ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC
PHẠM ĐÌNH TUYÊN
“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ
TRONG VIỆC NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
CHO NÔNG DÂN VEN BIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG”
LUẬN VĂN THẠC SỸ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Hà Nội - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC
PHẠM ĐÌNH TUYÊN
“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ
TRONG VIỆC NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
CHO NÔNG DÂN VEN BIỂN ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG”
LUẬN VĂN THẠC SỸ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm
Người hướng dẫn khoa học:
TS. Nhạc Phan Linh
PGS.TS Huỳnh Thị Lan Hƣơng
2.3.1 Đồng bằng sông Hồng .......................................................... Error! Bookmark not defined.
2.3.2 Tóm tắt thông tin các huyện thuộc địa bàn nghiên cứu ........ Error! Bookmark not defined.
2.3.3 Tóm tắt thông tin các xã thuộc địa bàn nghiên cứu .............. Error! Bookmark not defined.
CHƢƠNG III. THỰC TRẠNG BÁO CHÍ ĐƢA TIN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ........... Error!
Bookmark not defined.
3.1 Tần suất thông tin về BĐKH trên báo chí ............................... Error! Bookmark not defined.
3.1.1 Tần suất xuất hiện chủ đề về BĐKH trên các báo ................ Error! Bookmark not defined.
3.1.2 Tần suất xuất hiện chủ đề về BĐKH trên các báoThái Bình, Hải Phòng, Nam Đinh
̣ .. Error!
Bookmark not defined.
3.2 Bối cảnh đưa tin về BĐKH...................................................... Error! Bookmark not defined.
3.3 Hình thức thông tin về BĐKH ................................................. Error! Bookmark not defined.
i
3.4 Nội dung thông tin về BĐKH trên báo chí .............................. Error! Bookmark not defined.
3.4.1 Biểu hiện của BĐKH trên báo chí ........................................ Error! Bookmark not defined.
3.4.2 Nguyên nhân của BĐKH trên báo chí .................................. Error! Bookmark not defined.
3.4.3 Hậu quả của BĐKH trên báo chí .......................................... Error! Bookmark not defined.
3.4.4 Giải pháp phòng chống và ứng phó với BĐKH trên báo chí Error! Bookmark not defined.
CHƢƠNG IV. VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ TRONG VIỆC NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ
BĐKH CHO NÔNG DÂN VEN BIỂN ĐBSH .............................. Error! Bookmark not defined.
4.1 Vai trò báo chí cung cấp thông tin về BĐKH cho người dân ĐBSH .....Error! Bookmark not
defined.
4.1.1 Phương thức cung cấp thông tin cho người dân ................... Error! Bookmark not defined.
4.1.2 Nội dung cung cấp thông tin................................................. Error! Bookmark not defined.
4.1.3 Đánh giá của người dân về vai trò cung cấp thông tin về BĐKH của báo chí ............. Error!
Bookmark not defined.
4.2 Vai trò báo chí nâng cao nhận thức về BĐKH cho người dân Error! Bookmark not defined.
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Khoa Sau Đại học - Đại học Quốc gia
Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
và hoàn thành bản Luận văn Thạc sĩ.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến TS.Nhạc Phan Linh, PGS.TS Huỳnh Thị Lan
Hương đã hướng dẫn và định hướng nghiên cứu khoa học để tôi hoàn thành bản
Luận văn này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn chính quyền địa phương các xã Nam Hưng
(Tiền Hải, Thái Bình); xã Vinh Quang (huyện Tiên Lãng, Hải Phòng); xã Giao
Xuân (huyện Giao Thủy, Nam Định); các cơ quan báo chí Trung ương, địa phương
đã giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi trong quá trình khảo sát và nghiên cứu. Đặc biệt,
tôi xin cảm ơn những người dân tại địa bàn nghiên cứu đã tham gia trả lời phỏng
vấn và chia sẻ thông tin.
Tiếp theo, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các cán bộ của Trung tâm Phát triển
nguồn nhân lực Tài nguyên và Môi trường là những người đã nhiệt tình hỗ trợ và
giúp đỡ tôi trong quá trình xây dựng và hoàn thành Luận văn.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn.
Hà Nội, tháng 11 năm 2016
Tác giả
Phạm Đình Tuyên
iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
PANOS
Mạng lưới toàn cầu của các tổ chức phi chính phủ hợp
tác về truyền thông để thúc đẩy phát triển
THPT
Trung học phổ thông
TN&MT
Tài nguyên và Môi trường
TTĐC
Truyền thông đại chúng
TW
Trung ương
UNFCCC
Công ước Khung về Biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc
KT-XH
Kinh tế - Xã hội
Bảng 5. Thố ng kê báo Hải Phòng ........................... Error! Bookmark not defined.
Bảng 6. Thố ng kê báo Nam Đinh
̣ ............................ Error! Bookmark not defined.
vi
Bảng 7. Kết quả khảo sát về việc tiếp cận các phương tiện thông tin đại chúng của
người dân tại Thái Bình, Nam Định, Hải Phòng ............. Error! Bookmark not
defined.
vii
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Biến đổi khí hậu (BĐKH) đã và đang diễn biến phức tạp, ảnh hưởng nghiêm
trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường của tất cả các quốc gia trên thế giới. Theo
báo cáo của Uỷ ban liên Chính phủ về BĐKH, nhiệt độ trung bình toàn cầu và mực
nước biển đã tăng nhanh trong vòng 100 năm qua và đặc biệt rõ rệt trong khoảng 25
năm gần đây. Nhiệt độ tăng, mực nước biển dâng là nguyên nhân gây ngập lụt, làm
nhiễm mặn nguồn nước và ảnh hưởng nặng nề tới nông nghiệp, công nghiệp và các hệ
thống kinh tế - xã hội (KT-XH) trong tương lai. BĐKH khiến quá trình phát triển của
các quốc gia, các vấn đề an ninh năng lượng, nước, lương thực… bị thay đổi toàn diện
và sâu sắc.
Việt Nam là một trong ba quốc gia bị ảnh hưởng nặng nhất của BĐKH. Nếu
mực nước biển dâng cao 1 m, sẽ có khoảng 40% diện tích đồng bằng sông Cửu Long
(BĐSCL), 11% diện tích đồng bằng sông Hồng (BĐSH) và 3% diện tích của các tỉnh
khác thuộc vùng ven biển sẽ bị ngập, khoảng 10 - 12% dân số nước ta bị ảnh hưởng
trực tiếp và tổn thất khoảng 10% GDP. Cũng giống như BĐSCL, ĐBSH hiện là nơi
tác đào tạo, giáo dục và nâng cao nhận thức, tạo cơ hội cho cộng đồng tham gia, tiếp
cận các thông tin về BĐKH (quy định tại Điều 6). Theo UNFCCC, tại các quốc gia
trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương, các nhà quản lý, hoạch định chính sách đã
công nhận giáo dục về BĐKH là ưu tiên hàng đầu và truyền thông nâng cao nhận thức
cộng đồng đứng vị trí số hai.
Tại Việt Nam, Hội nghị TW lần thứ 7, khóa XI, BCH TW Đảng đã ban hành
Nghị quyết số 24-NQ/TW “Về chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài
nguyên và BVMT”, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết phải nâng cao nhận thức về
BĐKH và ảnh hưởng của BĐKH cho người dân.
Ngày 05/12/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chiến lược Quốc gia về
BĐKH theo Quyết định 2139/QĐ-TTg nhằm xây dựng một cộng đồng ứng phó hiệu
quả với BĐKH, trong đó nhiệm vụ cơ bản được xác định gồm: 1) Nâng cao nhận
thức, trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức và các thành phần xã hội về các
vấn đề BĐKH; 2) Xây dựng các phương pháp phù hợp nhằm tiếp cận và sử dụng
thông tin về BĐKH cho các thành phần xã hội; đa dạng hóa các hình thức tuyên
truyền, phổ biến về tác động, nguy cơ và cơ hội từ BĐKH, đặc biệt chú trọng tới cộng
đồng dân cư và địa bàn trọng điểm; 3) Đưa kiến thức cơ bản về BĐKH vàocác
chương trình, bậc giáo dục, đào tạo; phát triển và có chính sách đào tạo nguồn nhân
lực chất lượng cao các chuyên ngành liên quan đến thích ứng với BĐKH và giảm phát
thải KNK; 4) Tăng cường ý thức, trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm cộng đồng
trong phòng, tránh và khắc phục hậu quả thiên tai; xây dựng lối sống, mẫu hình tiêu
thụ thân thiện với khí hậu cho mọi thành viên của cộng đồng; khuyến khích, nhân
rộng các điển hình tốt trong ứng phó với BĐKH.
9
Trên các phương tiện truyền thông đại chúng (TTĐC) và báo cáo của các nhà
khoa học, nhà quản lý, thông tin về mối đe dọa của BĐKH, cảnh báo về tình trạng trái
đất nóng lên, mực nước biển dâng cao, mưa bão, lở đất, sóng thần... đã được đề cập
nhiều. Song, những thông tin đó khi đến với người dân còn chưa thực sự phát huy
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá vai trò của báo chí trong việc cung cấp và định hướng thông tin về
BĐKH, giúp nâng cao nhận thức của người dân về BĐKH, góp phần giảm thiểu
những tác động tiêu cực của BĐKH đối với đời sống, KT-XH.
2.2 Mục tiêu cụ thể
Từ thực tra ̣ng thông tin về BĐKH t ừ báo chí, đề tài sẽ xem xét vai trò của báo
chí trong việc cung cấp thông tin và nâng cao nhận thức cho người dân về BĐKH.
Đề tài đánh giá nhu cầ u , nhâ ̣n thức của nông dân ven biể n BĐSH về BĐKH
thông qua kết quả khảo sát ý kiến của người dân vùng thực hiện đề tài về những thông
tin về BĐKH mà họ tiếp thu và cảm nhận được từ báo chí.
Đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng định
hướng thông tin báo chí về BĐKH đối với các nhóm đố i tươ ̣ ng nông dân ven biể n
trong thời gian tới.
3. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Vai trò của báo chí trong việc nâng cao nhận thức về BĐKH cho nông dân ven
biể n ĐBSH
3.2 Khách thể nghiên cứu
Nhằm làm rõ đối tượng nghiên cứu, tác giả xác định 03 nhóm khách thể chính:
a) Nhóm nông dân và cán bộ xã, thôn ở khu vực ven biển BĐSH;
b) Nhóm các nhà báo chuyên viết về chủ đề môi trường, BĐKH;
c) Nhóm chuyên gia: Thuộc các lĩnh vực môi trường, BĐKH, báo chí - truyền thông
và chuyên gia của các cơ quan quản lý nhà nước, Viện nghiên cứu, Vườn quốc gia,
Khu bảo tồn...
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Trong giới hạn về thời gian và nguồn lực nên phạm vi nghiên
cứu của đề tài sẽ tập trung xem xét trường hợp điển hình tại khu vực duyên hải Bắc bộ
này.
Người nông dân ven biể n không coi tr ọng thông tin về BĐKH, bởi báo chí thường
đề cập một cách chung chung, không gắn với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể ở nông
thôn.
Báo chí góp phần làm tăng nhận thức về BĐKH cho người dân vùng ĐBSH.
12
Trong các loại hình báo chí, truyền hình cung cấp nhiều thông tin nhất về BĐKH
(vì người nông dân ven biể n xem ti vi nhiều nhất).
Dự kiến đóng góp của luận văn
Về tính khoa học: Xây dựng và hệ thống hóa cơ sở lý thuyết liên quan
đến truyền thông về BĐKH và các dữ liệu khảo sát thực tế đánh giá hiểu biết về
BĐKH của người dân và khuyến nghị về hình thức, nội dung truyền thông phù hợp
đối với người dân khu vực ven biển ĐBSH.
Về tính thực tiễn: Luận văn này được thực hiện dựa trên sự phân tích về thực
trạng công tác tuyên truyền thông tin về BĐKH trên báo chí và khảo sát khả năng tiếp
cận thông tin của người dân về BĐKH từ các loại hình báo chí cũng như tác động của
báo chí đến nhận thức về BĐKH của người dân (đặc biệt là nông dân).
Về tính mới: Luận văn đánh giá một cách tách bạch giữa vai trò và hiệu quả của
báo chí các hoạt động khác trong vấn đề nâng cao nhận thức về BĐKH cho người dân
vùng ĐBSH, từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng và thực hiện các kế hoạch truyền
thông về BĐKH phù hợp trong tương lai. Dự kiến kết quả nghiên cứu của đề tài có
thể là tiền đề cho nghiên cứu tiếp theo ở ĐBSCL và là ngu ồn tài liệu tham khảo cho
các cá nhân, tổ chức tâm quan tâm...
Nội dung nghiên cứu
Hiện trạng công tác tuyên truyền, thông tin về BĐKH của báo chí; Đánh giá vai
trò, ảnh hưởng của báo chí đối với việc nâng cao nhận thức về BĐKH của người dân
khu vực ven biển ĐBSH góp phần hỗ trợ người dân ứng phó kịp thời với BĐKH.
Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng thông tin về BĐKH trên báo chí và quan điểm
của người dân về BĐKH, Luận văn sẽ nhận diện vai trò của báo chí trong việc nâng
cao nhận thức về BĐKH cho người dân nông thôn khu vực ven biển Việt Nam hiện
nay.
5.2 Phƣơng pháp nghiên cứu
Tác giả lựa chọn 04 phương pháp nghiên cứu cụ thể: (1) phân tích tài liệu, (2)
điều tra anket (3) phỏng vấn sâu và (4) xử lý số liệu.
5.2.1 Phân tích tài liệu
Ngoài các tài liệu sử dụng để nhận diện chủ đề nghiên cứu, tổng quan tài liệu
được liệt kê trong phần Danh mục tài liệu tham khảo, đề tài này sử dụng 04 tài liệu
14
chính (phân thành 02 nhóm) sau đây làm cơ sở để khảo sát, thu thập thông tin phục vụ
mục đích và các nhiệm vụ nghiên cứu:
Nhóm tài liệu mô tả thực trạng thông tin về BĐKH trên báo chí gồm:
Báo chí đưa tin về BĐKH: Nghiên cứu phối hợp giữa Học viện Báo chí và
Tuyên truyền và Viện Friedrich Ebert (FES) của CHLB Đức tại Việt Nam, Hà Nội,
2012. Đề tài khảo sát trên báo in bao gồm báo Nhân dân, Tuổi trẻ, Tạp chí Môi trường
và báo mạng điện tử là ; www.vfej.vn. Thời gian nghiên cứu từ
ngày 1/8/2011-31/7/2012. Tổng số tin/bài được khảo sát là 127.725 tin/bài.
Thực trạng đưa tin về BĐKH trên truyền hình: Nghiên cứu phối hợp giữa Học
viện Báo chí và Tuyên truyền và Viện Friedrich Ebert (FES) của CHLB Đức tại Việt
Nam, Hà Nội, 2013. Đề tài khảo sát trên 02 kênh truyền hình là kênh truyền hình
quốc gia VTV1 và kênh truyền hình địa phương vùng Tây Nam bộ. Các tin/bài trong
mẫu nghiên cứu được thu nhập trong vòng 3 tháng từ ngày 1/6/2013 –
31/8/2013.Tổng các tin/bài thu nhập là 3.421tin/bài.
Nhóm tài liệu mô tả việc tiếp cận thông tin báo chí về BĐKH và nhận thức của
nông dân về BĐKH: Nhận thức và tiếp cận thông tin về BĐKH của người dân, Dương
Thị Thu Hương, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, 2013; Khảo sát về Khí hậu Châu
Đối với cán bộ xã, thôn: Địa điểm phỏng vấn được thực hiện tại trụ sở UBND xã hoặc
nhà văn hóa thôn.
Bảng hỏi được thiết kế với khoảng 30% câu hỏi trong phiếu đều tra là những câu hỏi
mở. Điều này nhằm ghi lại được nhiều nhất, chân thực nhất ý kiến đa chiều của người
dân, cán bộ xã/thôn. Cụ thể: 140 phiế u khảo sát, bao gồm 65 phiếu là nông dân và 21
phiếu cán bộ xã, thôn;
Tại Nam Định: 24 nông dân và 04 cán bộ xã thôn của xã Giao Xuân,
Giao Thủy, Nam Định tham gia khảo sát, số lượng nam giới chiếm 46.4% trong khi
nữ giới chiếm 53.6%. Hầu hết những người tham gia khảo sát trong độ tuổi từ 30 đến
60 tuổi (chiếm 85.7%). Trình độ học vấn của người tham gia khảo sát tại Nam Định
phần lớn là từ THPT trở xuống (chiếm 83.3%), trong đó, cán bộ tham gia khảo sát có
2 người là trình độ đại học.
Tại Thái Bình: 21 nông dân và 07 cán bộ xã, thôn của xã Nam Hưng,
Tiền Hải, Thái Bình tham gia khảo sát. Nữ giới chiếm tỷ lệ gần gấp đôi (67.9% và
32.1%). Tuy nhiên, số nam cán bộ tham gia khảo sát nhiều hơn nữ cán bộ. Tỷ lệ
người ở độ tuổi từ 30 đến 60 tuổi tham gia khảo sát là cao nhất, chiếm 71.4%. Trình
độ học vấn của người dân Thái Bình tham gia khảo sát phần lớn là THPT, trong số
các cán bộ tham gia khảo sát chỉ có 1 người có trình độ đại học, 2 người trình độ
trung cấp, còn lại THPT.
Tại Hải Phòng: 20 nông dân và 10 cán bộ xã, thôn của xã Vinh Quang,
Tiên Lãng, Hải Phòng tham gia khảo sát. Tỷ lệ giới tính khá đồng đều, nam giới
16
chiếm 47% và nữ giới chiếm 53%. Tuy nhiên, tỷ lệ nam nữ cán bộ tham gia khảo sát
lại có sự chênh lệch, trong đó có 7 cán bộ nam và chỉ có 3 cán bộ nữ tham gia khảo
sát. Tỷ lệ độ tuổi người tham gia khảo sát cao nhất là từ 30 đến 60 tuổi (63.3%), bên
+ 26 phóng viên các báo, đài các tỉnh Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng, gồm: Đài
phát thanh, truyền hình Hải Phòng, báo Hải Phòng, Đài phát thanh, truyền hình Nam
Định, báo Nam Định và báo Thái Bình.
+ 04 chuyên gia về BĐKH và 18 cán bộ quản lý, chuyên môn của các cơ quan quản lý
nhà nước, Viện nghiên cứu, Vườn quốc gia, khu bảo tồn…
- Phương pháp thực hiện: Đối với phóng viên và chuyên gia, địa điểm phỏng vấn ở
cơ quan làm việc và qua email.
Tất cả các phỏng vấn sâu đều được ghi chép l ại để đối chiếu trong quá trình
tổng hợp và xử lý dữ liệu. Mỗi cuộc phỏng vấn đều được ghi lại trên phiếu điều tra,
với trung bình khoảng 20 câu hỏi (bảng hỏi từng đối tượng đính kèm phụ lục). Mỗi
cuộc phỏng vấn kéo dài khoảng 20 - 30 phút.
5.2.4. Phương pháp xử lý số liệu
Để mã hóa và thực hiện các bước xử lý thông tin phục vụ cho việc viết báo cáo
kết quả nghiên cứu, dữ liệu định lượng sẽ được xử lý bằng phần mềm excel; Các
thông tin định tính và các cuộc phỏng vấn sâu được phân tích bằng phần mềm word
trên sở sở xây dựng hệ thống thu thập thông tin độc lập của tác giả.
6. Kết cấu Luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận - kiến nghị và tài liệu tham khảo, Luận văn
gồm 04 chương:
Chương I: Tổng quan tình hình nghiên cứu;
Chương II: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài;
Chương III: Hiện trạng công tác tuyên truyền về BĐKH của báo chí;
Chương IV: Vai trò của báo chí trong việc nâng cao nhận thức về BĐKH cho
nông dân ven biển ĐBSH.
18
việc ảnh hưởng đến hành động cá nhân, quốc gia và quốc tế trong việc giải quyết vấn
đề BĐKH? Truyền thông đã đưa tin về BĐKH nhiều như thế nào và điều gì đang làm
thay đổi việc đưa tin đó? Những ảnh hưởng giúp truyền thông tạo nên dư luận xã hội?
19
Truyền thông giúp gì cho việc phát triển các viện trợ nước ngoài cho các nước nghèo
thích ứng với BĐKH? Báo cáo cũng cho rằng, truyền thông đã làm sống dậy vấn đề
BĐKH nhưng cũng hạn chế về vấn đề này trong các tổ chức xã hội và viện trợ nước
ngoài.
Tại nghiên cứu “Climate Coverage Plummets On Broadcast Networks” của Jill
Fitzsimmons & Max Greenberg (2011) các kênh truyền hình lớn của Mỹ là ABC,
CBS, NBC và FOX đã cho thấy: 1) Mặc dù các tin về BĐKH vẫn đang được đưa tin
nhưng phạm vi phủ sóng lại giảm. Từ năm 2009, khi các đại biểu Mỹ thông qua dự
luật về khí hậu và tham gia hội nghị BĐKH ở Copenhagen thì một số lượng lớn tin
trên các chương trình chủ nhật và tin tức hàng đêm đã giảm rất nhiều; 2) Tin tức về
BĐKH trên các chương trình chủ nhật giảm 90% từ năm 2009 đến 2011. Tin tức hàng
đêm về BĐKH cũng giảm 70%; 3) Các nhà khoa học bị đứng ngoài trong các cuộc
thảo luận về BĐKH trên các chương trình chủ nhật. Các chương trình chủ nhật chủ
yếu tham khảo ý kiến của các nhân vật chính trị (chiếm 50%, bao gồm các quan chức,
nhà chiến lược và cố vấn), 45% còn lại là từ các số liệu truyền thông và không có ý
kiến của nhà khoa học nào. Đối với chương trình hàng đêm thì có 32% những người
được phỏng vấn hoặc trích dẫn ý kiến trên chương trình là các nhân vật chính trị và
20% là ý kiến của nhà khoa học; 4) Hầu hết các thông tin đề cập đến BĐKH đều có
liên quan đến chính trị. 97% những câu chuyện đề cập tới BĐKH trong 03 năm qua là
về chính trị tại Washington.
Cũng trong một nghiên cứu khác của Jill Fitzsimmons & Max Greenberg năm
2012 là“TV Media Ignore Climate Change In Coverage Of Record July Heat”chỉ ra
rằng,trong 06 kênh truyền hình được nghiên cứu, ABC là kênh đưa tin ít nhất về
BĐKH (khoảng 2% lượng thông tin). Trong các kênh truyền hình cáp thì CNN nhắc
1.2 Các nghiên cứu ở trong nƣớc
Năm 2007, Viện nghiên cứu Sức khỏe, Môi trường và Phát triển đã khảo sát sơ
bô ̣ về vấ n đề “Báo chí Vi ệt Nam với BĐKH” g ồm 05 tờ báo in hàng ngày là Lao
động, Tuổi trẻ, Nhân dân, Hà Nội mới, Đồng Nai và 02 chương trình "TN&MT” phát
hàng ngày của Đài Tiếng nói Việt Nam và “Tạp chí TN&MT” phát hàng tuần trên Đài
Phát thanh và Truyền hình Hà Nội. Kết quả khảo sát sau hai tháng 9 - 10 năm 2007
cho thấy, chỉ có 24 bài báo in và 03 tác phẩm phát thanh về BĐKH; các cơ quan
truyền thông tại Việt Nam chỉ đưa tin về BĐKH ở bề rộng ở mức độ quốc gia và toàn
cầu, không có mối liên quan giữa các vấn đề và hiện trạng ở địa phương. Có rất nhiều
bài báo đề cập đến các thảm họa thiên nhiên do BĐKH gây ra như lũ lụt, bão, nước
ngầm nhưng chưa có nhà báo nào chỉ ra mối liên hệ giữa các hiện tượng trên và
BĐKH. Hầu hết các bài báo in về BĐKH chỉ tập trung đưa tin vào các hội nghị, trích
dẫn phát biểu của các quan chức TW và địa phương về BĐKH. Theo đánh giá của
nhóm nghiên cứu, nguyên nhân của việc công chúng Việt Nam không được báo chí
thông tin đầy đủ về BĐKH trước hết do các nhà quản lý, khi tiếp xúc với báo chí chưa
21
đề cập đến mối liên hệ giữa BĐKH và những tác động tiêu cực tại Việt Nam. Ngoài
ra, BĐKH là một đề tài khó và không phải nhà báo nào cũng có thể hiểu hết khi mới
tiếp cận. Đồng thời, ở Việt Nam hiện nay không có nhi ều nhà báo chuyên viết về môi
trường. Các nhà báo thường phải viết về nhiều chủ đề khác nhau, nhất là nhà báo làm
việc tại các ấn phẩm xuất bản hàng ngày. Họ thường chỉ đưa tin về BĐKH khi có các
hội nghị hay sự kiện lớn liên quan đến vấn đề này. Mô ̣t lý do nữa , những nhà báo phụ
trách các chuyên mục hay tờ báo không hiểu hoặc không quan tâm đến BĐKH. Do
đó, họ không dành ưu tiên cho những bài báo thuộc đề tài trên. Cũng trong kết quả
nghiên cứu của Viện nghiên cứu Sức khỏe, Môi trường và Phát triển nhận xét , hiện
nay, các cơ quan truyền thông tại Việt Nam chỉ đưa tin về BĐKH ở bề rộng ở mức độ
quốc gia và toàn cầu, không có mối liên quan giữa các vấn đề và hiện trạng ở địa
phương.
Việt Nam.Kết quả nghiên cứu của đề tài cho thấy, có sự đa dạng, phong phú trong
cách truyền tải thông tin về biểu hiện của BĐKH nhưng những tin, chương trình vẫn
còn thiếu tính liên kết, phân tích theo chiều sâu, nhiều khi có thể khiến người xem lầm
tưởng đó là những hiện tượng thiên nhiên bình thường không có liên quan tới BĐKH.
Hậu quả của BĐKH được đề cập cũng khá đa dạng. Các chương trình cũng tận dụng
việc lồng ghép các hình ảnh chân thực, âm thanh hiện trường, các con số cụ thể vào
nội dung về hậu quả của BĐKH nhưng vẫn còn là hậu quả chung chung, chưa quan
tâm nhiều tới hậu quả về đời sống văn hóa, xã hội của con người mà mới chỉ tập trung
đưa tin về hậu quả kinh tế, thể chất của con người. Các chương trình đã cố gắng có sự
quan tâm nhất định ở nhiều khía cạnh khác nhau về BĐKH nhưng vẫn chưa có sự liên
kết chặt chẽ từ biểu hiện, nguyên nhân, hậu quả tới giải pháp ứng phó với BĐKH.
Năm 2013, đề tài “Nhận thức và tiếp cận thông tin về BĐKH của người dân”
do Th.S Dương Thị Thu Hương thực hiện đã phân tích số liệu có được từ cuộc điều
tra quy mô toàn quốc của dự án Climate Asia thuộc tổ chức BBC Media action. Đây
là nghiên cứu được tiến hành trên quy mô toàn quốc với cỡ mẫu được chọn là 3.486
hộ gia đình tại 06 khu vực từ Bắc đến Nam. Đề tài này được thực hiện dưới một góc
nhìn mới trong những nghiên cứu về BĐKH. Người dân trong nghiên cứu này là đối
tượng chính, hướng mục đích nghiên cứu vào người dân nhằm tìm hiểu thực trạng
người dân tiếp cận các thông tin về BĐKH như thế nào, thông qua việc mô tả thực
trạng tiếp nhận thông tin của người dân nhằm đánh giá chất lượng truyền thông về
BĐKH.Kết quả nghiên cứu của đề tài cho thấy, vấn đề BĐKH không còn là chủ đề
quá mới mẻ và xa lạ với người dân. Những người trẻ tuổi, nam giới, cư trú ở thành
phố có trình độ học vấn và chuyên môn thường có xu hướng nghe về các nội dung
này cao hơn những người cao tuổi, nữ giới, cư trú ở TP nhỏ và khu vực nông thôn, có
trình độ học vấn thấp. Về thái độ với hiện tượng BĐKH, mặc dù tỏ thái độ lo lắng
nhưng tỷ lệ những người được hỏi cho biết họ đã có sự chuyển đổi về hành vi là rất
thấp. Thực tế đây vẫn còn là vấn đề khá khó hiểu đối với người dân, họ đã nghe, có lo
lắng nhưng chưa biết phải làm gì, chuẩn bị ứng phó như thế nào. Người dân có nhiều
cơ hội tiếp cận với TTĐC, tuy nhiên tiếp cận với thông tin về BĐKH còn hạn chế,
23