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp, góp phần phân bổ hợp
lí lực lượng lao động nông thôn. Vai trò tạo việc làm của các LN còn thể hiện rất rõ ở
sự phát triển lan tỏa sang các làng khác, vùng khác, đã giải quyết việc làm cho nhiều
lao động, tạo ra động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở vùng đó. Đặc biệt, việc
mở rộng thị trường xuất khẩu sản phẩm là nhân tố quan trọng để kích thích sản
xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập cho hàng triệu lao động thủ công chuyên nghiệp và
nhàn rỗi. Như vậy, vai trò của LN rất quan trọng, được coi là động lực trực tiếp giải
quyết việc làm cho người lao động, ở nơi có LN phát triển thì ở đó có thu nhập và
mức sống cao hơn so với vùng thuần nông.
Ngoài ra, việc phát triển các LN được thúc đẩy ở khu vực nông thôn, ngoại thị
là chuyển biến quan trọng tạo việc làm ổn định, tăng thu nhập và cải thiện đời sống
nông dân. Phát triển LN theo phương châm “Ly nông, bất li hương” không chỉ có
khả năng giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động mà còn có vai
trò tích cực trong việc hạn chế dòng di dân tự do ra đô thị.


13


14
tại từ nhiều năm qua trong quá trình phát triển làng nghề có thể coi là một trong
những nguyên nhân làm cho chất lượng môi trường nhiều làng nghề ngày càng suy
giảm, ảnh hưởng không nhỏ không chỉ tới sự phát triển sản xuất bền vững ở làng
nghề, mà của cả nền kinh tế đất nước. Cụ thể có thể đưa ra các hạn chế của làng
nghề là thách thức gây ô nhiễm môi trường như sau:
Nguyên nhân đầu tiên phải kể đến là quy mô sản xuất nhỏ, phần lớn ở quy mô
hộ gia đình, khó phát triển vì mặt bằng sản xuất chặt hẹp xen kẽ với khu vực sinh
hoạt.Sản xuất càng phát triển thì nguy cơ lấn chiếm khu vực sinh hoạt, phát thải ô
nhiễm tới khu dân cư càng lớn, dẫn đến chất lượng môi trường khu vực càng xấu
đi.Cùng với đó là nếp sống tiểu nông của người chủ sản xuất nhỏ có nguồn gốc
nông dân đã ảnh hưởng mạnh tới sản xuất làng nghề làm tăng mức độ ô nhiễm môi
trường. Không nhận thức được tác hại lâu dài của ô nhiễm, chỉ quan tâm đến lợi
nhuận trước mắt, các cơ sở sản xuất thô sơ tận dụng nhiều sức lao động, trình độ
thấp. Hơn thế, nhằm hạ giá thành sản phẩm, tăng tính cạnh tranh, nhiều cơ sở sản
xuất còn sử dụng các nhiên liệu rẻ tiền, hóa chất độc hại, không đầu tư phương tiện,
dụng cụ bảo hộ lao động, không đảm bảo điều kiện lao động nên đã làm tăng mức
độ ô nhiễm tại đây.
Quan hệ sản xuất mang tính đặc thù của quan hệ gia đình, dòng tộc, làng xã.
Nhiều làng nghề, đặc biệt là các làng nghề truyền thống sử dụng lao động có tính
gia đình, sản xuất theo kiểu bí truyền giữ bí mật cho dòng họ tuân theo hương ước
không cải tiến áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật nên đã cản trở việc áp
dụng giải pháp kỹ thuật mới, không khuyến khích sáng kiến mang hiệu quả BVMT
của người lao động. Hơn nữa, công nghệ sản xuất và thiết bị phần lớn ở trình độ còn
lạc hậu chắp vá, kiến thức tay nghề không toàn diện dẫn tới tiêu hao nhiều nguyên
nhiên liệu, làm tăng phát thải nhiều chất ô nhiễm môi trường đất nước, khí ảnh
hưởng tới giá thành sản phẩm và chất lượng môi trường.
Một nguyên nhân nữa bắt nguồn từ nội lực còn yếu kém của các làng
nghề.Vốn đầu tư của các cơ sở sản xuất tại các làng nghề còn quá thấp, khó có điều

khí khác nhau với đặc thù sản xuất và lượng chất thải của LN đó.Thực tế các tác
động ô nhiễm môi trường tại các LN như sau:


16
 Ô nhiễm môi trường nước
Ô nhiễm chất hữu cơ tại các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn
nuôi và giết mổ là loại hình sản xuất có nhu cầu rất lớn và nước thải có độ ô nhiễm
hữu cơ rất cao, nhất là sản xuất tinh bột từ sắn và dong riềng. Ô nhiễm chất vô cơ
tại các làng nghềdệt nhuộm, thủ công mỹ nghệ và mây tre đan, tái chế giấy, dệt
nhuộm tạo ra nước thải có hàm lượng cặn lớn.
Khối lượng và đặc trưng nước thải sản xuất ở các làng nghề phụ thuộc chủ yếu
vào công nghệ và nguyên liệu dùng trong sản xuất. Chế biến lương thực, thực
phẩm, chăn nuôi, giết mổ gia súc, gia cầm, ươm tơ, dệt nhuộm… là những ngành
sản xuất có nhu cầu nước rất lớn và cũng xả thải ra khối lượng lớn nước thải có với
mức ô nhiễm hữu cơ cao đến rất cao. Ngược lại một số ngành như tái chế, chế tác
kim loại, đúc đồng,… nhu cầu nước không lớn nhưng nước thải bị ô nhiễm các chất
rất độc hại như các hóa chất, a xít, muối kim loại, xyanua, và các kim loại nặng như
Hg, Pb, Cr, Zn, Cu…
Dệt nhuộm là loại hình có nhu cầu hóa chất rất lớn, gồm thuốc nhuộm các
loại, xút, a xit. Khoảng 85-90% lượng hóa chất này hòa tan trong nước thải. Do đó,
nước thải dệt nhuộm chứa rất nhiều hóa chất và có độ màu rất cao. Độ màu lên tới
13.000 Pt-Co. Độ PH biến động lớn phụ thuộc vào loại thuốc nhuộm được sử dụng.
Làng nghề sơn mài và mây tre đan có lượng nước thải không lớn, chỉ khoảng
2-5 m3/ngày/cơ sở, nhưng nước thải chứa hàm lượng ô nhiễm cao.Tại LN sơn mài
hàm lượng COD (lượng oxy cần thiết để oxy hóa các hợp chất hóa học trong nước),
BOD (lượng oxy cần thiết để vi sinh vật oxy hóa các chất hữu cơ theo phản ứng) và
SS (hàm lượng chất rắn lơ lửng) đều cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 1,8 đến 3,5
lần. Đối với LN chạm bạc, nước thải từ công đoạn mạ có sử dụng nhiều loại hoá
chất như axít H2SO4, HNO3, các muối thuỷ ngân, muối bạc, xianua, hóa chất cho

nguyên liệu là đất đá. Ô nhiễm các khí thải lò đốt như CO, CO2, SO2, NOX do sử
dụng các lò đốt thủ công có hiệu suất đốt thấp và không có hệ thống xử lý khói lò.
Các lò đốt lại thường bố trí thiếu quy hoạch, nằm lẫn trong khu dân cư nên khí thải
khó phát tán, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ người lao động. Quá trình tái chế và
gia công tại các LN tái chế phế liệu gây phát sinh các khí độc như hơi axit, kiềm,
oxit kim loại (PbO, ZnO, AL2O3.) và gây ô nhiễm nhiệt. Nhóm LN sản xuất vật liệu


18
và khai thác đá chất lượng không khí bị suy giảm chủ yếu do khí thải từ đốt nhiên
liệu, bụi phát sinh từ quá trình chế tác và khai thác đá. Kết quả khảo sát tại khu vực
sản xuất LN cho thấy hàm lượng bụi vượt quá tiêu chuẩn từ 3-8 lần, hàm lượng SO 2
có nơi vượt đến 6.5 lần.
Đặc biệt tại các LN sản xuất có nguồn gốc chủ yếu từ sử dụng than làm nhiên
liệu (phổ biến là than chất lượng thấp), sử dụng nguyên vật liệu và hóa chất trong
dây chuyền công nghệ sản xuất do khí thải chứa các thành phần đặc trưng là bụi,
CO2, CO, SO2..., chất hữu cơ bay hơi. Ngoài ra, quá trình tái chế và gia công cũng
gây phát sinh các khí độc như hơi a-xít, kiềm, ô-xít kim loại và ô nhiễm nhiệt. Hàm
lượng bụi ở khu vực sản xuất vật liệu xây dựng tại một số địa phương vượt quá Quy
chuẩn Việt Nam từ ba đến tám lần, hàm lượng SO2 có nơi vượt 6,5 lần.
Tại các LN chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ còn phát
sinh ô nhiễm mùi do quá trình phân hủy các chất hữu cơ trong nước thải và các chất
hữu cơ trong chế phẩm thừa thải. Ngoài ra ở các LN này, phát sinh ô nhiễm không
khí không chỉ do sử dụng nhiên liệu mà còn do phân hủy các chất hữu cơ trong
nước thải, chất thải rắn tạo nên các khí như SO2, NO2, NH3, CH4…
Đối với các LN sơn mài, mây tre đan, đồ gỗ mỹ nghệ, các sản phẩm thường
được sấy, ngâm tẩm bằng hoá chất.Các cơ sở sản xuất trong LN lại thường có mặt
bằng sản xuất chật hẹp.Nhà ở thường ở lẫn với xưởng sản xuất và nơi chứa nguyên
liệu, sản phẩm. Các khu vực sản xuất lại thiếu phương tiện đảm bảo môi trường lao
động từ đèn chiếu sáng đến quạt thông gió, hút hơi độc. Hầu hết ở các làng nghề,

trường LN còn ảnh hưởng đến các vấn đề kinh tế-xã hội gây ra những tổn thất kinh
tế không nhỏ và dẫn đến những xung đột môi trường trong cộng đồng như làm tăng
chi phí khám chữa bệnh, giảm năng suất lao động, mất ngày công lao động do nghỉ
ốm đau, giảm sức thu hút du lịch.
1.2. Quản lý môi trường tại các làng nghề
1.2.1. Khái niệm quản lý môi trường
Quản lý là sự tác động của một chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách
thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường
ngoài.Sự tác động liên tục, có tổ chức và hướng đích của chủ thể chính là việc tổ
chức thực hiện các chức năng của quản lý nhằm phối hợp mục tiêu và động lực hoạt
động của mọi người nằm trong hệ thống môi trường để đạt tới tiêu chuẩn chung [2]..


20
Quản lý môi trường (QLMT) là sự tác động liên tục, có tổ chức và hướng đích
của chủ thể QLMT lên cá nhân hoặc cộng đồng người tiến hành các hoạt động phát
triển trong hệ thống môi trường và khách thể QLMT, sử dụng một cách tốt nhất mọi
tiềm năng và cơ hội nhằm đạt được mục tiêuQLMT đặt ra, phù hợp với pháp luật và
hệ thống hiện hành [2].
Chủ thể tham gia vào hoạt động QLMT là Nhà nước bằng nhiệm vụ và quyền
hạn của mình Nhà nước đưa ra các biện pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật và luật
pháp thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường và phát triển bền vững.Đối với
LN, chức năng QLMT đã được Chính phủ quy định từ cấp trung ương bao gồm các
Bộ: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Công thương và Bộ Tài nguyên và
môi trường. Ở cấp địa phương, trách nhiệm QLMT được giao cho UBND các cấp:
tỉnh, huyện, xã.
Bảo vệ môi trường (BVMT) là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch
đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó với sự cố môi
trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác,
sử dụng hợp lý cà tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học [1]..


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status