Nghiên cứu hàm lượng các chất kháng sinh, hormone trong thức ăn chăn nuôi và dư lượng của chúng trong thịt trên địa bàn tỉnh thái nguyên - Pdf 31

i

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

NGUYỄN THỊ DUYÊN

NGHIÊN CỨU HÀM LƢỢNG CÁC CHẤT KHÁNG SINH,
HORMONE TRONG THỨC ĂN CHĂN NUÔI VÀ DƢ LƢỢNG CỦA
CHÚNG TRONG THỊT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG NGHỆ SINH HỌC

THÁI NGUYÊN - NĂM 2015

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

/>

ii

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

NGUYỄN THỊ DUYÊN

NGHIÊN CỨU HÀM LƢỢNG CÁC CHẤT KHÁNG SINH,
HORMONE TRONG THỨC ĂN CHĂN NUÔI VÀ DƢ LƢỢNG CỦA
CHÚNG TRONG THỊT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo PGS.TS Lƣơng Thị Hồng Vân đã
tận tình chỉ bảo và hƣớng dẫn tôi trong suốt quá trình triển khai, nghiên cứu và hoàn thành
luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các Thầy Cô giáo – Các nhà khoa học đã
trực tiếp giảng dạy truyền đạt những kinh nghiệm, kiến thức khoa học quý báu.
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy cô, đồng nghiệp và bạn bè đã tận tình giúp
đỡ, tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận văn này. Tôi luôn trân trọng và biết ơn sự
giúp đỡ hết mình đó.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô và các cán bộ của cơ sở đào tạo thuộc
Trƣờng Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên. Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình
và bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Duyên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

/>

v

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ...................................................................................................... iv
MỤC LỤC ............................................................................................................. v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT .................................................................... vii
DANH MỤC CÁC BẢNG................................................................................. viii
DANH MỤC CÁC HÌNH .................................................................................... ix

2.3.2. Phƣơng pháp thu thập số liệu ................................................................... 27
2.3.3. Hóa chất..................................................................................................... 29
2.3.4. Thiết bị ...................................................................................................... 30
2.3.5. Kỹ thuật phân tích ..................................................................................... 30
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ................................ 34
3.1. Thực trạng sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi và sự tồn lƣu của
chúng trong thịt ................................................................................................... 34
3.1.1. Thực trạng sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi .......................... 34
3.1.2. Thực trạng tồn dƣ kháng sinh trong thịt.................................................... 42
3.2. Thực trạng sử dụng hormone trong thức ăn và sự tồn lƣu của chúng trong
thịt ........................................................................................................................ 48
3.2.1. Thực trạng sử dụng hormone trong thức ăn chăn nuôi ............................. 48
3.3. Mối tƣơng quan giữa hàm lƣợng kháng sinh, hormone trong thức ăn chăn
nuôi và sự tồn lƣu của chúng trong thịt............................................................... 53
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ................................................................................. 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 57

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

/>

vii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BNNPTNT

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

CTC


Detection Limit – giới hạn phát hiện

LOQ

Limit of quantitation- giới hạn định lƣợng

OTC

Oxytetracyline

SD

Standard deviation – độ lệch chuẩn



Thức ăn

TC

Tetracyline

TCCP

Tiêu chuẩn cho phép

TCVN

Tiêu chuẩn Việt Nam


Bảng 1.2: Giới hạn cho phép của kháng sinh, hormone trong thịt.

17

Bảng 3.1: Thực trạng sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi

35

Bảng 3.2: Thực trạng sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi ở
từng vùng nghiên cứu

36

Bảng 3.3: Thực trạng sử dụng từng loại kháng sinh trong thức ăn chăn
nuôi

37

Bảng 3.4: Thực trạng sử dụng từng loại kháng sinh trong thức ăn chăn
nuôi ở các vùng nghiên cứu

38

Bảng 3.5: So sánh hàm lƣợng kháng sinh trong thức ăn với tiêu chuẩn
cho phép

40

Bảng 3.6: Thực trạng tồn dƣ kháng sinh trong thịt


Bảng 3.13: Thực trạng tồn dƣ hormone trong thịt

50

Bảng 3.14: Hàm lƣợng tồn dƣ hormone trong thịt theo tiêu chuẩn cho
phép

51

Bảng 3.15: Bảng tổng hợp hệ số tƣơng quan giữa hàm lƣợng từng loại
kháng sinh và hormone trong các mẫu phân tích

52

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

/>

ix

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình

Tên hình

Trang

Hình 1.1:



Sắc ký đồ phân tích kháng sáng sinh nhóm tetracycline trong
mẫu thức ăn

34

Hình 3.3:

Sắc ký đồ phân tích kháng sáng sinh nhóm tetracycline trong
mẫu thức ăn

34

Hình 3.4:

Biểu đồ thực trạng sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi

35

Hình 3.5:

Biểu đồ thực trạng sử dụng kháng sinh ở từng vùng nghiên cứu

36

Hình 3.6:

Biểu đồ thực trạng sử dụng từng loại kháng sinh trong thức ăn
chăn nuôi


43

Hình 3.12: Biểu đồ biểu diễn thực trạng tồn dƣ từng loại kháng sinh trong
thịt ở từng vùng nghiên cứu

45

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

/>

x

Hình 3.13: Biểu đồ so sánh hàm lƣợng tồn dƣ kháng sinh trong thịt với
tiêu chuẩn cho phép

46

Hình 3.14: Sắc ký đồ mẫu chuẩn

48

Hình 3.15: Sắc ký đồ mẫu phân tích

48

Hình 3.16: Biểu đồ thực trạng sử dụng hormone trong thức ăn chăn nuôi

49



2

HM trong thịt hiện nay là nguy cơ tiềm ẩn đe dọa đến sức khoẻ ngƣời tiêu dùng.
Ngƣời ăn phải TĂ có KS, HM thƣờng xuyên sẽ có nguy cơ bị nhờn thuốc, khi bị
bệnh khó chữa trị do KS tích tụ trong cơ thể gây nên hiện tƣợng vi khuẩn thích
ứng với KS. Đồng thời sự tích luỹ KS trong cơ thể còn gây một số chứng bệnh
nhƣ suy thận, viêm dây thần kinh ngoại biên, gây sảy thai, biến dạng thai, thai
chết lƣu, gây ảnh hƣởng đến qua trình tạo xƣơng và tạo men răng…
Để giải quết vấn đề sử dụng KS và HM trong chăn nuôi, tháng 4/2002
Thủ tƣớng Chính phủ có công lệnh yêu cầu các Bộ Thuỷ sản, Bộ Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn (BNNPTNT) tăng cƣờng quản lý thuốc KS trong chăn
nuôi. Tháng 6/2006 BNNPTNT có chỉ thị về tăng cƣờng kiểm tra HM tăng
truởng trong chăn nuôi. Nhƣng để tìm đƣợc giải pháp đối với sự tồn dƣ KS và
HM trong thực phẩm là rất khó khăn bởi ngành chăn nuôi trong nƣớc ta còn
manh mún, nhỏ lẻ, việc giết mổ phần lớn đƣợc thu gom từ nhiều nơi về lò mổ,
vệ sinh chƣa đƣợc đảm bảo, chƣa đƣợc kiểm tra chặt chẽ, mặt khác chi phí phân
tích dƣ lƣợng KS và HM rất tốn kém.
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi- trung du, có số hộ gia đình và các
trang trại chăn nuôi khá lớn, trong đó chăn nuôi lợn đã cung cấp phần lớn thực
phẩm cho ngƣời dân thành phố Thái Nguyên. Cho tới nay, các nghiên cứu về
vấn đề thực phẩm có nguồn gốc động vật còn dƣ lƣợng kháng sinh, hormone
quá giới hạn cho phép trong thực phẩm nói chung và trong thịt lợn, thịt gà nói
riêng vẫn còn là khiêm tốn. Để làm sáng tỏ thêm vấn đề này ở địa bàn Tỉnh Thái
Nguyên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu hàm lượng các chất
kháng sinh, hormone trong thức ăn chăn nuôi và dư lượng của chúng trong thịt
trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên”
2. Mục tiêu của đề tài
- Xác định đƣợc hàm lƣợng kháng sinh, hormone trong thức ăn chăn nuôi và sự
tồn lƣu của chúng trong thịt một số loại gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh Thái

/>

4

Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Khái quát về kháng sinh và hormone
1.1.1. Kháng sinh
Theo F. Souney và cộng sự (1997), thuốc KS là những chất hữu cơ có
cấu tạo hoá học phức tạp, phần lớn do vi khuẩn, nấm và xạ khuẩn sản sinh ra.
KS có tác dụng (cả invitro và invivo) diệt các vi sinh vật gây bệnh, hoặc chỉ
ngăn cản sự phát triển của vi sinh vật đó [48].
Vào những năm của thập niên 90 ngƣời ta phân loại KS dựa vào mục đích
nghiên cứu và cách sử dụng thuốc nhƣ phổ tác dụng, cơ chế và mức độ tác dụng.
Ngày nay, thƣờng phân loại KS căn cứ vào nguồn gốc tổng hợp. Thuốc KS đƣợc
chia thành những nhóm khác nhau: Nhóm - lacta (gồm penicilline và
cephalosporin); nhóm aminozid - AG; nhóm macrolid; nhóm lincosamid; nhóm
chloramphenicol; nhóm tetracycline; nhóm diệt nấm; nhóm KS đa peptid; nhóm
thuốc hóa trị liệu có cơ chế tác dụng nhƣ KS [33]. Dựa vào cơ chế tác dụng,
ngƣời ta nhận thấy nhóm tetracycline là một nhóm KS có phổ tác dụng rộng do
vậy hiện nay trong thú y thƣờng đƣợc sử dụng rộng rãi trong điều trị và phòng
bệnh cho gia súc, gia cầm [33].
1.1.1.1. Kháng sinh nhóm tetracycline
KS tetracyline đƣợc phân lập từ nhiều loại nấm Steptomyces khác nhau
vào những năm 1940 và những năm đầu 1950. Kể từ đó nhiều dẫn xuất bán tổng
hợp đƣợc sản xuất từ phân tử tetracyline tạo ra các tetracyline khác nhau có
dƣợc động học và tính kháng khuẩn khác nhau [1], [7]. Chất đầu tiên là
chlotetracyline (aureomycin) do Durgga phân lập đƣợc từ năm 1948 từ môi
trƣờng nuôi cấy Steptomyces aureofaciens. Sau đó, năm 1950 Finlay đã phân lập
oxytetracyline (tetramycin) từ Steptomyces rimosus và năm 1952 mới tìm ra chất

trong các tế bào lƣới nội mô của gan, lách và xƣơng sƣờn, gắn chặt vào xƣơng
và men răng [13]. Thuốc có ái lực với các mô đang trƣởng thành, chuyển hoá
nhanh, tan mạnh trong lipid, dễ thấm vào cơ, cơ tử cung, tiền liệt, thận.
Thải trừ: Các KS đào thải qua thận thƣờng tập trung trong nƣớc tiểu bàng
quang với nồng độ cao hơn nồng độ huyết thanh. Phần lớn tetracycline đƣợc thải
trừ qua nƣớc tiểu. Sự lọc thải của thuốc phụ thuộc vào công năng của thận. Nếu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

/>

6

dùng theo đƣờng tiêm có khoảng 20 - 60% lƣợng thuốc đƣợc thải qua thận sau
24 giờ đầu, khoảng 20 - 50% liều uống cũng thải qua đƣờng nƣớc tiểu. Trong đó
có khoảng 10 - 35% lƣợng oxytetracycline đƣợc thải trừ qua nƣớc tiểu dƣới
dạng còn hoạt tính sau khi dùng thuốc 1/2 giờ đến 5 giờ, chlotetracycline nếu
uống chỉ khoảng 10 - 15% lƣợng thuốc đƣợc tìm thấy trong nƣớc tiểu. Sự thải
chlotetracycline qua thận chỉ khoảng 35% thấp hơn oxytetracycline. Nếu tiêm
tĩnh mạch, 60% lƣợng thuốc đƣợc thải qua nƣớc tiểu trong 12 giờ đầu. Nếu
uống, phần tetracycline không đƣợc hấp thu sẽ thải trừ qua đƣờng tiêu hóa (theo
phân) dƣới dạng còn hoạt lực. Có khoảng 500 - 600 g tetracycline trong 1 gam
phân. Đồng thời một lƣợng thuốc tiêm cũng đƣợc thải trừ qua phân do thuốc có
chu kỳ: Máu-gan-mật-thận, rồi theo phân ra ngoài [7].
1.1.2. Hormone
HM là những chất truyền tin hoá học, tuần hoàn, phát huy theo phƣơng
pháp điều khiển xuôi ngƣợc. HM đƣợc sinh ra từ các tuyến nội tiết của loài động
vật có xƣơng sống, đƣợc tiết trực tiếp vào mạch máu, dịch cơ thể và chuyển đến
các tế bào đích [40].
Có nhiều loại HM khác nhau, dựa vào cơ chế tác dụng ngƣời ta phân loại
HM thành 2 nhóm: nhóm HM có cấu trúc protide và nhóm HM có cấu trúc

béo giai đoạn cuối - khoảng sau 50 kg, chỉ cần 18,5 gam ractopamine thêm vào
trong 1 tấn TĂ (20 mg/kg) sẽ làm tăng protein lên 24% và giảm mỡ xuống 34%
[49].
Hormone clenbuterol

Hình 1.3. Công thức cấu tạo của phân tử Clenbuterol
Clenbuterol là chất độc, chất giúp tăng trọng gia súc, là loại chất kích
thích tuyến thƣợng thận, điều tiết sinh trƣởng động vật, thúc đẩy quá trình phát
triển cơ bắp, làm tăng lƣợng thịt nạc và đẩy nhanh việc phân giải mỡ, giảm tối
đa lƣợng mỡ hình thành trong cơ thể, chỉ để lại một lớp rất mỏng. Những con
lợn đƣợc trộn TĂ có chứa clenbuterol sẽ có tỷ lệ thịt nạc nhiều hơn thịt mỡ.
Clenbuterol có tác dụng đẩy nhanh quá trình đốt cháy mỡ, tăng cƣờng phát triển
cơ bắp nhƣng dùng quá liều sẽ khiến cơ thể vật nuôi mang bệnh và có thể dẫn
đến tử vong.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

/>

8

Trong thú y, clenbuterol đƣợc sử dụng để điều trị các căn bệnh dị ứng
đƣờng hô hấp. Thuốc đƣợc thải trừ qua đƣờng tiểu và qua phân nhƣng trong thời
gian rất dài [21].
Việc ăn phải thịt lợn chứa chất clenbuterol về lâu dài có thể gây biến
chứng ung thƣ, ngộ độc cấp, run cơ, đau tim, tim đập nhanh, tăng huyết áp,
choáng váng… Clenbuterol sẽ gây tổn hại cho hệ thần kinh, hệ tuần hoàn, thậm
chí gây chết ngƣời. Ngƣời tiêu thụ gan động vật sử dụng TĂ chứa clenbuterol có
biểu hiện run rẩy, tim đập nhanh, đau đầu, chóng mặt và buồn nôn. Dƣ lƣợng của
clenbuterol tồn tại trong võng mạc mắt và trong tóc lâu tới vài tháng [21].
1.1.2.2. Cơ chế tác dụng chủ yếu của hormon

hƣởng đến quá trình trao đổi chất, gây ngộ độc nguy hiểm đến tính mạng [18].
Hiện nay ngành chăn nuôi đang sử dụng rất nhiều loại KS để phòng và trị
bệnh cho gia súc, gia cầm trong đó có KS nhóm tetracycline. Đây là loại KS phổ
rộng, hiện đang đƣợc dùng nhiều trong chăn nuôi nhằm phòng và trị bệnh tiêu
chảy và bệnh về đƣờng hô hấp cho gia súc gia cầm.
Theo Nguyễn Duy Hoan (2009), Vi Thị Thanh Thủy (2011), có nhiều
nguyên nhân dẫn đến tồn dƣ KS, HM trong thịt nhƣ phƣơng thức nuôi (nuôi
nhốt có số mẫu tồn dƣ nhiều hơn nuôi chăn thả), quy mô nuôi (nuôi công nghiệp
sử dụng KS ít hơn nuôi hộ gia đình) và ý thức của ngƣời chăn nuôi [9], [22].
Theo Dƣơng Thanh Liêm (2007), ngành chăn nuôi nƣớc ta đang sử dụng
một lƣợng KS khá lớn. Điều đáng nói là phần lớn lƣợng KS này không phải để
điều trị bệnh cho vật nuôi mà là để phòng bệnh, tức là trộn vào TĂ chăn nuôi
với mục đích phòng bệnh cho vật nuôi. Sử dụng thƣờng xuyên KS trong TĂ sẽ
làm phá vỡ cân bằng tự nhiên của hệ vi sinh vật trong đƣờng ruột của gia súc,
gia cầm. KS không những tiêu diệt vi khuẩn có hại mà còn giết chết cả các
chủng vi sinh vật có lợi [15].
Nhu cầu về sử dụng KS và HM trong chăn nuôi động vật là rất lớn. KS
đƣợc sử dụng làm chất kích thích sinh trƣởng khi dùng với liều lƣợng thấp 2,5 50 ppm. Ngƣời ta sử dụng vì mục đích thâm canh trong chăn nuôi nhƣ kiểm soát
tác nhân lây nhiễm, làm tăng năng suất của vật nuôi đã đƣợc chứng minh là có
hiệu quả. Peter. H. and Heritage, J (2008) cho rằng các chất KS sử dụng với mục
đích kích thích sinh trƣởng đƣợc dùng để “giúp gia súc non tiêu hóa TĂ hiệu
quả hơn, thu lợi tối đa và cho phép sản xuất ra những cá thể khỏe mạnh”, do KS
có khả năng kiểm soát quần thể vi khuẩn nhạy cảm trong đƣờng ruột của vật
nuôi. Năng lƣợng khẩu phần ăn của lợn mất hơn 6% do hoạt động lên men của
vi khuẩn trong đƣờng ruột, do đó nếu kiểm soát quần thể vi khuẩn trong đƣờng
ruột tốt hơn thì có thể biến phần năng lƣợng mất đi thành năng lƣợng sinh
trƣởng của vật nuôi. Thomke và Elwinger đƣa ra giả thuyết: Các cytokin phóng
thích ra trong quá trình phản ứng miễn dịch cũng có thể kích thích sự phóng
thích các HM dị hóa, dẫn đến làm giảm mô cơ. Do đó, việc làm giảm các nguồn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

lƣợng đào thải là 73%, sau 4 ngày đào thải 93% và sau 14 ngày thì bằng các
phân tích sắc ký cũng không còn phát hiện ra. Chính vì vậy nên các nƣớc chấp
nhận cho sử dụng ractopamine đều có quy trình cách ly, trƣớc khi giết mổ 14
ngày tuyệt đối không đƣợc sử dụng ractopamine [50].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

/>

11

1.2.2. Tác hại của việc tồn dư kháng sinh, hormone.
1.2.2.1. Kháng kháng sinh
Khi con ngƣời sử dụng thịt có tồn dƣ KS sẽ gây ảnh hƣởng về lâu dài. Đó
là tạo ra những vi sinh vật kháng thuốc [36]. Nhƣ chúng ta đã biết, các KS và
các tác nhân kháng khuẩn là những thuốc thiết yếu đối với việc điều trị các bệnh
nhiễm vi khuẩn trên ngƣời và trên gia súc. Khi sử dụng các chất có hoạt tính
kháng khuẩn kéo dài có thể gây ra sự kháng thuốc chọn lọc đối với từng loại vi
sinh vật gây bệnh cơ hội [47].
Mỗi vật nuôi và mỗi con ngƣời trong chúng ta đều là vật chủ của hàng triệu vi
khuẩn với rất nhiều loài khác nhau. Một số loài có ích, thậm chí sự cộng sinh của
chúng là rất cần thiết, ngƣợc lại một số loài là tác nhân gây bệnh. Nếu KS luôn đƣợc
sử dụng với liều không đủ để giết chết vi khuẩn thì chính những vi khuẩn ấy sẽ trở
nên kháng thuốc. Sự kháng KS ở vi khuẩn diễn ra theo nhiều cách khác nhau nhƣ vô
hoạt KS (vi khuẩn kháng penicillin và chloramphenicol), loại bỏ KS và vận chuyển
chúng ra khỏi tế bào (vi khuẩn kháng tetracyclin), thay đổi điểm tác động của KS
theo chiều hƣớng không có hại đối với vi khuẩn . . .[15].
Việc sử dụng KS liều thấp trong chăn nuôi (sử dụng không đúng cách
trong điều trị, phòng bệnh và dùng trong TĂ chăn nuôi nhƣ chất kích thích sinh
trƣởng) đã dẫn đến một hậu quả rất nghiêm trọng là làm tăng hiện tƣợng kháng

Kháng KS sẽ làm giảm sự đáp ứng miễn dịch của cơ thể vật nuôi, tạo ra
con giống yếu ớt, không sống đƣợc khi không có KS. Ngƣời ta đã tìm thấy nhiều
chủng vi khuẩn đƣờng ruột cũng nhƣ Salmonella typhimurium phân lập đƣợc từ
năm 1972 - 1980 ở Cộng hoà liên bang Đức mang các plasmide kháng KS.
Những vi khuẩn có chứa các plasmid kháng KS khi xuất hiện ở ngƣời và động
vật, do có sự đột biến diễn ra trên đoạn gen Gyr A và Gyr B trong cấu trúc của
phân tử ADN tạo nên sự kháng lại KS quinolone [35]. Việc sử dụng KS liều
thấp trong chăn nuôi đã biến vật nuôi thành nơi để một số loại vi khuẩn học cách
vô hiệu hóa tác dụng của KS [15].
Trƣớc năm 1995, ở Đan Mạch và một số nƣớc Châu Âu, avoparcin đƣợc
sử dụng rất rộng rãi đã dẫn đến hiện tƣợng kháng vancomycin ở vi khuẩn. Khi
phát hiện ra hiện tƣợng này, năm 1995 Đan Mạch, 1996 Đức và năm 1997 tất cả
các nƣớc EU đã cấm sử dụng avoparcin nhƣ chất kích thích sinh trƣởng trong
TĂ chăn nuôi [37].
Theo Berends. B và cộng sự (2001), khi đánh giá mối nguy hiểm của việc
quản lý KS trên động vật giết mổ đối với sức khoẻ của ngƣời tiêu dùng tại Hà
Lan cho thấy: Nguy cơ gây hại của dƣ lƣợng TC trong thịt lợn giết mổ gây nên
phản ứng dị ứng trên ngƣời tiêu dùng là 1/33.000.000 và các rối loạn của vi
khuẩn đƣờng ruột là 1/45.000.000 (đƣợc ƣớc tính ngẫu nhiên tối đa). Khi so
sánh giữa hai nguy cơ gây hại trên đối với sức khoẻ của con ngƣời, ông đã kết
luận rằng: Nguy cơ của dƣ lƣợng TC gây rối loạn vi khuẩn đƣợc ƣu tiên chú
trọng [39].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

/>

13

Nhìn lại y học trong mấy chục năm qua, chúng ta sẽ thấy thời gian để vi
khuẩn kháng một loại KS mới càng ngày càng ngắn lại. Chẳng hạn với vi khuẩn tụ


vật. Những nghiên cứu thực nghiệm khác tiến hành trên chuột cũng cho thấy
diethylstibestrol gây ung thƣ. Những nghiên cứu trên ngƣời của một số tác giả
cũng cho thấy thịt đƣợc sản xuất có chứa chất diethylstibestrol có liên quan đến
một số bệnh ung thƣ trên ngƣời. Cụ thể, nghiên cứu trên những ngƣời mẹ đƣợc
điều trị bằng HM này trong thời gian có thai dẫn đến nguy cơ ung thƣ cơ quan
sinh dục bé gái với tỷ lệ rất cao. Những bằng chứng gây ung thƣ do trong sản
phẩm đồ hộp có chứa diethylstibestrol đã gây ung thƣ tại Italia. Những nghiên
cứu khác, khi ăn loại thịt có tồn dƣ diethylstibestrol, làm cho những bé gái dậy
thì sớm và dễ dẫn đến ung thƣ vú và các dạng ung thƣ khác. Qua nghiên cứu
thấy có tỷ lệ nhỏ phụ nữ dùng bổ sung estrogen sau đó có phát triển ung thƣ vú
hoặc ung thƣ dạ con, nhƣ vậy estradiol có thể là một trong nhiều nhân tố phát
triển ung thƣ. Để kiểm chứng những giả thuyết trên, cơ quan nghiên cứu Quốc tế
về ung thƣ đã có nghiên cứu từ những số liệu thực nghiệm và dịch tễ học cũng
kết luận estradiol là chất gây ung thƣ ở ngƣời. Do vậy, ngày nay đã cấm sử dụng
loại HM này cho dù dƣới bất kỳ hình thức nào [10], [49].
Tại Mỹ những chất kích tố trên đƣợc sử dụng hợp pháp cho đến năm
1979. Sau đó ngƣời ta phát hiện thịt sản xuất có chất diethylstibestrol có liên
quan đến một số bệnh ung thƣ trên ngƣời. Nguy cơ ung thƣ cơ quan sinh dục
ngƣời con gái của những ngƣời mẹ đƣợc điều trị HM này trong thời gian có
chửa rất cao [49].
1.2.2.4. Tác động gây ngộ độc cấp tính
Trong một nghiên cứu sử dụng thuốc β-agonist bất hợp pháp tại Mỹ đã
gây ra triệu chứng của ngộ độc cấp tính trên ngƣời sau khi ăn phải gan, kể cả thịt
có clenbuterol, một dạng β-agonist, nhƣng không có ca nào tử vong [32].
Brambilla G, Cenci T, Franconi F và cộng sự (2000), nghiên cứu dƣợc lý
lâm sàng của clenbuterol gây ngộ độc ngƣời tiêu dùng ở Italia cho thấy:
Clenbuterol gây tích tụ trong gan của những con bò, gây ngộ độc 15 ngƣời sau
khi ăn thịt bò khoảng từ 0,5- 3 giờ có các triệu chứng nhƣ: Khó thở, đánh trống
ngực, đau đầu, gây tăng đƣờng huyết vừa phải và hạ kali máu, các dấu hiệu này

đều đƣợc thải ra môi trƣờng. Ảnh hƣởng của việc thải KS đến môi trƣờng thể
hiện ở các khía cạnh sau:
+ Phá vỡ hệ sinh thái vi sinh vật đất
Quần thể vi sinh vật đất có ý nghĩa rất quan trọng trong các chu trình
chuyển hoá vật chất trong đất và cải thiện độ phì nhiêu của đất. KS dù bằng con
đƣờng nào đƣợc thải ra môi trƣờng đều phá vỡ sự cân bằng sinh thái hệ vi sinh
vật và ảnh hƣởng đến độ phì của đất, tăng ô nhiễm môi trƣờng [40].
+ Sự tồn tại và luân chuyển của nguồn gen kháng KS trong môi trƣờng
Phân của vật nuôi đƣợc nuôi dƣỡng bằng các loại TĂ có KS không chỉ gồm
các cặn bã của quá trình tiêu hóa hấp thu mà còn chứa rất nhiều loài vi sinh vật, trong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

/>


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status