Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp phát triển loài tre Mai xanh (Dendrocalamus latiflorus) lấy măng ở huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái (LV thạc sĩ) - Pdf 41

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN CẢNH HIẾU

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
LOÀI TRE MAI XANH (Dendrocalamus latiflorus)
LẤY MĂNG Ở HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN CẢNH HIẾU

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
LOÀI TRE MAI XANH (Dendrocalamus latiflorus)
LẤY MĂNG Ở HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
Ngành: LÂM NGHIỆP
Mã số: 60 62 02 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN HUY SƠN


công nhân viên chức và nhân dân địa phương nơi nghiên cứu, cơ quan đơn vị nơi tôi
công tác. Đặc biệt là được sự giúp đỡ tận tình của PGS.TS. Nguyễn Huy Sơn.
Nhân dịp này cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới sự giúp
đỡ đó.
Trong quá trình thực hiện đề tài, bản thân tôi đã hết sức cố gắng nhưng do
kinh nghiệm còn hạn chế và thời gian điều tra thực địa ngắn nên luận văn không
tránh khỏi những thiếu sót và tồn tại nhất định. Tác giả rất mong nhận được ý kiến
đóng góp của thầy cô và đồng nghiệp.
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 10 năm 2015
Học viên

Nguyễn Cảnh Hiếu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




iii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ i
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................ii
MỤC LỤC ................................................................................................................. iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ........................................................................... vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU .............................................................................vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ....................................................................................... viii
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài .......................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu................................................................................................ 2

2.3. Phương pháp nghiên cứu.................................................................................... 37
2.3.1. Quan điểm và phương pháp tiếp cận .......................................................... 37
2.3.2. Phương pháp nghiên cứu chung ................................................................. 38
2.3.3. Phương pháp nghiên cứu cụ thể.................................................................. 38
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .................................. 41
3.1. Thực trạng trồng tre lấy măng ở huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái ....................... 41
3.1.1. Về chủ trương trồng tre lấy măng ở huyện Trấn Yên................................. 41
3.1.2. Thực trạng diện tích đã trồng, đặc điểm khí hậu, đất đai ........................... 43
3.1.3. Các biện pháp kỹ thuật đã áp dụng ............................................................. 45
3.1.4. Thực trạng về năng suất măng .................................................................... 49
3.2. Thực trạng khai thác, chế biến và thị trường tiêu thụ măng ở huyện Trấn
Yên ............................................................................................................................ 51
3.2.1. Thực trạng về kỹ thuật khai thác măng ...................................................... 51
3.2.2. Kỹ thuật sơ chế và chế biến măng .............................................................. 53
3.2.3. Thị trường tiêu thụ sản phẩm măng ............................................................ 55
3.3. Bước đầu đánh giá hiệu quả kinh tế của một số mô hình điển hình .................. 57
3.3.1. Đặc điểm mô hình ....................................................................................... 57
3.3.2. Năng suất măng hiện tại và một vài năm gần đây ...................................... 59
3.3.3. Suất đầu tư ban đầu và chi phí chăm sóc cho năm thứ hai và năm
thứ ba cho 01 ha tre Mai xanh ................................................................................... 60
3.3.4. Hiệu quả kinh tế của mô hình ..................................................................... 61
3.4. Ảnh hưởng của các chính sách và chủ trương đến sự phát triển tre Mai
xanh lấy măng tại huyện Trấn Yên ........................................................................... 64
3.4.1. Ảnh hưởng của chính sách giao đất, khoán rừng ....................................... 64
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




v

: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

TNHH

: Trách nhiệm hữu hạn

RDSC

: Trung tâm dịch vụ phát triển nông thôn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




vii

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1. Tình hình sử dụng đất đai của huyện Trấn Yên qua 3 năm 2012,
2013, 2014. .............................................................................................. 31
Bảng 1.2. Thành phần dân tộc, số hộ và nhân khẩu huyện Trấn Yên....................... 32
Bảng 2.1. Cơ cấu hộ điều tra tại xã Kiên Thành, Tân Đồng và Hồng Ca ................. 39
Bảng 3.1. Phạm vi, quy mô thực hiện chương trình tre măng Mai xanh .................. 42
Bảng 3.2. Số xã và diện tích trồng tre Mai xanh lấy măng tại huyện Trấn
Yên, tỉnh Yên Bái từ năm 2003-2014 ...................................................... 43
Bảng 3.3. Số hộ tham gia trồng tre Mai xanh lấy măng tại huyện Trấn Yên,
tỉnh Yên Bái từ năm 2003-2014 .............................................................. 44
Bảng 3.4. Năng suất và sản lượng măng từ năm 2003 đến năm 2014 ...................... 50
Bảng 3.5. Tình hình tiêu thụ sản phẩm măng tre Mai xanh ...................................... 56




1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Các loài tre trúc nói chung thuộc họ phụ tre (Bambusoideae), họ hòa thảo
(Poaceae), là loại lâm sản quan trọng đứng thứ 2 sau gỗ, phân bố trong một số trạng
thái rừng tự nhiên vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, hiện nay đã được gây trồng rộng rãi
ở khá nhiều nơi. Ngày nay người ta đã thống kê được tre trúc có hơn 30 công dụng,
trong đó chủ yếu làm nguyên liệu để sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, làm
vật liệu xây dựng, chế biến giấy, sợi và làm thực phẩm. Măng tre trúc nói chung từ
lâu đã trở thành nguồn thực phẩm ưa dùng của người dân Việt Nam nhất là những
người dân miền núi. Măng là thực phẩm có hàm lượng các chất dinh dưỡng rất cao,
trong măng có đầy đủ các chất như protein, gluxit, muối khoáng, vitamin... Lượng
chất béo trong măng thấp nên rất phù hợp với những người có chế độ cần ăn ít lipit.
Ngày nay măng được sử dụng như một loại thực phẩm sạch của thiên nhiên. Hàng
năm trên thế giới tiêu thụ khoảng 5 triệu tấn măng, Việt Nam ước tính tiêu thụ
khoảng 500.000 tấn măng tươi các loại mỗi năm. Nguồn thực phẩm sạch này chủ
yếu do người dân vào rừng thu hái đem về bán làm ảnh hưởng rất lớn đến diện tích
và trữ lượng rừng.
Năm 1997, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cục Khuyến nông và
Khuyến lâm cho nhập nhiều giống tre lấy măng có giá trị xuất khẩu từ Đài Loan và
Trung Quốc như tre Lục trúc, tre Điềm trúc, Mạnh tông, Tạp giao, tre Bát độ và đã
triển khai xây dựng một số mô hình trồng tre ngọt chuyên lấy măng ở nhiều địa
phương trên cả nước. Trong những năm gần đây trồng tre lấy măng đã bắt đầu phát
triển ở nhiều vùng trong cả nước và đã cho thấy việc trồng tre lấy măng có tác dụng
nhiều mặt. Theo thống kê, hiện nay, cả nước có 34 tỉnh, thành xây dựng mô hình
trồng và phát triển tre măng. Tổng diện tích tre măng đạt khoảng 4.070 ha. Trong

triển kinh tế - xã hội của địa phương? Trong quá trin
̀ h thực hiê ̣n gây trồng cây tre
Mai xanh lấy măng có những thuâ ̣n lơ ̣i và khó khăn gi?̀ Cần có những giải pháp nào
nhằm phát triển bền vững cây tre Mai xanh lấy măng ta ̣i huyện Trấn Yên, tỉnh Yên
Bái? Xuấ t phát từ những vấ n đề trên, việc “Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp
phát triển loài tre Mai xanh (Dendrocalamus latiflorus) lấy măng ở huyện Trấn
Yên, tỉnh Yên Bái” là cần thiết, có ý nghĩa thực tiễn rất lớn.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Xác định được các giải pháp phát triển loài tre Mai xanh lấy măng phù hợp,
góp phần phát triển kinh tế - xã hội và môi trường sinh thái ở địa phương, đồng thời
cải thiện sinh kế cho người dân.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




3

2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được thực trạng các mô hình trồng tre Mai xanh lấy măng tại
huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái. Bao gồm cả quy mô về diện tích, kỹ thuật, năng
suất, sơ chế, chế biến và thị trường tiêu thụ các sản phẩm.
- Đề xuất các giải pháp phát triển loài tre Mai xanh lấy măng phù hợp tại
huyện Trấn Yên và các huyện khác có điều kiện tự nhiên tương tự tại tỉnh Yên Bái.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Cung cấp các số liệu khoa học về thực trạng gây trồng
loài tre Mai xanh lấy măng tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái, góp phần bổ sung
thông tin về việc phát triển đa dạng các loài cây trồng lâm nghiệp trên địa bàn.

tông với tổng giá trị trên 1 nghìn triệu Bath [22].
Đài Loan có ít nhất 9.000 ha tre măng Bát độ và Điềm trúc. Hằng năm, Đài
Loan xuất khẩu trên 40.000 tấn măng ra thị trường thế giới [22].
Nhật Bản, Việt Nam, Ấn Độ, Myanma, Úc và một vài nước khác cũng là
những nước đã và đang đẩy mạnh việc phát triển tre lấy măng đáp ứng nhu cầu
trong nước và phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm xuất khẩu [22].
Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia và
Singapore là những nước tiêu thụ lớn về măng tươi, măng ướp lạnh, măng muối. Sản
phẩm măng hộp đã có mặt ở hầu như trên khắp thị trường thế giới. Một tỉnh ở Thái
Lan chế biến khoảng 68.000 tấn măng mỗi năm và xuất khẩu trên 40.000 tấn/năm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




5

Nhật Bản đưa ra thị trường khoảng 90.000 tấn măng Moso và nhập khẩu khoảng
100.000 tấn măng từ Thái Lan, Đài Loan và Trung Quốc. Đài Loan hàng năm xuất
sang Nhật Bản khoảng 40.000 tấn măng Bát độ. Trung Quốc xuất khẩu khoảng
140.000 tấn măng Bát độ và lượng lớn măng Moso (Victor Cusack, 1997) [43].
Như vậy, sản phẩm măng tre ngày nay được rất nhiều nước trên thế giới biết
đến. Nhiều quốc gia đã và đang đầu tư mạnh vào việc gây trồng, kinh doanh măng
tre để tạo ra hàng hoá đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
1.1.1.2. Các nghiên cứu về nhân giống
- Giâm hom cành
Nghiên cứu về giâm hom tre từ cành đã được nhiều công trình đề cập đến với
các kỹ thuật khác nhau và cũng đã đạt được thành công lớn trong công tác trồng
rừng tre trên thế giới, đáp ứng được một phần nhu cầu về giống hiện nay. Có thể kể
đến một số công trình điển hình như sau:

năm tuổi. Cành cắt có độ dài 40-50 cm có từ 2 hoặc 3 đốt, hom nghiêng so với
luống và lấp đất ở độ sâu 5-6 cm, để đầu trên của hom nhô lên khỏi mặt đất. Luống
giâm được phủ bằng lá và tưới nước thường xuyên. Tác giả cho rằng nhân giống
bằng hom cành có nhiều thuận lợi, sẽ không gây tổn thương cho cây mẹ và khả
năng ra măng của nó. Thời vụ nhân giống có thể tiến hành từ tháng 2 đến tháng 9
hằng năm, tuy nhiên vào tháng 2-3 cho tỷ lệ sống cao hơn, cành sử dụng giâm hom
có kích cỡ nhỏ nên dễ dàng tích trữ, xử lý, vận chuyển, có chi phí thấp về giá thành.
Trồng cây giâm hom có sự phát triển tốt về hệ rễ và cho tỷ lệ sống cao.
Một nghiên cứu khác của Trung tâm nghiên cứu tre trúc Trung Quốc (2008)
[35] lại cho thấy thời vụ giâm hom vào mùa xuân (tháng 3-4) là tốt nhất, vì nhiệt độ
và độ ẩm tăng, thuận lợi cho hom nảy chồi và măng không mọc mùa này, do đó cây
giàu dinh dưỡng, ra rễ diễn ra trước tiên sau cắt hom, vì vậy cho tỷ lệ sống cao. Vào
mùa thu măng đã lên cao, chất dinh dưỡng kém. Nếu sử dụng cành trong thời gian
này sẽ dễ dàng mọc mầm nhưng không ra rễ, vì vậy tỷ lệ sống rất thấp. Giâm hom
bằng cành nên chọn những cành chính tròn mập, mắt khỏe từ 3 năm tuổi, đường
kính lớn hơn 1 cm ở lóng cành. Khi giâm hom, hom cành được ngâm trong nước
hoặc ở nơi râm mát. Sau đó ngâm vào NAA (20-100 ppm) trong 12 giờ. Tạo rãnh
sâu 30 cm, đặt hom cành cách nhau từ 15-18 cm, sau đó phủ đất và chỉ để 3 đốt có
lá ở trên mặt đất. Giẫm đất xung quanh chặt vừa phải và phủ rơm, tưới nước đủ ẩm,
mật độ giâm hom là 120.000-150.000 cành/ ha.
- Giâm hom thân
Victor Cusack (1997) [43] đã nghiên cứu sử dụng hom thân để nhân giống,
kết quả cho thấy tỷ lệ thành công rất khác nhau giữa các loài tre, thời gian nhân
giống tốt nhất vào mùa xuân. Cây để làm hom là cây trưởng thành từ 2-3 năm tuổi,
hom thân cắt từ 1,5-2 m, cắt bỏ tất cả các cành và lá, có thể để các cành dài và nhô

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




Nghiên cứu về nhân giống bằng nuôi cấy mô tại Trung tâm nghiên cứu tre
trúc Trung Quốc (2008) [33] đã giới thiệu một số loại môi trường và mô cấy thường

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




8

được sử dụng như sau: Phần mô cắt của mắt có chứa 1 chồi nách được đặt trong
môi trường bao gồm muối khoáng cơ bản MS, vitamin bổ sung với đường mía
saccarozo 88µm, 6g thạch trắng/ lít, NAA (2,7; 5,4) và BA (2,2; 4,4; 8,8; 22). Phần
mô lá (1 cm2) từ măng non dưới đất được đặt trong môi trường MS bổ sung 2,4dichlorophenoxyacetic acid (2,4D) (4,5; 13,5; 27; 40,5) và NAA (2,7). Phần mô
phân sinh đỉnh cắt từ măng (0,1 cm) sử dụng mô trường MS+2,4D (0,45; 2,3; 4,5) +
NAA (0,54; 2,7 hoặc 5,4). Phần cụm hoa non gồm hoa mới kích thước nhỏ hơn 0,1
cm được nuôi trong tối và sáng trên môi trường MA+2,4D (11,3; 22,5). Phần hạt
non với môi trường MS+BA (0,44; 1,1; 2,2; 4,4 hoặc 8,8) + NAA (2,7 hoặc 5,4) +
2,4D (0,45; 2,3; 4,5; 9,0; 13,5 hoặc 27).
Nghiên cứu tại Thái Lan về nuôi cấy mô cho hai loài tre Dendrocalamus
membranaceus và D. brandisii cho thấy cây con sau 4 tháng nuôi cấy mô đã đủ tiêu
chuẩn cấy ra môi trường ngoài và có khả năng sinh trưởng tốt trong vườn ươm. Kết
luận cũng cho thấy nhiều loài đã được phát triển bằng nuôi cấy mô và không có sự
bất thường sau khi trồng 4-6 năm (Rungnapanr Pattanavibool, 1998) [41].
- Nhân giống bằng hom gốc
Nghiên cứu sử dụng giống gốc để trồng tre đã được một số tác giả đánh giá
có tỷ lệ thành công cao, tuy nhiên cũng có nhiều mặt hạn chế như chi phí cao, số
lượng giống hạn chế... Có thể kể đến một số nghiên cứu điển hình như sau:
Theo Zhou Fangchun (2000) [44] cho rằng sử dụng giống gốc thích hợp cho
các cây giống như Bambusa, Dendrocalamus, Sinocalamus... Chọn những cây mẹ

hoa rất dài, trung bình 60-70 năm mới có một lần ra hoa, mặt khác nhiều loài cho
hạt nhưng khả năng nảy mầm thấp hoặc bất thụ.
Nghiên cứu tại Trung tâm nghiên cứu tre trúc Trung Quốc (2008) [34] cho
thấy hạt tre được để ở trạng thái khô nhất định, nhưng mức độ ẩm của hạt phụ thuộc
vào từng loài, lượng độ ẩm phần lớn được giữ ở giới hạn 5-12%, hạt được đóng
trong túi vải hoặc túi đay và bảo quản lạnh. Lưu giữ hạt không nên quá nửa năm,
trong trường hợp cần lưu trữ lâu hơn có thể bảo quản ở điều kiện nhiệt độ từ 0-5oC
khả năng nảy mầm của hạt giống có thể duy trì được trên 1 năm. Xử lý hạt nằng
cách rửa bằng nước sạch sau đó tuyệt trùng bằng 0,3% thuốc tím trong 2-3 giờ, sau
đó rửa lại lần nữa, hạt sau khi xử lý có thể đem gieo để nảy mầm. Sau khi hạt này
mầm 10-15 ngày cần phải tưới 0,2-0,3% đạm.
Nghiên cứu tại Thái Lan (Rungnapanr Pattanavibool, 1998) [41] cho thấy hạt
tre nên được bảo quản ở độ ẩm 5-8% và bảo quản ở nhiệt độ dưới 5oC sẽ cho chất

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




10

lượng bảo quản hạt tốt nhất. Tuy nhiên, thời gian bảo quản tùy thuộc vào từng loài
khác nhau. Phương pháp xử lý hạt nảy mầm tốt nhất trong môi trường có độ ẩm từ
30-60%, nhiệt độ ở mức 23-35oC tùy theo loài.
1.1.1.3. Các nghiên cứu về kỹ thuật trồng tre lấy măng
Năm 1998 trong công trình “Bamboo Research and Deverlopment in Thailand”
Rungnapar Pattanavibool đã đề cập đến một số loài tre trúc lấy măng được gây trồng ở
Thái Lan như: Dendrocalamus asper (Pai Tong), D. brandissi (Pai Bongyai), D.strictus
(Pai Sangdoi)... trong đó có D.asper là loài tre trúc được nhập vào trồng ở Miền Nam,
Việt Nam từ trước năm 1975 và được gọi là tre Mạnh tông [41].

hữu cơ 50 kg/ bụi.
Theo Prosea (1995) thì bón 20-25 kg phân hữu cơ cho mỗi khóm trước mùa
sinh trưởng, phân hóa học bón 4 lần mỗi năm, mỗi lần bón cho 1 ha là 80 kg NPK
với tỷ lệ 40:10:30 và 0,65 kg Si (dẫn theo Đỗ Văn Bản và cộng sự, 2005) [8].
Victor Cusack (1997) [43] nghiên cứu trồng thâm canh cho loài D. asper hằng
năm đã bón 300 kg/ ha phân NPK 15:15:15 kết hợp với khảng 40-60 kg/ rơm hoặc cỏ
khô để phủ và 0,65 kg/ ha silic dioxyt. Tác giả cho rằng phân nên bón một lượng nhỏ
nhưng bón nhiều lần trong năm thì tre hấp thụ tốt hơn vì tre là loài rễ nông, do vậy ứng
dụng phân bón đậm, đặc biệt là Urê có thể gây hại hoặc làm chết cây. Ở Indonesia sau
khi khai thác măng, người ta đào rãnh xung quanh bụi tre khoảng 2m, trộn phân hóa
học với rơm hoặc cỏ khô đã phủ gốc trước đây vùi vào rãnh. Việc đào rãnh đã cắt đứt
các rễ tre, để chúng phát triển rễ mới trực tiếp vào rãnh đã bón phân.
Nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu tre trúc Trung Quốc (2001) [32] về
loài D. oldhami cho thấy mật độ trồng tốt nhất là khoảng 600-700 bụi/ha, với kích
thước hố đào cho cây trồng từ giống cành là 60x50x40cm và bón lót đầy đủ phân
trước khi trồng. Trong năm đầu chăm sóc bón phân hỗn hợp hoặc phân Urê mức
0,1-0,2 kg cho mỗi bụi vào tháng 9. Năm thứ 2 bón 230 kg Urê kết hợp bón 800 kg
các nguyên tố Ca, Mg, P trên 1 ha vào tháng 4 và tháng 9. Nghiên cứu cũng cho
thấy hàng năm nên bón từ 1-3 lần phân Urê hoặc phân hỗ hợp từ 750-900 kg/ ha.
Một nghiên cứu khác ở Trung Quốc [33] đã đề xuất cấu trúc sản lượng cao
cho loài Phyllostachys heterocycla với mật độ 3000-3750 cây/ha, trong đó trên mỗi
bụi có 10 cây, 3 cây 1 năm tuổi, 3 cây 2 năm tuổi, 3 cây 3 năm tuổi và 1 cây 4 năm
tuổi. Vào mùa đông cắt ngọn chỉ còn cao từ 1-2m với 13-15 cặp cành còn lại. Đồng
thời bón phân hóa học với lượng 375 kg/ha, chia làm 2 lần bón vào mùa xuân và
thu, phân bón hữu cơ 5 tấn bón vào mùa đông.
1.1.1.4. Kỹ thuật khai thác
Khi nghiên cứu quá trình phát triển măng của loài D. latiflorus, Trung tâm
nghiên cứu tre trúc của Trung Quốc (2001) [32] đã chỉ ra rằng quá trình phát triển
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN


ngay cho đến khi vết cắt khô.
Công trình “Cultivation of Bamboo” của Trung tâm nghiên cứu tre trúc
Trung Quốc [35] cho loài D.oldhami cho thấy cây 3 năm tuổi bắt đầu bước vào giai
đoạn ổn định, vì vậy cây mẹ sau giai đoạn này cần chặt bỏ. Cây một năm tuổi nên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




13

được để với cấu trúc hợp lý, và cắt bỏ những cây yếu kém 2 tuổi, sau đó chặt bỏ
toàn bộ cây 3 năm tuổi vào mùa đông. Mật độ ban đầu ở tre cho măng và thân nên
điều chỉnh là 600-750 bụi/ha, giữ lại 7-8 cây mẹ mỗi bụi. Mật độ cây đứng khoảng
4000-6000 cây trên ha. Trong cấu trúc tuổi, cây 1-2 năm tuổi chiếm 80-90%, và cây
3 năm là 10-20%.
Nghiên cứu về cấu trúc tuổi để tăng sản lượng măng cho loài D.latiflorus tại
Trung Quốc cho thấy trong bụi tre cần có các cây từ 1-4 năm tuổi, cây từ 1-2 năm
tuổi chiếm 80%, cây 3-4 năm tuổi chiếm 20%.
Khi nghiên cứu sinh lý tre trúc, Koichiro Ueda (1976) [18] đã cho thấy sau
10 năm tập trung nghiên cứu, đã thống kê số măng bị thui hàng năm ở rừng
Phyllostachys edulis chiếm 60-80%, Phyllostachys reticulata 30-50%.
Xiao Jianghua (1996) cũng đã xác định những nhân tố ảnh hưởng đến quá
trình phát sinh măng, sinh trưởng và phát triển của thân khí sinh là: độ ẩm, nhiệt độ,
dinh dưỡng, cấu trúc rừng, biện pháp lâm sinh, sâu bệnh. Đây là những nhân tố cần
phải được quan tâm khi áp dụng các biện pháp thâm canh tăng năng xuất măng và
thân khí sinh (dẫn theo Đỗ Văn Bản và cộng sự, 2005) [8].
Nhìn chung ở nước ngoài tre trúc được gây trồng với 3 mục đích là: kinh
doanh chuyên măng, chuyên thân khí sinh hoặc cả hai. Các loài tre trúc được kinh

Quyết định số 147/2007/ QĐ-TTg ngày 10 tháng 9 năm 2007 của Thủ Tướng
Chính phủ về một số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007 - 2015 đã quy
định mức hỗ trợ 2 triệu đồng/ha rừng trồng mới, hỗ trợ chi phí quản lý bảo vệ rừng là
100.000 đồng/ha/năm, ngoài ra còn ban hành các chính sách hỗ trợ đầu tư để xây dựng
đường lâm nghiệp, chi phí vận chuyển chế biến nông lâm sản đến nơi tiêu thụ…
Để giải quyết khâu chế biến và tiêu thụ sản phẩm ngày 24 tháng 6 năm 2002
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg về chính sách
khuyến khích tiêu thụ sản phẩm hàng hóa thông qua hợp đồng để bảo đảm cho quá
trình sản xuất của bà con nông dân cũng như doanh nghiệp chế biến nông lâm sản.
Quyết định đã nêu lên một số chính sách khuyến khích các doanh nghiệp ký hợp
đồng tiêu thụ nông lâm sản với người sản xuất như về đất đai, đầu tư vùng sản xuất
nguyên liệu tập trung gắn với cơ sở chế biến, tiêu thụ nông lâm sản hàng hoá có hợp
đồng tiêu thụ nông lâm sản hàng hoá. Về tín dụng người sản xuất, doanh nghiệp ký
hợp đồng tiêu thụ nông lâm sản có dự án sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu được
hưởng các hình thức đầu tư nhà nước từ Quỹ hỗ trợ phát triển theo quy định tại
Nghị định số 43/1999/NĐ-CP ngày 29 tháng 6 năm 1999 của Chính phủ về Tín
dụng đầu tư của Nhà nước và Quyết định số 02/2001/QĐ-TTg ngày 2 tháng 01 năm

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN




15

2001 của Thủ tướng Chính phủ. Hàng năm, ngân sách nhà nước dành khoản kinh
phí để hỗ trợ các doanh nghiệp và người sản xuất có hợp đồng tiêu thụ nông sản áp
dụng, phổ cập nhanh các loại giống mới, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới trong bảo
quản, chế biến nông, lâm, thuỷ sản; đầu tư mới, cải tạo, nâng cấp các cơ sở sản xuất
và nhân giống cây trồng, đa dạng hoá các hình thức tuyên truyền, thông về tin thị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status