i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGUYỄN THỊ DUYÊN
NGHIÊN CỨU HÀM LƯỢNG CÁC CHẤT KHÁNG SINH,
HORMONE TRONG THỨC ĂN CHĂN NUÔI VÀ DƯ LƯỢNG CỦA
CHÚNG TRONG THỊT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG NGHỆ SINH HỌC
THÁI
NGUYÊN
- NĂM
2015
Số hóa bởi Trung
tâm Học
liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng
dẫn của PGS.TS Lương Thị Hồng Vân. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là
trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
iv
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ...................................................................................................... iii
MỤC LỤC ............................................................................................................ iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ..................................................................... vi
DANH MỤC CÁC BẢNG.................................................................................. vii
DANH MỤC CÁC HÌNH .................................................................................. viii
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................... 1
2. Mục tiêu của đề tài ............................................................................................ 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..................................................................... 3
4. Nội dung nghiên cứu ......................................................................................... 3
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài .......................................................... 3
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................... 4
1.1. Một số khái niệm cơ bản ................................................................................ 4
1.1.1. Kháng sinh................................................................................................... 4
1.1.2. Hormone ...................................................................................................... 6
1.2. Những tác hại của việc tồn dư kháng sinh, hormone ..................................... 8
1.2.1. Tồn dư kháng sinh và hormone trong cơ thể động vật ............................... 8
1.2.2. Tác hại của việc tồn dư kháng sinh, hormone........................................... 11
1.2.3. Quy định hàm lượng kháng sinh, hormone trong thức ăn chăn nuôi và
trong thịt. ............................................................................................................. 16
1.3. Tổng quan về tinh hình sử dụng kháng sinh và hormon .............................. 17
1.3.1. Nghiên cứu trên thế giới............................................................................ 17
1.3.2. Nghiên cứu ở Việt Nam ............................................................................ 21
1.4. Các phương pháp phát hiện tồn dư kháng sinh, hormone............................ 24
http://www.lrc.tnu.edu.vn
vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BNNPTNT
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
CTC
Chlotetracyline
DNA
Deoxyribo Nucleic Axid
EU
European Union - Liên minh châu Âu
FDA
Food and Drug Aministration - Cơ quan quản lý dược
phẩm và thực phẩm Mỹ
HM
Thức ăn
TC
Tetracyline
TCCP
Tiêu chuẩn cho phép
TCVN
Tiêu chuẩn Việt Nam
TP
Thành phố
VietGAP
Vietnamese Good Agricultural Practices
WTO
World Trade Organization –Tổ chức thương mại thế giới
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
37
Bảng 3.4: Thực trạng sử dụng từng loại kháng sinh trong thức ăn chăn
nuôi ở các vùng nghiên cứu
38
Bảng 3.5: So sánh hàm lượng kháng sinh trong thức ăn với tiêu chuẩn
cho phép
40
Bảng 3.6: Thực trạng tồn dư kháng sinh trong thịt
41
Bảng 3.7: Thực trạng tồn dư kháng sinh trong thịt ở từng vùng nghiên
cứu
42
Bảng 3.8: Thực trạng tồn dư từng loại kháng sinh trong thịt
43
Bảng 3.9: Thực trạng tồn dư từng loại kháng sinh trong thịt ở từng vùng
nghiên cứu
44
http://www.lrc.tnu.edu.vn
viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình
Tên hình
Trang
Hình 1.1:
Công thức cấu tạo của kháng sinh nhóm tetracyline
5
Hình 1.2:
Công thức cấu tạo của phân tử ratopamine
7
Hình 1.3:
Công thức cấu tạo của phân tử Clenbuterol
7
Biểu đồ thực trạng sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi
35
Hình 3.5:
Biểu đồ thực trạng sử dụng kháng sinh ở từng vùng nghiên cứu
36
Hình 3.6:
Biểu đồ thực trạng sử dụng từng loại kháng sinh trong thức ăn
chăn nuôi
37
Hình 3.7:
Biểu đồ thực trạng sử dụng từng loại kháng sinh trong thức ăn
chăn nuôi trong các vùng nghiên cứu
39
Hình 3.8:
Biểu đồ So sánh hàm lượng kháng sinh trong thức ăn với tiêu
chuẩn cho phép
40
tiêu chuẩn cho phép
46
Hình 3.14: Sắc ký đồ mẫu chuẩn
48
Hình 3.15: Sắc ký đồ mẫu phân tích
48
Hình 3.16: Biểu đồ thực trạng sử dụng hormone trong thức ăn chăn nuôi
49
Hình 3.17: Biểu đồ biểu diễn thực trạng tồn dư hormone trong thịt
51
Hình 3.18: Biểu đồ biểu diễn hàm lượng tồn dư hormone trong thịt so với
tiêu chuẩn cho phép.
52
Hình 3.19: Biểu đồ biểu thị hệ số tương quan giữa hàm lượng kháng sinh
TC trong thức ăn cho lợn và thịt lợn.
53
nuôi. Tháng 6/2006 BNNPTNT có chỉ thị về tăng cường kiểm tra HM tăng
truởng trong chăn nuôi. Nhưng để tìm được giải pháp đối với sự tồn dư KS và
HM trong thực phẩm là rất khó khăn bởi ngành chăn nuôi trong nước ta còn
manh mún, nhỏ lẻ, việc giết mổ phần lớn được thu gom từ nhiều nơi về lò mổ,
vệ sinh chưa được đảm bảo, chưa được kiểm tra chặt chẽ, mặt khác chi phí phân
tích dư lượng KS và HM rất tốn kém.
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi- trung du, có số hộ gia đình và các
trang trại chăn nuôi khá lớn, trong đó chăn nuôi lợn đã cung cấp phần lớn thực
phẩm cho người dân thành phố Thái Nguyên. Cho tới nay, các nghiên cứu về
vấn đề thực phẩm có nguồn gốc động vật còn dư lượng kháng sinh, hormone
quá giới hạn cho phép trong thực phẩm nói chung và trong thịt lợn, thịt gà nói
riêng vẫn còn là khiêm tốn. Để làm sáng tỏ thêm vấn đề này ở địa bàn Tỉnh Thái
Nguyên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu hàm lượng các chất
kháng sinh, hormone trong thức ăn chăn nuôi và dư lượng của chúng trong thịt
trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên”
2. Mục tiêu của đề tài
- Xác định được hàm lượng kháng sinh, hormone trong thức ăn chăn nuôi và sự
tồn lưu của chúng trong thịt một số loại gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên.
- Xác định được mối tương quan giữa hàm lượng kháng sinh và hormone trong
thức ăn chăn nuôi với sự tồn lưu của chúng trong sản phẩm thịt.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Một số loại thức ăn chăn nuôi, thịt lợn, thịt gà trên địa bàn TP. Thái Nguyên và
ngăn cản sự phát triển của vi sinh vật đó [48].
Vào những năm của thập niên 90 người ta phân loại KS dựa vào mục đích
nghiên cứu và cách sử dụng thuốc như phổ tác dụng, cơ chế và mức độ tác dụng.
Ngày nay, thường phân loại KS căn cứ vào nguồn gốc tổng hợp. Thuốc KS được
chia thành những nhóm khác nhau: Nhóm - lacta (gồm penicilline và
cephalosporin); nhóm aminozid - AG; nhóm macrolid; nhóm lincosamid; nhóm
chloramphenicol; nhóm tetracycline; nhóm diệt nấm; nhóm KS đa peptid; nhóm
thuốc hóa trị liệu có cơ chế tác dụng như KS [33]. Dựa vào cơ chế tác dụng,
người ta nhận thấy nhóm tetracycline là một nhóm KS có phổ tác dụng rộng do
vậy hiện nay trong thú y thường được sử dụng rộng rãi trong điều trị và phòng
bệnh cho gia súc, gia cầm [33].
1.1.1.1. Kháng sinh nhóm tetracycline
KS tetracyline được phân lập từ nhiều loại nấm Steptomyces khác nhau
vào những năm 1940 và những năm đầu 1950. Kể từ đó nhiều dẫn xuất bán tổng
hợp được sản xuất từ phân tử tetracyline tạo ra các tetracyline khác nhau có
dược động học và tính kháng khuẩn khác nhau [1], [7]. Chất đầu tiên là
chlotetracyline (aureomycin) do Durgga phân lập được từ năm 1948 từ môi
trường nuôi cấy Steptomyces aureofaciens. Sau đó, năm 1950 Finlay đã phân lập
oxytetracyline (tetramycin) từ Steptomyces rimosus và năm 1952 mới tìm ra chất
cơ bản là tetracyline [5].
1.1.1.2. Tính chất
Dạng bột, màu vàng nhạt hay vàng nâu non. Mùi nồng, vị đắng, ít tan
trong nước, với pH=7 độ tan chỉ khoảng 0,25-0,5 mg/l. Tetracyline là chất lưỡng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
5
6
dùng theo đường tiêm có khoảng 20 - 60% lượng thuốc được thải qua thận sau
24 giờ đầu, khoảng 20 - 50% liều uống cũng thải qua đường nước tiểu. Trong đó
có khoảng 10 - 35% lượng oxytetracycline được thải trừ qua nước tiểu dưới
dạng còn hoạt tính sau khi dùng thuốc 1/2 giờ đến 5 giờ, chlotetracycline nếu
uống chỉ khoảng 10 - 15% lượng thuốc được tìm thấy trong nước tiểu. Sự thải
chlotetracycline qua thận chỉ khoảng 35% thấp hơn oxytetracycline. Nếu tiêm
tĩnh mạch, 60% lượng thuốc được thải qua nước tiểu trong 12 giờ đầu. Nếu
uống, phần tetracycline không được hấp thu sẽ thải trừ qua đường tiêu hóa (theo
phân) dưới dạng còn hoạt lực. Có khoảng 500 - 600 g tetracycline trong 1 gam
phân. Đồng thời một lượng thuốc tiêm cũng được thải trừ qua phân do thuốc có
chu kỳ: Máu-gan-mật-thận, rồi theo phân ra ngoài [7].
1.1.2. Hormone
HM là những chất truyền tin hoá học, tuần hoàn, phát huy theo phương
pháp điều khiển xuôi ngược. HM được sinh ra từ các tuyến nội tiết của loài động
vật có xương sống, được tiết trực tiếp vào mạch máu, dịch cơ thể và chuyển đến
các tế bào đích [40].
Có nhiều loại HM khác nhau, dựa vào cơ chế tác dụng người ta phân loại
HM thành 2 nhóm: nhóm HM có cấu trúc protide và nhóm HM có cấu trúc
steroid. Nhóm HM cấu trúc protid có phân tử lượng khoảng 10.000 kD, không
thể thâm nhập được vào trong tế bào như hormon của tuyến giáp, hormon của
tủy thượng thận (adrenalin và noradrenalin). Nhóm HM cấu trúc steroid có phân
tử nhỏ khoảng 300 kD, thấm qua được màng tế bào thu nhận bằng quá trình vận
chuyển tích cực, là những hormon có cấu trúc hoá học giống cholesterol và hầu
hết được tổng hợp từ cholesterol như hormon vỏ thượng thận, tinh hoàn, buồng
trứng và rau thai.
1.1.2.1. Các hợp chất beta-agonist:
Các hợp chất beta-agonist là các dẫn xuất tổng hợp của adrenaline. Trước
triển cơ bắp, làm tăng lượng thịt nạc và đẩy nhanh việc phân giải mỡ, giảm tối
đa lượng mỡ hình thành trong cơ thể, chỉ để lại một lớp rất mỏng. Những con
lợn được trộn TĂ có chứa clenbuterol sẽ có tỷ lệ thịt nạc nhiều hơn thịt mỡ.
Clenbuterol có tác dụng đẩy nhanh quá trình đốt cháy mỡ, tăng cường phát triển
cơ bắp nhưng dùng quá liều sẽ khiến cơ thể vật nuôi mang bệnh và có thể dẫn
đến tử vong.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
8
Trong thú y, clenbuterol được sử dụng để điều trị các căn bệnh dị ứng
đường hô hấp. Thuốc được thải trừ qua đường tiểu và qua phân nhưng trong thời
gian rất dài [21].
Việc ăn phải thịt lợn chứa chất clenbuterol về lâu dài có thể gây biến
chứng ung thư, ngộ độc cấp, run cơ, đau tim, tim đập nhanh, tăng huyết áp,
choáng váng… Clenbuterol sẽ gây tổn hại cho hệ thần kinh, hệ tuần hoàn, thậm
chí gây chết người. Người tiêu thụ gan động vật sử dụng TĂ chứa clenbuterol có
biểu hiện run rẩy, tim đập nhanh, đau đầu, chóng mặt và buồn nôn. Dư lượng của
clenbuterol tồn tại trong võng mạc mắt và trong tóc lâu tới vài tháng [21].
1.1.2.2. Cơ chế tác dụng chủ yếu của hormon
Tuỳ theo bản chất hoá học của HM mà vị trí gắn của HM với receptor sẽ
xảy ra ở trên màng, trong bào tương hoặc trong nhân. Do đó chúng sẽ có những
cơ chế tác động khác nhau trên tế bào đích. Cơ chế tác dụng của HM lên tế bào
đích chủ yếu theo hai con đường: Tác dụng lên sự hình thành AMP vòng và tác
dụng lên quá trình tổng hợp protein.
Các HM dạng peptid là những HM có trọng lượng phân tử lớn, không hòa
tan trong mỡ, không qua được màng tế bào, được tiếp nhận vào tế bào bởi
nguyên nhân dẫn đến tồn dư KS, HM trong thịt như phương thức nuôi (nuôi
nhốt có số mẫu tồn dư nhiều hơn nuôi chăn thả), quy mô nuôi (nuôi công nghiệp
sử dụng KS ít hơn nuôi hộ gia đình) và ý thức của người chăn nuôi [9], [22].
Theo Dương Thanh Liêm (2007), ngành chăn nuôi nước ta đang sử dụng
một lượng KS khá lớn. Điều đáng nói là phần lớn lượng KS này không phải để
điều trị bệnh cho vật nuôi mà là để phòng bệnh, tức là trộn vào TĂ chăn nuôi
với mục đích phòng bệnh cho vật nuôi. Sử dụng thường xuyên KS trong TĂ sẽ
làm phá vỡ cân bằng tự nhiên của hệ vi sinh vật trong đường ruột của gia súc,
gia cầm. KS không những tiêu diệt vi khuẩn có hại mà còn giết chết cả các
chủng vi sinh vật có lợi [15].
Nhu cầu về sử dụng KS và HM trong chăn nuôi động vật là rất lớn. KS
được sử dụng làm chất kích thích sinh trưởng khi dùng với liều lượng thấp 2,5 50 ppm. Người ta sử dụng vì mục đích thâm canh trong chăn nuôi như kiểm soát
tác nhân lây nhiễm, làm tăng năng suất của vật nuôi đã được chứng minh là có
hiệu quả. Peter. H. and Heritage, J (2008) cho rằng các chất KS sử dụng với mục
đích kích thích sinh trưởng được dùng để “giúp gia súc non tiêu hóa TĂ hiệu
quả hơn, thu lợi tối đa và cho phép sản xuất ra những cá thể khỏe mạnh”, do KS
có khả năng kiểm soát quần thể vi khuẩn nhạy cảm trong đường ruột của vật
nuôi. Năng lượng khẩu phần ăn của lợn mất hơn 6% do hoạt động lên men của
vi khuẩn trong đường ruột, do đó nếu kiểm soát quần thể vi khuẩn trong đường
ruột tốt hơn thì có thể biến phần năng lượng mất đi thành năng lượng sinh
trưởng của vật nuôi. Thomke và Elwinger đưa ra giả thuyết: Các cytokin phóng
thích ra trong quá trình phản ứng miễn dịch cũng có thể kích thích sự phóng
thích các HM dị hóa, dẫn đến làm giảm mô cơ. Do đó, việc làm giảm các nguồn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
10
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
11
1.2.2. Tác hại của việc tồn dư kháng sinh, hormone.
1.2.2.1. Kháng kháng sinh
Khi con người sử dụng thịt có tồn dư KS sẽ gây ảnh hưởng về lâu dài. Đó
là tạo ra những vi sinh vật kháng thuốc [36]. Như chúng ta đã biết, các KS và
các tác nhân kháng khuẩn là những thuốc thiết yếu đối với việc điều trị các bệnh
nhiễm vi khuẩn trên người và trên gia súc. Khi sử dụng các chất có hoạt tính
kháng khuẩn kéo dài có thể gây ra sự kháng thuốc chọn lọc đối với từng loại vi
sinh vật gây bệnh cơ hội [47].
Mỗi vật nuôi và mỗi con người trong chúng ta đều là vật chủ của hàng triệu vi
khuẩn với rất nhiều loài khác nhau. Một số loài có ích, thậm chí sự cộng sinh của
chúng là rất cần thiết, ngược lại một số loài là tác nhân gây bệnh. Nếu KS luôn được
sử dụng với liều không đủ để giết chết vi khuẩn thì chính những vi khuẩn ấy sẽ trở
nên kháng thuốc. Sự kháng KS ở vi khuẩn diễn ra theo nhiều cách khác nhau như vô
hoạt KS (vi khuẩn kháng penicillin và chloramphenicol), loại bỏ KS và vận chuyển
chúng ra khỏi tế bào (vi khuẩn kháng tetracyclin), thay đổi điểm tác động của KS
theo chiều hướng không có hại đối với vi khuẩn . . .[15].
Việc sử dụng KS liều thấp trong chăn nuôi (sử dụng không đúng cách
trong điều trị, phòng bệnh và dùng trong TĂ chăn nuôi như chất kích thích sinh
trưởng) đã dẫn đến một hậu quả rất nghiêm trọng là làm tăng hiện tượng kháng
KS của các loài vi khuẩn gây bệnh trên người và vật nuôi.
Khả năng kháng KS của vi khuẩn có được nhờ sự hình thành một nhân tố
di truyền độc lập gọi là plasmid trong chuỗi ADN khi chúng tồn tại trong môi
trường có KS ở liều không đủ để tổn hại đến chúng và các vi khuẩn kháng KS
năm 1972 - 1980 ở Cộng hoà liên bang Đức mang các plasmide kháng KS.
Những vi khuẩn có chứa các plasmid kháng KS khi xuất hiện ở người và động
vật, do có sự đột biến diễn ra trên đoạn gen Gyr A và Gyr B trong cấu trúc của
phân tử ADN tạo nên sự kháng lại KS quinolone [35]. Việc sử dụng KS liều
thấp trong chăn nuôi đã biến vật nuôi thành nơi để một số loại vi khuẩn học cách
vô hiệu hóa tác dụng của KS [15].
Trước năm 1995, ở Đan Mạch và một số nước Châu Âu, avoparcin được
sử dụng rất rộng rãi đã dẫn đến hiện tượng kháng vancomycin ở vi khuẩn. Khi
phát hiện ra hiện tượng này, năm 1995 Đan Mạch, 1996 Đức và năm 1997 tất cả
các nước EU đã cấm sử dụng avoparcin như chất kích thích sinh trưởng trong
TĂ chăn nuôi [37].
Theo Berends. B và cộng sự (2001), khi đánh giá mối nguy hiểm của việc
quản lý KS trên động vật giết mổ đối với sức khoẻ của người tiêu dùng tại Hà
Lan cho thấy: Nguy cơ gây hại của dư lượng TC trong thịt lợn giết mổ gây nên
phản ứng dị ứng trên người tiêu dùng là 1/33.000.000 và các rối loạn của vi
khuẩn đường ruột là 1/45.000.000 (được ước tính ngẫu nhiên tối đa). Khi so
sánh giữa hai nguy cơ gây hại trên đối với sức khoẻ của con người, ông đã kết
luận rằng: Nguy cơ của dư lượng TC gây rối loạn vi khuẩn được ưu tiên chú
trọng [39].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
13
Nhìn lại y học trong mấy chục năm qua, chúng ta sẽ thấy thời gian để vi
khuẩn kháng một loại KS mới càng ngày càng ngắn lại. Chẳng hạn với vi khuẩn tụ
cầu vàng Staphylococcus aureus. Năm 1952, nhiều bệnh nhiễm vi khuẩn
Staphylococcus aureus đã bị đẩy lùi bởi KS penicillin. Đến những năm 1960,
http://www.lrc.tnu.edu.vn
14
vật. Những nghiên cứu thực nghiệm khác tiến hành trên chuột cũng cho thấy
diethylstibestrol gây ung thư. Những nghiên cứu trên người của một số tác giả
cũng cho thấy thịt được sản xuất có chứa chất diethylstibestrol có liên quan đến
một số bệnh ung thư trên người. Cụ thể, nghiên cứu trên những người mẹ được
điều trị bằng HM này trong thời gian có thai dẫn đến nguy cơ ung thư cơ quan
sinh dục bé gái với tỷ lệ rất cao. Những bằng chứng gây ung thư do trong sản
phẩm đồ hộp có chứa diethylstibestrol đã gây ung thư tại Italia. Những nghiên
cứu khác, khi ăn loại thịt có tồn dư diethylstibestrol, làm cho những bé gái dậy
thì sớm và dễ dẫn đến ung thư vú và các dạng ung thư khác. Qua nghiên cứu
thấy có tỷ lệ nhỏ phụ nữ dùng bổ sung estrogen sau đó có phát triển ung thư vú
hoặc ung thư dạ con, như vậy estradiol có thể là một trong nhiều nhân tố phát
triển ung thư. Để kiểm chứng những giả thuyết trên, cơ quan nghiên cứu Quốc tế
về ung thư đã có nghiên cứu từ những số liệu thực nghiệm và dịch tễ học cũng
kết luận estradiol là chất gây ung thư ở người. Do vậy, ngày nay đã cấm sử dụng
loại HM này cho dù dưới bất kỳ hình thức nào [10], [49].
Tại Mỹ những chất kích tố trên được sử dụng hợp pháp cho đến năm
1979. Sau đó người ta phát hiện thịt sản xuất có chất diethylstibestrol có liên
quan đến một số bệnh ung thư trên người. Nguy cơ ung thư cơ quan sinh dục
người con gái của những người mẹ được điều trị HM này trong thời gian có
chửa rất cao [49].
1.2.2.4. Tác động gây ngộ độc cấp tính
Trong một nghiên cứu sử dụng thuốc β-agonist bất hợp pháp tại Mỹ đã
gây ra triệu chứng của ngộ độc cấp tính trên người sau khi ăn phải gan, kể cả thịt
có clenbuterol, một dạng β-agonist, nhưng không có ca nào tử vong [32].
như gây nên phản ứng quá mẫn cảm với những người nhạy cảm KS, gây dị ứng
lâu dài khó xác định và chữa trị. Berends B (2001), cho thấy số người tiêu dùng
ăn thịt lợn còn tồn dư KS có tỷ lệ nhạy cảm với penicilline từ 10-70% do trước
đó có điều trị với thuốc này [39].
1.2.2.7. Tác động đến môi trường
KS vào cơ thể vật nuôi thông qua TĂ hoặc bằng các con đường khác
đều được thải ra môi trường. Ảnh hưởng của việc thải KS đến môi trường thể
hiện ở các khía cạnh sau:
+ Phá vỡ hệ sinh thái vi sinh vật đất
Quần thể vi sinh vật đất có ý nghĩa rất quan trọng trong các chu trình
chuyển hoá vật chất trong đất và cải thiện độ phì nhiêu của đất. KS dù bằng con
đường nào được thải ra môi trường đều phá vỡ sự cân bằng sinh thái hệ vi sinh
vật và ảnh hưởng đến độ phì của đất, tăng ô nhiễm môi trường [40].
+ Sự tồn tại và luân chuyển của nguồn gen kháng KS trong môi trường
Phân của vật nuôi được nuôi dưỡng bằng các loại TĂ có KS không chỉ gồm
các cặn bã của quá trình tiêu hóa hấp thu mà còn chứa rất nhiều loài vi sinh vật, trong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
http://www.lrc.tnu.edu.vn
16
đó có nhiều loài vi khuẩn đã có khả năng kháng một hoặc một vài loại KS, chính
chúng là vật mang và luân chuyển các gen kháng KS trong môi trường.
Sử dụng HM cho động vật cũng gây tác hại đến môi trường nước. Phân của
các loại gia súc còn dư lượng HM được thải ra môi trường đất và nước đã làm cho
hệ sinh thái nước bị thay đổi, gây nên rối loạn sinh sản của cá [14], [ 43].
Tóm lại sử du ̣ng KS thường xuyên trong thức ăn để phòng bệnh sẽ làm tồn
dư KS trong sản phẩm chăn nuôi như thit,̣ trứng, sữa. Qua đó sẽ có ảnh hưởng xấu
2
Oxytetracyline
TĂ cho gà, TĂ cho lợn
50
3
Tetracyline
TĂ cho gà, TĂ cho lợn
50
4
Ractopamine
TĂ cho gà, TĂ cho lợn
Không phát hiện
5
Clenbuterol
TĂ cho gà, TĂ cho lợn