Header Page 1 of 166.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
-----------------------
TRẦN QUỐC HÙNG
ĐIỀU TRA, NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TỔNG
HỢP TRONG CANH TÁC HỒ TIÊU (Piper nigrum L.) THEO
HƯỚNG BỀN VỮNG TẠI ĐẮKLẮK
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
BUÔN MA THUỘT, NĂM 2010
Footer Page 1 of 166.
Header Page 2 of 166.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
-----------------------
TRẦN QUỐC HÙNG
ĐIỀU TRA, NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TỔNG
HỢP TRONG CANH TÁC HỒ TIÊU (Piper nigrum L.) THEO
HƯỚNG BỀN VỮNG TẠI ĐẮKLẮK
Chuyên ngành: Kỹ thuật trồng trọt
Mã số: 60 62 01
giá trị kinh tế và xuất khẩu cao trong ñó có cây hồ tiêu. Trong những năm gần ñây,
sản xuất hồ tiêu tại ĐắkLắk phát triển rất nhanh. Chỉ trong vòng 8 năm từ năm
2000 ñến năm 2008, diện tích trồng hồ tiêu tại ĐắkLắk tăng gấp 3 lần (khoảng
1.500 ha vào năm 2000 và trên 4.700 ha vào năm 2008), sản lượng tăng gấp 10 lần
[6]. Tuy nhiên, từ năm 2005 trở lại ñây, chỉ số phát triển về sản lượng so với năm
trước giảm dần (khoảng 240 % trong năm 2005 và trong năm 2008 chỉ ñạt 100 %).
Điều này cho thấy việc sản xuất hồ tiêu tại ĐắkLắk hiện nay không bền vững.
Nhiều nghiên cứu trên thế giới và ở nước ta cho thấy, sâu bệnh là một trong
những nguyên nhân chính của việc giảm diện tích và sản lượng các vườn tiêu. Bên
cạnh ñó là sự tác ñộng không hợp lý và không ñồng bộ các biện pháp kỹ thuật
canh tác trên ñồng ruộng dẫn ñến sự mất cân bằng trong sinh thái. Vấn ñề ñang
Footer Page 3 of 166.
Header Page 4 of 166.
2
làm người trồng tiêu ñang quan tâm và lo ngại nhất hiện nay là giữ cho năng suất
vườn tiêu ñược ổn ñịnh, hạn chế ñược các loại sâu bệnh hại nguy hiểm mang tính
hủy diệt vườn tiêu. Kinh nghiệm trồng tiêu ở nhiều nơi trên thế giới cho thấy các
loại sâu bệnh phát sinh từ ñất khó có thể phòng trừ bằng biện pháp hoá học ñơn
ñộc mà các kỹ thuật quản lý cây trồng tổng hợp thường có hiệu quả hơn. Do vậy
việc tiếp tục nghiên cứu ñể bổ sung các kỹ thuật canh tác tổng hợp và biện pháp
quản lý dịch hại tổng hợp trên cây tiêu là ñiều cần thiết
Xuất phát từ tình hình thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành ñề tài: “Điều tra,
nghiên cứu biện pháp kỹ thuật tổng hợp trong canh tác hồ tiêu (Piper nigrum L.)
theo hướng bền vững tại ĐắkLắk”.
2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Madagascar [55]. Ngay cả ở vùng nhiệt ñới, cây tiêu thường ñược trồng tập
trung ở những nơi có khí hậu nóng, ẩm. Yêu cầu ñặc trưng về mặt khí hậu của
cây hồ tiêu là lượng mưa khá, nhiệt ñộ không thay ñổi nhiều, ẩm ñộ cao, ñộ dài
ngày không chênh lệch nhiều giữa các mùa trong năm.
Chevalier (1925) cho rằng hồ tiêu là cây trồng vùng xích ñạo ẩm, thường ít
khi vượt quá vĩ ñộ 15o Bắc và Nam. Tuy nhiên Biard và Roule (1942) tranh luận là
hồ tiêu vẫn ñược trồng ở Quảng Trị và Nghệ An vùng Trung Bộ, ở vĩ ñộ trên dưới
200. Ở Quảng Trị tiêu sinh trưởng tốt, trong khi ở Nghệ An tiêu phát triển có chậm
trong mùa ñông (trích dẫn từ Nguyễn Tăng Tôn và cộng sự, 2005 ) [21].
Hiện nay hồ tiêu ñược trồng nhiều ở các nước nằm trong vùng xích ñạo
trong khoảng từ 200 vĩ Bắc và Nam. Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Thái Lan,
Srilanka, Madagascar, Brazil là các nước có diện tích và sản lượng hồ tiêu ñáng
kể. Tại Việt Nam, hồ tiêu ñược trồng phổ biến từ tỉnh Quảng Trị trở vào phía
Nam, thích hợp ở ñộ cao 800 m, lên cao hơn tiêu phát triển kém [21].
* Nhiệt ñộ
Hồ tiêu thích nghi tốt với khí hậu ôn hoà, không chịu ñược nhiệt ñộ thay ñổi
nhiều, nhiệt ñộ thấp nhất khoảng 10 0C, thích hợp nhất trong khoảng 20 - 30 0C,
nhiệt ñộ ñất ở ñộ sâu 30 cm trong khoảng 25 - 28 0C [54].
Footer Page 5 of 166.
Header Page 6 of 166.
4
* Lượng mưa
Hồ tiêu thích hợp trong ñiều kiện mưa ñều, lượng mưa hàng năm trong
khoảng 1.000 - 3.000 mm, lượng mưa lý tưởng cho cây tiêu sinh trưởng và phát
triển là 1.250 - 2.500 mm, tuy nhiên cây tiêu vẫn sinh trưởng và phát triển bình
5
C/N ở tầng ñất canh tác cao (15 - 25).
Ở Ấn Độ tiêu ñược trồng trên ñất Alfisols (70 %), Mollisol (10 %),
Oxisols (6 %) và Entisols (4 %) (trích dẫn từ Sadanandan, 2000) [55]. Ở
Sarawak (Malaysia) tiêu ñược trồng trên ñất phù sa, nhiều chất hữu cơ hoặc trên
vùng ñất sét pha cát [46]. Ở Bangka (Indonesia) tiêu ñược trồng trên ñất
Podzolic vàng ñỏ và ñất cát pha sét [54].
Có thể trồng tiêu trên nhiều loại ñất khác nhau với yêu cầu: Đất dễ thoát
nước, ñộ dốc dưới 5 %, không bị úng ngập; tầng canh tác dày trên 70 cm, mạch
nước ngầm sâu hơn 2 m; ñất giàu mùn, thành phần cơ giới nhẹ ñến trung bình,
pHKCl 5 - 6 [15].
1.2. GIỐNG HỒ TIÊU
Cây hồ tiêu (Piper nigrum L.) thuộc họ Piperaceae, có nguồn gốc từ bang
Tây Ghats (Ấn Độ), có lẽ ñã ñược trồng cách nay khoảng 6000 năm [56], [53].
Tuy nhiên Chevalier (1925) cho biết cây tiêu chắc chắn l.à cây bản ñịa ở Đông
Dương, bằng chứng là Balanca ñã tìm thấy tiêu dại ở vùng núi Ba Vì, miền Bắc
Việt Nam. Ở Campuchia, người Stiêng ñôi khi cũng thu hoạch tiêu trong rừng
(trích dẫn từ Nguyễn Tăng Tôn và cộng sự, 2005) [21].
Các giống tiêu trồng có thể có nguồn gốc từ các giống tiêu mọc hoang,
ñược thuần hoá và tuyển chọn qua rất nhiều ñời trong khoảng thời gian dài. Trong
số hơn 100 giống tiêu ñược biết ñến, có một số giống ñã và ñang dần mất ñi trong
sản xuất bởi nhiều lý do, chẳng hạn bị loại bỏ vì nhiễm nặng sâu bệnh hại, nhất là
bệnh chết nhanh, chết chậm và tuyến trùng, các giống tiêu bản ñịa dần dần ñược
thay thế bằng một vài giống tiêu cao sản trong sản xuất ñại trà [53].
Việc phân ñịnh giống dựa vào phân tích nhiễm sắc thể rất tốn kém và
không phải lúc nào cũng có ñiều kiện thực hiện. Viện Nghiên cứu Tài nguyên Di
truyền Thực vật Quốc tế ñưa ra bảng chỉ dẫn dựa vào các chỉ tiêu hình thái ñể
nhận diện giống tiêu, bao gồm 29 chỉ tiêu về thân, lá và các ñặc tính sinh trưởng,
giống tiêu lai Panniyur-1 cho năng suất cao và chống chịu tốt bệnh chết nhanh,
và ñang khu vực hoá hai giống Panniyur-2 và Panniyur-3. Hiện IISR ñang trồng
bảo quản và theo dõi tập ñoàn 2.300 ký hiệu giống bao gồm cả 940 ký hiệu tiêu
hoang dại [43].
Sim và cộng sự (1993) cho biết có ba giống tiêu ñược trồng nhiều ở
Malaysia, trong ñó Kuching là giống ñược trồng phổ biến nhất, cho năng suất
khá cao nhưng dễ nhiễm bệnh chết nhanh (do nấm Phytophthora sp.). Năm 1988
và năm 1991, trung tâm Sarawak ñã phóng thích thêm hai giống là Semongok
perak và Semongok emas. Hai giống này cho quả sớm sau khi trồng và kháng
Footer Page 8 of 166.
Header Page 9 of 166.
7
ñược bệnh thán thư, ngoài ra Semongok emas còn có ưu ñiểm ra hoa tập trung,
chín ñồng ñều hơn, chỉ cần thu hoạch 2-3 lần, so với Kuching phải thu 4-6 lần.
Semongok perak tuy có phẩm chất thơm ngon, năng suất cao trong những năm
ñầu kinh doanh nhưng kém bền vững sau vụ thứ ba vì dễ nhiễm bệnh chết nhanh
(trích dẫn từ từ Paulus and Wong, 2000) [50].
Ở Indonesia, bên cạnh giống Bangka cho năng suất cao và ñược trồng phổ
biến, còn có giống Belangtoeng cho năng suất trung bình, ba giống chống chịu
tốt bệnh chết nhanh là Banjarmasin, Duantebei và Merefin, và hai giống chọn lọc
cho năng suất cao ñược phổ biến trong sản xuất giữa thập niên 1990 là Natar 1 và
Natar 2 (trích dẫn từ Nguyễn Tăng Tôn và cộng sự, 2005) [21].
Tại Việt Nam, giống hồ tiêu ñược nhập nội, chọn lọc và phát triển nhiều
trong thập niên 1940 - 1950 [17], [22]. Kể từ thập niên 1960 công tác nghiên cứu
về giống tiêu không ñược tiến hành liên tục.
cao, Lada Belangtoeng gốc Indonesia sinh trưởng khỏe và chống chịu tốt bệnh
thối rễ. Chỉ trừ giống Lada Belangtoeng ñược nhập vào trồng khảo nghiệm ở
nhiều vùng trong nước, các giống khác chưa ñược quan tâm nhập nội khảo sát một
cách chính thức (trích dẫn từ Nguyễn Tăng Tôn và cộng sự, 2005) [21].
Các giống tiêu ñược trồng phổ biến trong sản xuất hiện nay chủ yếu do
nông dân tự chọn lọc từ nguồn giống ñịa phương hoặc du nhập từ ñịa phương
khác, giống thường mang tên ñịa phương có trồng nhiều hoặc ñịa phương xuất
xứ, do vậy có khi một giống tiêu ñược mang nhiều tên khác nhau, nhiều
giống/dòng tiêu khác nhau lại mang cùng một tên. Các giống ñược trồng phổ
biến có thể phân thành ba nhóm dựa trên các ñặc tính hình thái, chủ yếu là kích
cỡ lá [21]:
1) Tiêu lá nhỏ còn gọi là tiêu sẻ, gồm phần lớn các giống tiêu ñược trồng
phổ biến ở nhiều ñịa phương, trong ñó có các giống: Vĩnh Linh (Quảng Trị),
Tiêu Sơn (Gia Lai), Di Linh (Lâm Đồng), Sẻ Đất ñỏ (Bà Rịa-Vũng Tàu), Phú
Quốc (Kiên Giang), Nam Vang (nhập nội từ Campuchia, gồm ba giống
Kamchay, Kep và Kampot).
2) Tiêu lá trung bình gồm chủ yếu các giống tiêu nhập nội từ Madagascar,
Ấn Độ và Indonesia như: Lada Belangtoeng, Karimunda, Panniyur và Kuching.
3) Tiêu lá lớn còn gọi là tiêu trâu như các giống Sẽ mỡ, Trâu Đất ñỏ
(Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu).
Trong số các giống trên, giống Lada Belangtoeng ñược trồng phổ biến
nhất, ñặc biệt là ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên [17]. Có thể một số giống tiêu
có tên gọi khác nhau ở một số ñịa phương có nguồn gốc từ giống Lada
Footer Page 10 of 166.
Header Page 11 of 166.
9
Footer Page 11 of 166.
Header Page 12 of 166.
10
dụng trụ gỗ vì cho rằng tiêu leo bám dễ dàng, không bị cạnh tranh về nước, dinh
dưỡng, ánh sáng như khi trồng trụ sống và không bị nóng làm tiêu tàn lụi sớm
như khi trồng với trụ bê-tông hoặc bồn gạch xây. Tuy vậy, thực tế sản xuất hiện
nay cho thấy tiêu có thể ñạt ñược năng suất cao trên tất cả các loại trụ, miễn là có
chế ñộ chăm sóc phù hợp. Các loại trụ sống rất phong phú như vông (Erythrina
spp.), keo (Leucena leucocephala), lồng mức (Wrightia annamensis), ñỗ quyên
(Glyricidia sepium), mít (Artocarpus heterophyllus), muồng cườm (Adenanthera
povonina), cóc rừng (Spondias pinnata) và gòn (Ceiba spp.) ñang ñược sử dụng ở
nhiều vùng trồng tiêu trọng ñiểm hiện nay như Đăk Lăk, Bình Phước, Quảng Trị
và Phú Yên. Đặc biệt ở Quảng Trị do có gió Lào khô nóng, cây trụ sống tỏ ra ñặc
biệt thích hợp cho việc trồng tiêu, các thử nghiệm trồng tiêu trên trụ bê-tông và bồn
gạch không mấy thành công ở vùng này.
Kết quả ñiều tra của Tôn Nữ Tuấn Nam và cộng sự (2005) [15] cho thấy
tại ĐắkLắk, năng suất tiêu ñược trồng trên trụ sống không thua kém năng suất
tiêu trồng trên trụ gỗ. Trịnh Xuân Hồng (2000) [9] và Phan Quốc Sủng (2000)
[17] cũng cho thấy trồng tiêu trên trụ sống còn giảm ñược chi phí ñầu tư, chăm
sóc; mô hình trồng xen tiêu trong vườn cà phê với trụ sống của tiêu là cây che
bóng cho cà phê ngày càng ñược nhân rộng vì ñã mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Các kết quả ñiều tra của Đào Thị Lan Hoa (2000) [8] và Trần kim Loang (2006)
[10] cho thấy tỷ lệ cây tiêu bị bệnh héo chết nhanh và vàng lá do tuyến trùng của
các vườn tiêu trồng trên trụ sống thấp hơn các vườn trồng trên trụ chết.
1.3.2. Phân bón
g/trụ/năm N-P2O5-K2O (trích dẫn từ Nguyễn Tăng Tôn và cộng sự, 2005) [21].
Trong một thí nghiệm cho hồ tiêu trên ñất ñỏ tại Nam Bahia (Brazil), các
tác giả ñã xác ñịnh liều lượng N và P205 cho năng suất tiêu cao nhất là 132 kg N
và 240 kg P2O5, không thấy ảnh hưởng có ý nghĩa của phân kali ñến năng suất
hồ tiêu trong thí nghiệm này (Rafael và cộng sự, 1986) (trích dẫn từ Nguyễn
Tăng Tôn và cộng sự, 2005) [21].
Nghiên cứu tương quan giữa dinh dưỡng lá và năng suất tiêu ñen (Nybe và
cộng sự, 1989) [49] ñã xác ñịnh hai loại phân P và K ảnh hưởng mạnh nhất ñến năng
suất tiêu.
Theo khuyến cáo Hiệp hội Nghiên cứu cây gia vị Ấn ñộ, liều lượng phân
bón áp dụng cho cây tiêu trên ñất ñỏ vùng nhiệt ñới có hàm lượng dinh dưỡng
các nguyên tố chính trong ñất từ thấp ñến trung bình là 140g N, 55g P2O5, 270g
K2O kết hợp 600g vôi và 10kg phân chuồng/trụ/năm. Tỷ lệ NPK ñược khuyến
cáo áp dụng là 2,5 - 1 - 5, với mức bón lân thấp, kali gấp 2 lần phân ñạm (Indian
Footer Page 13 of 166.
Header Page 14 of 166.
12
spices, 2002) (trích dẫn từ Nguyễn Tăng Tôn và cộng sự, 2005) [21].
Nghiên cứu về ảnh hưởng của chất ñiều hoà sinh trưởng và nguyên tố vi
lượng ñến sự rụng gié quả và năng suất hồ tiêu cũng ñã ñược nhiều tác giả ñề
cập. Nồng ñộ thấp của chất 2,4-D kích thích quả tiêu phát triển. Phun IAA ở
nồng ñộ 50ppm, ZnSO4 ở nồng ñộ 0,5% làm giảm rụng gié là 63,6% và 48,4%
so với ñối chứng không phun. Salvi và ctv. (1988) ñã ghi nhận rằng phun chất
ñiều hoà sinh trưởng làm giảm rụng gié, tăng trọng lượng quả và tăng hiệu quả
kinh tế [38]. Một nghiên cứu của IISR ñã chỉ ra rằng ñối với giống Subhakara và
Theo Trần Văn Hoà (2001) [7], lượng phân bón tùy thuộc vào ñất, giống
và tuổi cây, trong ñó phân hữu cơ ñóng vai trò quan trọng và tỷ lệ NPK phù hợp
cho cây tiêu là (2:1:4). Lượng phân khoáng có thể chia 4 lần bón. Lần 1 giúp
cây phục hồi sau thu hoạch, lần 2 giúp thúc quá trình phân hóa mầm hoa (sau khi
vào mùa mưa nửa tháng), lần 3 và 4 nhằm tăng ñậu quả và nuôi quả.
Bảng 1.1 Khuyến cáo lượng phân bón cho cây hồ tiêu
Tuổi cây
Phân chuồng
N
P2O5
K2O
(kg/trụ)
(g/trụ)
(g/trụ)
(g/trụ)
Năm thứ 1
10-20
60
Hầu hết các nghiên cứu trong và ngoài nước ñều ñề cao vai trò của phân
hữu cơ trong canh tác tiêu mặc dầu yêu cầu về phân bón vô cơ cho cây tiêu cũng
khá cao. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Tăng Tôn và cộng sự (2005) [21] tại
Bà Rịa Vũng Tàu cho thấy việc sử dụng các loại phân hữu cơ như phân bò, phân
gà, phân rác ñã hạn chế ñược sự phát triển của bệnh héo chết nhanh trên cây tiêu
so với không bón phân. Kết quả ñiều tra của Trần Kim Loang và cộng sự (2006)
[10] cũng cho thấy các vườn tiêu thường xuyên ñược bón phân hữu cơ có mức
ñộ nhiễm bệnh héo chết nhanh thấp hơn các vườn không ñược bón phân hữư cơ.
Hiện nay nhiều hộ nông dân ñã sử dụng phân hữu cơ ñể bón thường xuyên cho
cây tiêu nhất là những vùng ñầu tư thâm canh cao như Chư Sê (Gia Lai), Cư Jút
Footer Page 15 of 166.
Header Page 16 of 166.
14
(Đak Nông) với lượng 10 - 20 tấn/ ha/ năm.
Nghiên cứu của Tôn Nữ Tuấn Nam và Bùi Văn Khánh (2004) [14] cho
thấy, trên ñất ñỏ bazan, ñể ñảm bảo năng suất tiêu vào thời kỳ kinh doanh và ñạt
hiệu quả kinh tế cao có thể áp dụng liều lượng phân khoáng 300kg N, 150kg
P205 và 225kg K20/ha/năm kết hợp với 40 m3 phân chuồng và phun phân bón lá
Growmore 4 lần vào thời kỳ ra hoa ñậu quả. Nếu thiếu nguồn phân chuồng có
thể thay bằng các loại phân hữu cơ chế biến khác cũng có tác dụng tốt cho tiêu.
1.3.3. Tỉa cành tạo tán
Kỹ thuật tạo tán ñể trụ tiêu có ñược hình dáng thích hợp và có nhiều cành
mang quả là biện pháp kỹ thuật ñược quan tâm ở nhiều nước trồng tiêu. Tùy theo
vật liệu trồng ban ñầu là dây thân hay dây lươn (cành vượt) các biện pháp tạo hình
cho tiêu có thể khác nhau. Tiêu trồng bằng dây thân có thể dùng kỹ thuật cắt dây
1.3.4. Tưới nước
Tiêu là loại cây thân leo có bộ rễ nông và phân bố hẹp nên rất mẫn cảm
với nhu cầu nước tưới. Thiếu nước tưới trong mùa khô hay bị úng nước trong
mùa mưa ñều làm cho tiêu sinh trưởng kém, năng suất thấp hoặc bị chết.
Nước tưới ñóng vai trò quan trọng ñối với cây tiêu, một nghiên cứu về ảnh
hưởng của tưới nước trên giống tiêu Karimunda và Panniyur-1 từ năm 19881996 ở Panniyur và Kerala (Ấn Độ) cho thấy tưới nước với tỷ lệ IW/CPE=0,25
làm tăng năng suất lên hơn 90% (Satheesan và cộng sự, 1997) (trích dẫn từ
Nguyễn Tăng Tôn và cộng sự, 2005) [21]
Một nghiên cứu khác của IISR cũng cho thấy rằng lượng nước tưới cho
một trụ tiêu từ 7-10 lít/ngày trong mùa khô sẽ ñạt năng suất cao nhất 4,07
kg/trụ/năm so với ñối chứng 1,33 kg/trụ/năm [42]. Một mô hình tưới tiết kiệm
nước trên tiêu tại Đồng Nai với chu kỳ tưới 3 ngày/lần, lượng nước tưới 20
lít/trụ/lần ñã ñược ñánh giá có hiệu quả cao so với ñối chứng [13]. Đối với tưới
nhỏ giọt, chu kỳ 3 ngày/lần, lượng nước tưới 280-320 lít/trụ/tháng là phù hợp
nhất cho tiêu Sẻ 4-5 năm tuổi, trồng với khoảng cách 5 x 5 m [24]. Kết quả ñiều
tra khảo sát cũng cho thấy khi sử dụng hệ thống tưới phun dưới tán cho tiêu thì
lượng nước tối ưu cần cho cây phát triển tốt từ 35-40 lít/trụ/lần tưới, trong khi
tưới bồn truyền thống thì lượng nước tối ưu cần từ 100-120 lít/trụ/lần tưới. Thực
tế chu kỳ tưới thay ñổi tuỳ thuộc vào ñộ bốc thoát hơi nước, lượng mưa hàng
tháng và thời kỳ sinh trưởng của cây.
Hệ thống vi tưới (micro-irrigation) ñược áp dụng từ thế kỷ 19 và phát
triển mạnh trong những năm 60 khi chất dẻo Polyethylene ñược ứng dụng rộng
rãi. Sau ñó, việc bón phân qua hệ thống tưới (fertigation) cũng ñược ứng dụng ở
Footer Page 17 of 166.
Header Page 18 of 166.
16
Footer Page 18 of 166.
Header Page 19 of 166.
17
thân Lophobaris piperis, bọ xít lưới Diconocoris hewitte, và bọ xít mép Dasynus
piperis.
Tại Srilanca, theo Kularatne (2002) [45] các bệnh quan trọng nhất trên cây
tiêu gồm bệnh chết nhanh do Phytophthora, bệnh chết chậm do Fusarium, và
bệnh lá nhỏ do virus. Đối với bệnh chết nhanh nấm Phytophthora sp. là tác nhân
gây bệnh chính. Bệnh chết nhanh trước tiên ñược ghi nhận là do nấm
Phytophthora palmivora var piperis, nhưng sau ñó nấm ñược ñặt lại tên
Phytophthora palmivora MF4 (Tsao và ctv., 1985). Tên nấm bệnh ñược
Alizadeh và Tsao (1985) ñã xác ñịnh lại chủng P. palmivora MF4 phân lập từ
cây ca cao và hồ tiêu với tên P. capsici, theo nghĩa rộng, và cuối cùng là
Phytophthora capsici sensu lato (Tsao và Alizadeh, 1988) (trích dẫn từ Trần
Kim Loang và cộng sự, 2006) [10]. Bệnh rất nguy hiểm, nấm gây bệnh tấn công
trên tất cả các phần của cây tiêu, và ở tất cả các thời kỳ sinh trưởng của cây,
trường hợp nấm bệnh tấn công vào rễ hoặc cổ rễ sẽ gây cây chết ñột ngột (chết
ẻo, hoặc héo rũ).
Sarma và cộng sự (1991) [51] cho rằng nguyên nhân gây bệnh thối gốc
trên cây hồ tiêu ở Ấn Độ là do Phytophthora capsici gây nên. Tại Philippines
[52], Thái Lan [51] ñã phát hiện có sự xâm nhập và gây hại của loài
Phytophthora
parasitica. Tuy nhiên loài gây hại phổ biến vẫn là loài
của Trần Kim Loang và cộng sự (2006) [10] cho thấy, có khoảng 25 - 83 %
vườn tiêu tại ĐắkLắk, Đak Nông và Gia Lai bị bệnh héo chết nhanh.
Bệnh chết nhanh gây thối rễ do Phytophthora capsici, ñiều trị bằng
metalaxyl, hoặc acid phosphoric, fosetyl-Al rất có hiệu quả [48]. Thuốc
Phosacide 200 nồng ñộ 4% và Alliette 80WP nồng ñộ 0,2% có hiệu quả trừ bệnh
Phytophthora [25].
Anith và cộng sự (2002) [29] ñã thành công trong việc phân lập dòng vi
khuẩn ñối kháng với Phytophthora capsici từ vùng rễ cây tiêu, ñã chọn ñược
chủng PN-026, có khả năng hạn chế Phytophthora capsici gây héo cây trong
vườn ươm. Theo Anandaraj và Sarma (2003) [28], dòng Pseudomonas
fluorescens IISR-51 có hiệu quả trên 50 % trong phòng trừ nấm Phytophthora
capsici so với công thức ñối chứng. Diby và cộng sự (2005) [36] thấy rằng ngoài
khả năng hạn chế sự phát triển của nấm P. capsici gây hại cây tiêu, với hiệu lực
phòng trừ trên 70 % trong ñiều kiện phòng thí nghiệm, nấm P. fluorescens còn
có khả năng kích thích sinh trưởng cây tiêu với hiệu quả trên 57 % trong ñiều
kiện nhà lưới. Tại Việt Nam, Trần Thị Thu Hà và cộng sự (2008) [59] nghiên
cứu tính ñối kháng của 5 dòng vi khuẩn Pseudomonas fluorescens phân lập từ
Footer Page 20 of 166.
Header Page 21 of 166.
19
vùng rễ cây tiêu tại Quảng Trị ñã chọn ñược 1 dòng có khả năng ức chế hoạt
ñộng của nấm Phytophthora gây bệnh chết nhanh cây tiêu, các tác giả cũng ñã
khẳng ñịnh khả năng kích thích sinh trưởng, khả năng mọc rễ của dòng vi khuẩn
này ñối với cây tiêu trong ñiều kiện nhà lưới.
Nhiều loài nấm ñối kháng ñã ñược các tác giả trong và ngoài nước khuyến
này cũng cho thấy có hiệu lực cao trên ñồng ruộng khi ñược sử dụng với lượng
40 g/ gốc tiêu/ năm,
Đối với bệnh chết chậm biểu hiện sự sinh trưởng chậm, lá có màu vàng
nhạt, lá hoa và quả rụng dần từ gốc ñến ngọn, các ñốt cũng rụng dần từ trên
xuống gốc. Hiện tượng vàng của cây có thể do sự cộng hợp của các tác nhân
Fusarium sp., Rhyzoctonia sp., và tuyến trùng Meloidogyne sp., rệp sáp hại rễ,
và do cây thiếu dinh dưỡng [17]. Eng (2002) [37] cho rằng có thể sử dụng biện
pháp sinh học phòng trừ tuyến trùng rễ với nấm Verticilium chlamydosporium và
Paecilomysec lilacinus ký sinh trứng tuyến trùng. Biện pháp phòng trừ tổng hợp
cần ñược xây dựng trong ñó có biện pháp tăng cường sự hoạt ñộng của các tác
nhân phòng trừ sinh học có sẵn trong môi trường rễ tiêu nhất là các loài nấm
Paecilomysec lilacinus và Pasteuria penetrans.
Việc kết hợp bón phân hữu cơ và vô cơ một cách cân ñối cho cây tiêu ñã
ñược nhiều tác giả ñề cập ñến. Bởi vì phân hữu cơ ngoài các chất ña lượng, còn
có các chất vi lượng, có tác dụng cải thiện lý hóa tính ñất, tăng khả năng thoát và
giữ nước, hạn chế ñược sự phát triển của một số tuyến trùng và nấm bệnh trong
ñất thông qua việc thúc ñẩy hoạt ñộng của vi sinh vật ñối kháng. Các thí nghiệm
bón phân chuồng ủ hoai cho tiêu tại Quảng Trị cho biết ở các công thức bón phân
hữu cơ ñã làm giảm mật ñộ tuyến trùng Meloidogyne incognita so với ñối chứng
không bón phân hữu cơ [4].
Bệnh virus trên cây tiêu có biểu hiện các ngọn bị chùn lại, lá non quăn tít,
ñọt chùn, cây không phát triển và lùn hẳn lại. Virus ñã ñược phát hiện trên
những cây tiêu có triệu chứng lùn (Sarma và cộng sự, 1991) [57], virus gây bệnh
ñược truyền qua các tác ñộng cơ học cắt cành và ghép cành. Ở Mã Lai, rệp sáp
giả Ferrisia virgata là tác nhân lan truyền bệnh virus PYMV (Piper Yellow
Mottle Virus), cây ớt Capsicum annuum có biểu hiện các lá bị quăn queo khi
ñược lây nhiễm nhân tạo với hai loài rệp Aphis gossypii và Myzus persicae ñã
sống trên cây tiêu bị bệnh [37]. Ở Sri Lanka, theo De Silva (1996) [32] loài rệp
sáp giả Planococcus citri (Hoptera: Pseudococcidae) có khả năng lan truyền
hại rễ hầu hết các nước ñều áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp, chú trọng ñến
việc bảo vệ các vi sinh vật có ích trong ñất bằng cách sử dụng các chế phẩm sinh
học.
Biện pháp kỹ thuật canh tác ñóng vai trò rất quan trọng ñây là biện pháp quan
trọng ñầu tiên ñể ngăn chặn sự lây nhiễm và phát tán của nấm bệnh. Lượng mưa
cao trong suốt mùa mưa dẫn ñến úng nước, trong ñiều kiện như vậy cây tiêu sẽ
Footer Page 23 of 166.
Header Page 24 of 166.
22
bị nhiễm nấm Phytophthora. Trong suốt thời gian ñọng nước, ñiều kiện yếm khí
tạm thời xuất hiện với lượng oxy thấp và sự gia tăng dịch rễ sẽ kích thích nấm
bệnh nảy mầm và phát triển. Tất cả các yếu tố này sẽ làm tăng khả năng mẫn
cảm của cây kí chủ do giảm sự sản sinh ra Phenol oxydases, giảm việc sản xuất
Phytoalexin, ức chế hệ sinh vật ñất và giảm sự cố ñịnh ñạm. Vì vậy thoát nước
hợp lý sẽ làm giảm sự gia tăng mật ñộ Phytophthora capsici. Tại Malaysia, các
nghiên cứu của Ahmed (1993) cho thấy tiêu ñược trồng trong ñiều kiện sạch cỏ
phát triển tốt hơn khi ñược che phủ ñất bằng cây Desmodium trifolium. Điều
chỉnh các cây che bóng, các cây choái sống phải ñược chặt bỏ ngọn vào mùa
mưa ñể tránh việc tăng ñộ ẩm và ñể ánh sáng chiếu vào vườn cây làm thay ñổi
tiểu khí hậu trong vườn thích hợp cho cây sinh trưởng và phát triển, làm giảm sự
phát triển của bệnh (trích dẫn từ Anandaraj, 2000) [27].
Tại Indonesia, Manohara và cộng sự (2002) [48] ñã ñưa ra qui trình phòng
trừ tổng hợp bệnh héo chết nhanh cây hồ tiêu như sau: có hệ thống thoát nước
tốt, hạn chế làm cỏ bón phân hợp lý và tỉa các cành thấp dưới ñất ñặc biệt là
ñộ bình quân giữa các tháng trong năm không lớn lắm, chỉ từ 20 - 25 0C. Nhìn
chung nhiệt ñộ bình quân nằm trong phạm vi nhiệt ñộ thích hợp cho sinh trưởng
và phát triển của cây hồ tiêu. Tuy nhiên ñây cũng là phạm vi nhiệt ñộ thích hợp
cho sự phát triển của nhiều loài sinh vật gây hại cho cây trồng.
* Độ ẩm không khí
Độ ẩm không khí bình quân cả năm là 82,5 %, nhưng giữa các tháng mùa
mưa và mùa khô có sự chênh lệch rất lớn. Các tháng mùa khô có ñộ ẩm không
khí dao ñộng từ 72,8 - 82,5 %, trong khi ñộ ẩm không khí của các tháng mùa
mưa ñạt tới 74 - 90,4 %. Độ ẩm cao trong mùa mưa ñã tạo ñiều kiện cho sự phát
triển của các sinh vật gây hại cây, vì thế tại hầu hết các loại bệnh gây hại cây
trồng ñều xuất hiện trong mùa mưa.
* Chế ñộ mưa
Tổng lượng mưa hàng năm của huyện Ea H’Leo khoảng 2.101,8 mm,
phân bố thành 2 mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 4 ñến tháng 10, chiếm trên
93 % lượng mưa của cả năm. Cao ñiểm tập trung vào tháng 8 và tháng 9 với
lượng mưa khoảng 450 - gần 500 mm. Lượng mưa lớn và tập trung ñã tạo ñiều
kiện cho sự lây lan và phát tán các sinh vật gây bệnh, ñặc biệt là nấm và tuyến
trùng. Lượng mưa trong mùa khô rất thấp, có những năm hoàn toàn không có
mưa liên tục trong 2 - 3 tháng. Vì vậy cần phải tưới nước cho các cây ngắn ngày
trồng trong mùa khô và một số cây lâu năm có hệ thống rễ tơ ăn nông như cây hồ
Footer Page 25 of 166.