i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của
riêng tôi, chưa công bố tại bất cứ nơi nào. Mọi số liệu sử dụng trong luận văn
này là thông tin xác thực.
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về lời cam đoan của mình.
Thường Tín, ngày 30 tháng 10 năm 2015
Học viên
Trần Thế Anh
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN...............................................................................................................i
1.4. Kinh nghiệm quản trị nợ xấu ở một số NHTM Việt Nam.........................................27
3.2.6. Hoàn thiện hệ thống thông tin tín dụng.........................................................................................64
iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
NHNN
NHTM
NHNo&PTNT Việt Nam
: Ngân hàng Nhà nước
: Ngân hàng thương mại
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nợ xấu là vấn đề thường trực trong hoạt động của ngân hàng, được xem
như một nút thắt hay các “cục máu đông” đối với hệ thống ngân hàng nói riêng
và cả nền kinh tế nói chung. Trong thời gian qua, tỷ lệ nợ xấu ở Việt Nam đã
không ngừng tăng lên xuất phát từ nhiều nguyên nhân bên trong cũng như bên
ngoài. Trong đó, vấn đề nổi cộm là công tác quản trị rủi ro tín dụng của các
NHTM còn hạn chế, trực tiếp là công tác quản trị nợ xấu. Nhận thức được điều
đó, NHNN cũng như các NHTM đã chú trọng đến việc hoàn thiện công tác quản
trị nợ xấu. Đây là cơ sở để kiểm soát, hạn chế tối đa tổn thất trong hoạt động tín
dụng, đảm bảo hiệu quả hoạt động ngân hàng và thúc đẩy sự phát triển kinh tế
đất nước. Do vậy, quản trị nợ xấu, hạn chế nợ xấu có nguy cơ phát sinh và xử lý
nợ xấu đã phát sinh là một yêu cầu cấp thiết, có vai trò quan trọng trong toàn bộ
hoạt động quản lý của Ngân hàng.
Nằm trong xu thế chung, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Việt Nam - Chi nhánh Thường Tín (Agribank Thường Tín) mấy năm gần đây
cũng đang phải đối mặt với tình hình nợ xấu gia tăng nhưng công tác quản trị nợ
xấu còn bộc lộ những hạn chế, quy trình quản trị vẫn còn một số bất cập, cần
được xây dựng một cách khoa học và thực hiện một cách thống nhất, chuyên
nghiệp nhằm hướng đến mục tiêu giảm tỷ lệ nợ xấu, hạn chế tối đa tổn thất và
góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh ngân hàng.
Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Quản trị nợ xấu
trong hoạt động tín dụng tại Agribank Thường Tín” để nghiên cứu trong luận
văn thạc sỹ này.
Trên cơ sở một số lý luận về nợ xấu của các Ngân hàng thương mại nói
chung và việc phân tích quản trị nợ xấu của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Thường Tín nói riêng, luận văn hướng tới
3
trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2014.
- Giác độ nghiên cứu: Luận văn được nghiên cứu dưới giác độ từ một Chi
nhánh của một Ngân hàng thương mại.
6. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp
nghiên cứu khoa học:
- Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật
lịch sử.
- Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp.
- Phương pháp logic học và lịch sử.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần lời mở đầu, kết luận thì luận văn được chia thành ba chương:
Chương I: Tổng quan về quản trị nợ xấu của Ngân hàng Thương Mại
Chương II: Thực trạng quản trị nợ xấu trong hoạt động tín dụng tại Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Chi nhánh huyện Thường Tin
Chương III: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị nợ xấu trong hoạt
động tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Chi
nhánh huyện Thường Tín.
4
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
5
hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào
trong nền kinh tế.
Như vậy NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh về tiền tệ với
hoạt động thường xuyên là huy động vốn, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, cung
cấp các dịch vụ tài chính và các hoạt động khác có liên quan. Ngoài ra, NHTM
còn là một định chế tài chính trung gian cung cấp danh mục các dịch vụ tài chính
đa dạng nhất. Nhờ vào hệ thống này mà các nguồn tiền nhàn rỗi vốn nằm rải rác
trong xã hội sẽ được huy động và tập trung lại với số lượng đủ lớn để cấp tín
dụng cho các Tổ chức kinh tế (TCKT), cá nhân nhằm mục đích phục vụ phát
triển kinh tế - xã hội. Sự có mặt của NHTM trong hầu hết các mặt hoạt động của
nền kinh tế - xã hội đã cho thấy rằng: Ở đâu có một hệ thống NHTM phát triển
thì ở đó sẽ có sự phát triển của nền kinh tế - xã hội và ngược lại.
1.1.2. Các hoạt động của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1. Huy động vốn:
Ngoài nguồn vốn chủ sở hữu, hoạt động huy động vốn (huy động vốn nợ)
có ý nghĩa rất quan trọng đối với các ngân hàng thương mại trong việc tạo lập
nguồn vốn để hoạt động kinh doanh của mình. Hoạt động huy động vốn của
ngân hàng thương mại bao gồm: huy động tiền gửi (chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong tổng nguồn vốn nợ của NHTM), huy động từ phát hành các công cụ nợ,
huy động từ vay các NHTM, huy động từ vay Ngân hàng Trung ương, huy động
từ nợ khác (các khoản uỷ thác; tiền ký quỹ; các khoản nợ thuế chưa nộp, lương
chưa trả ...).
1.1.2.2.Hoạt động tín dụng
Hoạt động tín dụng là hoạt động tạo nên tài sản có của ngân hàng nó có ý
nghĩa quan trọng đối với khả năng tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng trong
giai đoạn từ trước đến nay. Hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại thu nhập
chính cho NHTM và là hoạt động không thể thiếu để làm nền tảng nhằm thu hút
các dịch vụ khác cho NHTM, nhưng ngược lại đây cũng là hoạt động chứa nhiều
Tín dụng là một phạm trù kinh tế, là hình thái đặc thù trong quá trình vận
động của tiền tệ. Trong quá trình vận hành nền kinh tế dòng tài sản thể hiện dưới
7
hình thái tiền tệ sẽ dịch chuyển từ chỗ tạm thời nhàn rỗi sang chỗ tạm thời thiếu
hụt để cân bằng cung cầu vốn của thị trường.
Về mặt hình thức, tín dụng là sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng
giá trị nhất định dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ trong một thời hạn nhất định
từ người sở hữu sang người sử dụng và khi đến hạn, người sử dụng phải hoàn trả
lại cho người sở hữu một lượng giá trị lớn hơn. Khoản giá trị dôi ra này được gọi
là lợi tức tín dụng.
Ẩn dưới sự di chuyển các luồng vốn tạm thời từ người có vốn và người cần
vốn là quan hệ vay mượn. Hay nói rõ hơn, bản chất của tín dụng là quan hệ vay
mượn giữa người cho vay và người đi vay. Họ là những người khác nhau trong
nền kinh tế, gặp nhau ở điểm cân bằng giữa nhu cầu vay vốn tiền tệ và khả năng
đáp ứng nhu cầu này theo những tổ chức của pháp luật và những nguyên tắc tín
dụng tương ứng.
Vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hoặc hàng hóa. Quá trình
vận động của vốn tín dụng có thể được khái quát qua ba giai đoạn sau:
• Giai đoạn 1: Phân phối vốn tín dụng dưới hình thức cho vay. Theo đó, vốn
tiền tệ hoặc giá trị vật tư hàng hóa được chuyển từ người cho vay sang đi vay.
• Giai đoạn 2: Sử dụng vốn tín dụng trong quá trình tái sản xuất. Sau khi
nhận được giá trị vốn tín dụng, người đi vay được quyền sử dụng giá trị đó để
thỏa mãn một mục đích nhất định. Tuy nhiên, người đi vay không có toàn quyền
sở hữu giá trị đó, mà chỉ được quyền sử dụng trong một thời gian nhất định.
• Giai đoạn 3: Sự hoàn trả của tín dụng. Đây là quá trình quay trở về của giá
trị và kết thúc vòng tuần hoàn của tín dụng. Sự vận động đó không phải với tư
cách là phương tiện lưu thông, mà với tư cách một lượng giá trị được vận động.
nhau để đáp ứng nhu cầu về thời hạn cho vay.
+ Tín dụng ngân hàng có phạm vi lớn vì nguồn vốn bằng tiền là thích hợp
với mọi đối tượng trong nền kinh tế, do đó nó có thể cho nhiều đối tượng tín
dụng vay.
1.2.2. Những vấn đề cơ bản về nợ xấu trong hoạt động tín dụng của
9
NHTM
1.2.2.1. Khái niệm nợ xấu
•Theo khái niệm của ngân hàng thế giới (World Bank):
Nợ xấu là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả
năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này xảy ra khi các con nợ
tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản.
•Khái niệm nợ xấu của Tổ chức Tiền tệ Thế giới (IMF)
Trong hướng dẫn tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các
quốc gia (IFRS)2, IMF đưa ra định nghĩa về nợ xấu như sau: “một khoản vay
được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi
các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại,
hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày
nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể
hoàn trả nợ đầy đủ (người vay phá sản).
Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản
vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải
xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi được khoản
vay thay thế.
•Theo định nghĩa nợ xấu của Phòng thống kê – Liên hiệp quốc
Một khoản nợ xấu được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/ hoặc gốc trên
90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả lãi từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái
Phân loại nợ xấu được hiểu là quá trình các ngân hàng xem xét các danh
mục cho vay và đưa khoản vay vào các nhóm khác nhau dựa trên rủi ro và điểm
tương đồng của khoản vay. Việc thường xuyên xem xét và phân loại nợ giúp các
ngân hàng có thể kiểm soát chất lượng danh mục cho vay và trong trường hợp
cần thiết, sẽ có các biện pháp xử lý các vấn đề phát sinh trong chất lượng tín
dụng các danh mục cho vay.
Trên cơ sở đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng đối với từng khoản
vay trong hiện tại và tương lai, không phân biệt khoản vay hiện tại có quá hạn
11
hay chưa, người ta chia nợ xấu thành:
+ Nợ xấu thông thường: là những khoản nợ đảm bảo thu hồi đầy đủ trong
một khoảng thời gian nhất định.
+ Nợ xấu khó đòi: là những khoản nợ chỉ có khả năng thu hồi được một
phần hoặc thu hồi đầy đủ nhưng thời gian thu hồi kéo dài.
+ Nợ xấu mất trắng: là nhưng khoản nợ không có khả năng thu hồi.
Căn cứ nguyên nhân gây ra nợ xấu có thể chia nợ xấu thành:
+ Những khoản nợ xấu do nguyên nhân bất khả kháng: do thiên tai, dịch
bệnh, do thay đổi cơ chế chính sách, ốm đau, ...
+ Những khoản nợ xấu do lỗi của người vay: do trình độ quản lý yếu kém,
khả năng cạnh tranh yếu kém dẫn đến thua lỗ trong kinh doanh; cố tình chây ỳ
không trả nợ…
+ Những khoản nợ xấu do lỗi của người cho vay: do trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ yếu kém dẫn đến không quản lý, theo dõi và phát hiện sớm sai phạm
của khách hàng; thông đồng với những sai phạm của khách hàng.
Căn cứ việc xử lý khoản nợ bằng quỹ DPRR tín dụng chia các khoản nợ
xấu thành:
+ Các khoản nợ xấu chưa được xử lý bằng quỹ DPRR tín dụng –các khoản
biểu hiện dưới hình thức tiền tệ và hàng hóa từ người cho vay chuyển sang người
đi vay và sau một thời gian nhất định quay về với người cho vay với giá trị lớn
hơn lượng giá trị ban đầu. Do đó, tín dụng được tạo nên từ 3 yếu tố chính là:
lòng tin, thời hạn của quan hệ tín dụng và sự hứa hẹn sẽ hoàn trả. Người ta chỉ
cho vay khi người ta tin rằng việc sử dụng giá trị đó sẽ thu được giá trị lớn hơn,
có hiệu quả hơn sau một thời gian nào đó.
Như vậy, ta có thể thấy bản chất nợ xấu là kết quả của mối quan hệ tín dụng
không hoàn hảo, vì nó vi phạm đặc trưng cơ bản của tín dụng là tính thời hạn, vi
phạm đến đặc trưng thứ hai là tính hoàn trả đầy đủ, và gây nên sự mất lòng tin
của người cung cấp tín dụng đối với khách hàng nhận tín dụng.
1.2.2.4. Những chỉ tiêu cơ bản phản ánh tình hình nợ xấu của NHTM
- Tổng số nợ xấu: Đây là chỉ tiêu phản ánh giá trị tuyệt đối của toàn bộ
khoản nợ xấu của ngân hàng. Về mặt quản trị rủi ro, chỉ số này càng nhỏ, càng tốt.
13
- Tỷ lệ nợ xấu/ tổng dư nợ:
Tỷ lệ nợ xấu = Tổng dư nợ xấu/Tổng dư nợ
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng. Cho biết cứ
100 đơn vị tiền tệ khi Ngân hàng cho vay thì có bao nhiêu đơn vị tiền tệ mà
Ngân hàng xác định khó có khả năng thu hồi hoặc không thu hồi được đúng hạn
tại thời điểm xác định. Tỷ lệ này càng cao thì khả năng rủi ro càng cao. Tuy
nhiên các con số được sử dụng để tính chỉ số này được đo tại một thời điểm nhất
định nên chưa phản ánh hoàn toàn chính xác chất lượng tín dụng của ngân hàng.
- Tỷ lệ nợ khó đòi/tổng dư nợ và nợ khó đòi/nợ xấu: Đây là các chỉ số
tương đối phản ánh về thực tế và nguy cơ mất vốn của ngân hàng. Tỷ lệ này càng
lớn thì khả năng mất vón của ngân hàng càng cao.
- Tỷ lệ quỹ dự phòng rủi ro/ nợ xấu: Tỷ lệ này cho biết quỹ dự phòng rủi
Các khoản vay của khách hàng không được thanh toán đúng hạn, hay khi chuyển
sang quá hạn thì việc thu nợ đã không đúng theo kế hoạch của Ngân hàng gây ra
thiếu hụt so với dự tính của kế hoạch. Sự việc này chỉ trong một giới hạn nhất
định, song nếu vượt qua một giới hạn cho phép Ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng
mất khả năng thanh toán, và không có kế hoạch cho tương lai.
Thứ hai – làm mất uy tín của Ngân hàng: Những ảnh hưởng của nợ xấu dẫn
đến lợi nhuận giảm, khả năng thanh toán giảm… nó có tác động sâu sắc đến tâm
lý khách hàng “hiệu ứng khách hàng” kể cả là khách hàng cá thể, doanh nghiệp
hay các Ngân hàng đối tác. Trong lĩnh vực Ngân hàng uy tín tuyệt đối quan
trọng, nó quyết định sự sống còn, tồn tại và phát triển một Ngân hàng.
Thứ ba – không duy trì được đội ngũ nhân viên: khi một Ngân hàng làm ăn
không hiệu quả, hay để tình trạng nợ xấu nhiều sẽ gây tâm lý hoang mang cho
không những khách hàng mà còn cho chính nhân viên Ngân hàng, sẽ không giữ
được những người làm việc hiệu quả ở lại, đây là một chi phí rất lớn cho Ngân hàng.
Thứ tư – làm giảm lợi nhuận: Lợi nhuận là chỉ tiêu cuối cùng của Ngân
hàng, lợi nhuận được hình thành từ những khoản thu của Ngân hàng mà những
khoản thu này chủ yếu thu từ lãi cho vay. Khi phát sinh nợ xấu thường đi kèm
theo đó là khó hoặc không thu hồi được lãi tiền vay. Chính vì vậy sẽ làm giảm
15
lợi nhuận của ngân hàng.
Tóm lại, nợ xấu không những tác động đối với Ngân hàng mà còn nguy hại
đối với cả nền kinh tế, trật tự xã hội. Do đó, quan tâm quản trị nợ xấu không còn
là việc riêng của các NHTM mà là sự quan tâm chung của cả NHNN, Chính phủ
và xã hội.
1.2.3.2.
Nội dung của quản trị nợ xấu
của ngân hàng là do sự yếu kém về trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ và
đạo đức của nhân viên gây ra như: cán bộ ngân hàng không nắm được các quy
định trong hoạt động cho vay hoặc nắm rõ các quy định nhưng cố ý lợi dụng
những sơ hở của các quy định hoặc làm sai để chuộc lợi cá nhân, gây ra nợ xấu
và ảnh hưởng nghiêm trọng cho hoạt động của ngân hàng. Nghề ngân hàng là
một nghề nhiều áp lực nhưng cũng có nhiều cám dỗ nên đòi hỏi cán bộ ngân
hàng không chỉ giỏi nghiệp vụ mà còn phải có đạo đức nghề nghệp, bản lĩnh
thương trường. Vì vậy, việc đào tạo đội ngũ nhân viên ngân hàng nắm chắc, nắm
rõ các quy định về tín dụng và đạo đức nghề nghiệp là một trong những biện
pháp cần thiết trong nội dung của quản trị nợ xấu.
- Thứ ba, xây dựng mô hình kinh doanh phù hợp, đảm bảo kiểm soát chặt
chẽ hoạt động tín dụng.
Trước đây, hầu hết các ngân hàng đều tổ chức mô hình tín dụng theo kiểu
“một tay”, tức là cán bộ tín dụng vừa là người đề xuất cho vay, vừa là người đề
xuất giải ngân và lãnh đạo phê duyệt cho vay cũng là người đề xuất giải ngân.
Trước những bấp cập và rủi ro của mô hình này, hiện nay, hầu hết các ngân hàng
đã áp dụng mô hình tín dụng theo kiểu “ba tay”, tức là bộ phận tín dụng chỉ là
người đề xuất cho vay, sau đó sẽ có bộ phận quản lý rủi ro tái thẩm định lại và
sau khi khoản vay được phê duyệt thì sẽ chuyển cho bộ phận quản trị tín dụng
giải ngân. Do đó, việc cho vay được chuyển qua nhiều “tay” kiểm soát sẽ giúp
giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng.
Mô hình kinh doanh, đặc biệt là mô hình tín dụng đóng một vai trò quan
trọng trong việc kiểm soát rủi ro tín dụng của ngân hàng, góp phần quản trị nợ
xấu trong ngân hàng.
Bên cạnh việc xây dựng mô hình kinh doanh phù hợp, cần phải xây dựng
17
quy chế xử lý trách nhiệm rõ rằng, cụ thể đối với từng cá nhân, tập thể khi rủi ro
18
tiềm ẩn để có biện pháp xử lý thích hợp.
- Thứ bảy, thực hiện trích lập dự phòng rủi ro đầy đủ, nghiêm túc
Trong một số trường hợp, mặc dù ngân hàng đã áp dụng đầy đủ các quy
định trong quá trình cho vay nhưng rủi ro vẫn xảy ra do các nguyên nhân khách
quan như thiên tai, tai nạn,…..Lúc này, việc sử dụng Quỹ dự phòng rủi ro là điều
cần thiết, nhằm bù đắp lại nguồn vốn hoạt động của ngân hàng, tránh gây ảnh
hưởng đến kết quả hoạt động và lợi nhuận của ngân hàng.
- Thứ tám, tham gia bảo hiểm tín dụng, bảo hiềm khách hàng vay
Bảo hiểm tín dụng là một trong những giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín
dụng được áp dụng từ lâu trên thế giới nhưng ở Việt Nam vẫn chưa được áp
dụng phổ biến do chưa nhiều đơn vị bảo hiểm cung cấp dịch vụ này. Việc tham
gia bảo hiểm sẽ phát sinh thêm phí nhưng mức đền bù chỉ giảm thiểu được phần
nào tổn thất cho ngân hàng.
- Thứ
chín, xây dựng danh mục tài sản, xác định mức độ rủi ro tối đa, giới
hạn tỷ lệ nợ xấu
Bất kể Ngân hàng nào, phải xây dựng cho mình danh mục tài sản với các
rủi ro có thể chấp nhận được và danh mục nguồn vốn với chi phí hợp lý, phù hợp
với khả năng thanh khoản của Ngân hàng và thực tế ngành kinh tế,vùng kinh tế
và cả nền kinh tế. Ngân hàng đưa ra những sản phẩm, dịch vụ thu hút khách
hàng với các chính sách về lãi suất, phí, khách hàng… hợp lý trên cơ sở nghiên
cứu kỹ khách hàng và thị trường.
Các hoạt động của Ngân hàng một mặt phải đảm bảo khả năng sinh lời,
mang lại thu nhập cho Ngân hàng, mặt khác phải đảm bảo khả năng thanh
giám sát chặt chẽ, nhằm đảm bảo rằng bên vay thực thi các hành động cần thiết
để cải thiện tình hình của họ và sửa chữa sai sót. Đặc biệt, trong trường hợp
không trả được nợ lần đầu, Ngân hàng cần có hành động kiên quyết để thuyết
phục khách hàng trong việc thực thi các biện pháp cứng rắn để củng cố vị thế
của khách hàng. Ngân hàng duy trì mối quan hệ chặt chẽ với khách hàng để giám
sát quá trình xử lý nợ. Trên cơ sở đó, Ngân hàng có thể áp dụng các phương pháp:
Thứ nhất, điều chỉnh kỳ hạn nợ: Việc điều chỉnh kỳ hạn nợ thông thường
20
được thực hiện thông qua việc hoãn hoặc/ và giảm khối lượng nợ gốc phải thanh
toán của kỳ hạn trả nợ, nhưng không được giảm tổng số dư nợ phải trả. Nếu
được sử dụng một cách cẩn thận, việc điều chỉnh kỳ hạn nợ là một hình thức
được chấp nhận khi thực hiện tái cơ cấu lại nợ.
Thứ hai, gia hạn nợ: Đây là phương án tránh áp lực trả nợ cho khách hàng
để hỗ trợ khách hàng tiếp tục kinh doanh. Ngân hàng cũng có thể xem xét cấp
thêm tín dụng giúp khách hàng vượt qua khó khăn đồng thời tạo khả năng thu
hồi các khoản nợ trước. Đây không phải là biện pháp tốt vì nó mang tính mạo
hiểm cao.
Thứ ba, giảm, miễn một phần nợ lãi vay phải trả: Giải pháp này có thể
được xem xét áp dụng tùy thuộc vào thiện chí trả nợ vay của khách hàng và tuân
thủ theo các quy định hiện hành của Nhà nước và của từng Ngân hàng. Việc
giảm, miễn lãi đối với khách hàng coi như sự hy sinh một phần doanh thu của
Ngân hàng để có thể tận thu hồi được nguồn vốn đã cho vay.
- Chứng khoán hóa các khoản nợ xấu – Biến nợ thành chứng khoán
Hiện nay, một kỹ thuật mới trong công tác xử lý nợ xấu đang được áp dụng
rộng rãi trên thế giới là chứng khoán hóa các khoản nợ. Một cách đơn giản,
chứng khoán hóa là quá trình tập hợp và tái cấu trúc các tài sản thiếu tính thanh
khoản nhưng lại có thu nhập bằng tiền cao trong tương lai như các khoản phải
- Xử lý tài sản đảm bảo, đòi nợ bên bảo lãnh
Đối với những khoản nợ xấu không thể cơ cấu lại nợ, khách hàng không có
khả năng phát triển, chây ỳ trong việc trả nợ… NHTM chủ động xử lý các tài
sản đảm bảo nợ vay kể cả là bất động sản bao gồm đất đai, tài sản gắn liền với
đất thuộc quyền định đoạt của Ngân hàng theo các hình thức sau: Bên bảo đảm
trực tiếp bán tài sản cho người mua, NHTM trực tiếp bán tài sản cho người mua,
bán thông qua tổ chức đấu giá.
NHTM nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ
được bảo đảm. Trong trường hợp này, việc quyết định nhận tài sản để sử dụng
thay thế thực hiện nghĩa vụ phải thực hiện theo thủ tục mua tài sản của NHTM.
NHTM nhận các khoản tiền hoặc tài sản khác từ: người thứ ba trong